Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014

Quyền của người chưa thành niên theo pháp luật dân sự Việt Nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Quyền của người chưa thành niên theo pháp luật dân sự Việt Nam": http://123doc.vn/document/568430-quyen-cua-nguoi-chua-thanh-nien-theo-phap-luat-dan-su-viet-nam.htm


Quyền của người chưa thành niên theo pháp
luật dân sự Việt Nam


Vũ Hồng Minh


Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật dân sự; Mã số: 60 38 30
Người hướng dẫn: PGS.TS. Hà Thị Mai Hiên
Năm bảo vệ: 2010


Abstract. Nghiên cứu, phân tích và xây dựng khái niệm về người chưa thành niên.
Phân tích một cách cụ thể và chi tiết những chế định về quyền của người chưa thành
niên trong các văn bản luật và dưới luật thuộc chuyên ngành luật dân sự. Phân tích,
so sánh việc ghi nhận quyền của người chưa thành niên qua các giai đoạn lịch sử của
pháp luật dân sự Việt Nam. Đánh giá một phần thực trạng việc thi hành, áp dụng các
quy định của pháp luật dân sự về quyền của người chưa thành niên.

Keywords. Luật dân sự; Pháp luật Việt Nam; Nhân quyền; Người vị thành niên


Content
më ®Çu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quan hệ pháp luật dân sự, việc xác định chủ thể, năng lực chủ thể để đảm bảo thực
hiện quyền và nghĩa vụ dân sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Mỗi người, khi sinh ra
đều là chủ thể quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, năng lực chủ thể của cá nhân tùy thuộc vào sức
khỏe tâm sinh lý và độ tuổi của cá nhân đó. Người chưa thành niên là chủ thể mà pháp luật
phải dành sự quan tâm đặc biệt bởi đa số người chưa thành niên là trẻ em.
Theo số liệu của cuộc điều tra về dân số năm 2009 cho thấy, tổng số dân của Việt Nam
tính đến thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 85.789.573 người, trong đó số người từ
0 đến dưới 15 tuổi chiếm 25%, số người từ 15 đến dưới 60 chiếm 66% và số người từ 60 tuổi
trở lên chiếm 9%.
Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 18 đã quy định: Người chưa thành niên là người chưa
đủ 18 tuổi. Mặc dù không có con số chính xác về số người dưới 18 tuổi trong cơ cấu dân số
về độ tuổi của Việt Nam, tuy nhiên chúng ta có thể dự đoán con số này có thể nằm trong
khoảng từ 28% đến 30%, có nghĩa là tương đương với khoảng 24.000.000 người. Đây thực
sự là một con số không nhỏ, nó cho thấy chúng ta có một tiềm năng lớn về nguồn nhân lực
trong tương lai. Mặt khác đây cũng là nhóm dân số đặc biệt trong xã hội do đặc điểm về độ
tuổi và thể chất.
Tại Điều 1 Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 có quy định: "
Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp
luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn", bên cạnh việc quy định
về độ tuổi để xác định một người là trẻ em, Công ước này của Liên Hợp Quốc cũng đã dành
nhiều quy định và trao cho nhóm đối tượng này những quyền năng đặc biệt, tại lời mở đầu
của Công ước đã xác định: " tin tưởng rằng, gia đình với tư cách là nhóm xã hội cơ bản và
môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của tất cả các thành viên gia đình, đặc
biệt là trẻ em cần có sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết có thể đảm đương được đầy đủ các trách
nhiệm của mình trong cộng đồng ". Pháp luật Việt Nam tại Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi và cũng đã có nhiều quy định để dành
cho những đối tượng này những quyền ưu tiên đặc biệt.
Dưới góc độ pháp luật dân sự, xuất phát từ sự non nớt về thể chất và trí tuệ cũng như từ
nhận thức về vai trò quan trọng của thế hệ những chủ nhân tương lai của đất nước, pháp luật
dân sự Việt Nam đã luôn thể hiện được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng toàn thể xã
hội khi dành nhiều quy định nhằm ghi nhận và bảo vệ cho những công dân chưa đủ 18 tuổi
những quyền dân sự được quy định cụ thể và chi tiết.
Về cơ bản, trong những năm qua, việc ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm cho các quyền dân sự
của người chưa thành niên đã được thực hiện nghiêm túc và đúng đắn với một tinh thần trách
nhiệm cao của nhà nước và toàn thể xã hội;
Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự ảnh hưởng của những lối sống thực
dụng, ích kỷ cùng sự băng hoại đạo đức của một số cá nhân đơn lẻ trong thời gian gần đây đã
gây nên một thực trạng xấu cho xã hội, tạo ra một tâm lý bất bình trong các tầng lớp nhân
dân, đó là tình trạng vi phạm và xâm hại các quyền của người chưa thành niên, đặc biệt là
tình trạng bóc lột sức lao động của người chưa thành niên ngày một nghiêm trọng, thậm chí
có không ít những trường hợp mang tính chất hình sự. Một trong những quyền cơ bản và
quan trọng nhất của người chưa thành niên là quyền được bảo vệ thân thể và sức khoẻ trong
nhiều trường hợp đã không được bảo vệ và bị xâm hại một cách trực tiếp thì những quyền
dân sự khác của họ sẽ được thực hiện và bảo vệ ra sao?
Việc nâng cao tinh thần trách nhiệm của nhà nước cùng toàn thể xã hội trong việc ghi
nhận và đặc biệt là việc bảo vệ, bảo đảm cho các quyền dân sự của người chưa thành niên
được thực hiện trong cuộc sống một cách nghiêm chỉnh sẽ là một vấn đề rất cần thiết được
nhìn nhận nghiêm túc hơn nữa trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền dân sự của người chưa thành niên là đề tài
được quan tâm nghiên cứu của nhiều người và dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên,
khi xem xét dưới góc độ là đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự thì các quyền của người
chưa thành niên trong thực tế được thể hiện qua các công trình nghiên cứu hay các bài viết
được đăng trên các tạp chí chuyên ngành thường được khai thác và trình bày một cách đơn lẻ,
riêng biệt theo từng vấn đề cụ thể như quyền khai sinh, quyền thay đổi họ tên, quyền được
nhận làm con nuôi hay quyền được cấp dưỡng , hoặc có những trường hợp lại đươc xem xét
một cách tổng hợp và không được phân biệt theo các chuyên ngành pháp luật cụ thể như pháp
luật hình sự, pháp luật dân sự Điều này được nhận thấy qua việc tác giả tìm hiểu một số các
công trình nghiên cứu và một số các bài viết của các tác giả trong thời gian qua mà tiêu biểu
là luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Phương Nga với đề tài "Pháp luật bảo vệ quyền trẻ em
trong giai đoạn hiện nay", luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh với đề tài
"Chế định cấp dưỡng trong pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2000" hoặc luận án tiến sĩ
của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan với đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp
lý về nuôi con nuôi ở Việt Nam".
Thông qua việc tìm hiểu, tác giả nhận thấy cần thiết có một công trình nghiên cứu một
cách tổng thể và tương đối toàn diện về việc ghi nhận và thực hiện các quyền dân sự của người
chưa thành niên một cách có hệ thống; từ đó, xem xét và đưa ra những phương hướng và giải
pháp cụ thể nhằm ngoài việc góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật dân sự trong lĩnh vực
này còn góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức của xã hội đối với việc bảo đảm và bảo vệ các
quyền dân sự của người chưa thành niên, tạo những điều kiện cần thiết nhất để xây dựng một xã
hội lành mạnh nhất cho sự phát triển của người chưa thành niên.
3. Mục đích, nhiệm vụ và ý nghĩa của luận văn
+ Mục đích và ý nghĩa của luận văn: Về mặt lý luận, tác giả cố gắng nghiên cứu một cách
tương đối toàn diện các quy định của pháp luật dân sự về quyền của người chưa thành niên,
tìm hiểu một số trường hợp cụ thể trong thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp, thông
qua đó phát hiện và nêu ra một số vấn đề bất cập trong quy định hiện hành và đề ra phương
hướng, giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện những quy định của pháp luật dân sự về quyền
của người chưa thành niên
+ Nhiệm vụ của luận văn:
- Nghiên cứu, phân tích và xây dựng khái niệm về người chưa thành niên.
- Phân tích một cách cụ thể và chi tiết những chế định về quyền của người chưa thành
niên trong các văn bản luật và dưới luật thuộc chuyên ngành luật dân sự.
- Phân tích, so sánh việc ghi nhận quyền của người chưa thành niên qua các giai đoạn
lịch sử của pháp luật dân sự Việt Nam.
- Đánh giá một phần thực trạng việc thi hành, áp dụng các quy định của pháp luật dân sự
về quyền của người chưa thành niên.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài "Quyền của người chưa thành niên theo pháp luật dân sự Việt Nam", tác giả
chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật dân sự có nội dung chứa đựng những quy
phạm nhằm điều chỉnh đối tượng là người chưa thành niên bao gồm quy định của các Bộ luật
Dân sự 1995 - 2005, Luật Hôn nhân và gia đình, luật lao động cùng các văn bản luật, dưới
luật khác thuộc ngành Luật dân sự Việt Nam, quy định và điều chỉnh các vấn đề về quyền của
người chưa thành niên. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu, xem xét và phân tích một số trường hợp cụ
thể trong thực tiễn hoạt động của một số các cơ quan tư pháp cũng góp phần giúp tác giả nghiên
cứu đề tài một cách sâu sắc hơn.
5. Điểm mới của luận văn
- Luận văn đã nghiên cứu và phân tích một cách cụ thể, chi tiết đặc điểm của người chưa
thành niên - một chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luât dân sự, xây dựng được khái niệm
về người chưa thành niên và quyền của người chưa thành niên theo pháp luật dân sự
- Luận văn có đánh giá thực trạng thi hành các quy định của pháp luật dân sự liên quan
tới các quyền của người chưa thành niên một cách toàn diện, có hệ thống và từ đó đưa ra
những giải pháp có tính đồng bộ nhằm thực hiện và bảo vệ tốt hơn nữa các quyền dân sự của
người chưa thành niên trong giai đoạn hiện nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể là phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê và tổng hợp; phương pháp phân tích
quy phạm cũng được tác giả vận dụng để phân tích, bình luận nội dung của một số chế định.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền của người chưa thành niên theo pháp luật dân
sự.
Chương 2: Nội dung pháp luật dân sự hiện hành về quyền của người chưa thành niên và
thực tiễn việc thi hành, áp dụng các quy định của pháp luật dân sự có liên quan tới quyền của
người chưa thành niên.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả của pháp luật dân sự nhằm
thực hiện và bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong giai đoạn hiện nay.


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN
CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ
1.1. Khái quát chung về quyền của ngƣời chƣa thành niên
1.1.1. Năng lực chủ thể và quyền của người chưa thành niên theo pháp luật dân sự
a. Năng lực chủ thể của cá nhân theo pháp luật dân sự
Xét về mặt lý luận thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chỉ xuất hiện khi người đó
được sinh ra; tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn của đời sống mà pháp luật cũng đã có những
ngoại lệ nhất định, trường hợp một người chưa được sinh ra, khi họ vẫn còn là một bào thai
cũng đã được hưởng một số quyền nhất định hay nói cách khác là họ đã có năng lực pháp luật
dân sự ở một mức độ hạn chế, đó chính là trường hợp một người được sinh ra và còn sống
sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết cũng được
xác định là người thừa kế và được hưởng di sản của người đã chết.
Cùng với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là
bộ phận cấu thành năng lực chủ thể của cá nhân. Tuy nhiên, ngược lại năng lực pháp luật dân sự
của cá nhân, năng lực hành vi dân sự của cá nhân lại không giống nhau, yếu tố quy định sự khác
nhau về năng lực hành vi dân sự của mỗi cá nhân chính là ở độ tuổi và thể chất của cá nhân đó.
Mọi cá nhân có năng lực pháp luật dân sự kể từ khi người đó được sinh ra, nhưng mỗi cá nhân
chỉ có năng lực hành vi dân sự khi họ đã đạt đến một độ tuổi nhất định và có sự phát triển bình
thường về thể chất và trí tuệ
b. Khái niệm người chưa thành niên và quyền của người chưa thành niên trong quan hệ
pháp luật dân sự
Các hệ thống pháp luật dân sự có những quan điểm khác nhau về người chưa thành niên
cũng như việc ghi nhận về các quyền của người chưa thành niên. Qua nghiên cứu và xem xét một
số các quy định trong các văn bản pháp luật dân sự của một vài hệ thống pháp luật sự khác nhau
trên thế giới, có thể hiểu rằng "người chưa thành niên" là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã
hội thuộc về một độ tuổi nhất định và thông thường thì người chưa thành niên được xác định là
những người dưới 20 hoặc dưới 18 tuổi; thực chất thì việc căn cứ vào độ tuổi chỉ là một
phương pháp của pháp luật dân sự mà dựa vào đó, người ta có thể xác định một người đã có sự
trưởng thành đầy đủ về mặt thể chất, trí tuệ hay chưa và từ đó mà pháp luật dân sự sẽ xác định và
ghi nhận cho họ có những quyền và nghĩa vụ dân sự tương ứng
Khái niệm người chưa thành niên: Người chưa thành niên là những người đang trong
quá trình phát triển về mặt tự nhiên và xã hội; chưa có sự trưởng thành đầy đủ về thể chất,
trí tuệ và chưa đạt đến một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật dân sự.
1.1.2. Mức độ năng lực hành vi và quyền của người chưa thành niên theo pháp luật
dân sự
a. Mức độ năng lực hành vi và quyền của người chưa thành niên
- Đối với những người chưa đủ sáu tuổi
- Đối với những người từ sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi
b. Phân loại quyền của người chưa thành niên
+ Nhóm thứ nhất: bao gồm các quyền về nhân thân và các quyền về tài sản.
+ Nhóm thứ hai: như chúng ta đã biết, người chưa thành niên là một chủ thể đặc biệt khi
họ tham gia vào các quan hệ xã hội, và tương ứng với những nhóm quan hệ mà họ đã tham
gia đó, pháp luật dân sự cũng đã trao cho họ những quyền năng tương ứng. Khi tìm hiểu và
phân loại đối với các quyền dân sự của người chưa thành niên, chúng ta cũng có thể dựa vào
các mối quan hệ xã hội mà người chưa thành niên tham gia để phân loại chúng theo các nhóm
quan hệ đó như trong quan hệ gia đình, trong quan hệ lao động - kinh doanh - thương mại.
1.2. Khái quát quá trình điều chỉnh pháp luật về quyền của ngƣời chƣa thành niên ở
Việt Nam
Luật Hồng Đức: Một trong những điều đóng góp vào giá trị của bộ luật Hồng Đức là ở
một mức độ, nó đã thể hiện sự quan tâm, ưu ái nhất định đối với nhóm đối tượng là trẻ em ở
những độ tuổi khác nhau.
Tại chương Danh Lệ, Điều 16 quy định: " những người từ 70 tuổi trở lên, 15 tuổi trở
xuống cùng những người bị phế tật, phạm tội từ lưu trở xuống đều cho chuộc bằng tiền,
phạm tội thập ác thì không theo luật này. Từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống cùng những
người bị ác tật, phạm tội phản nghịch, giết người đáng phải tội chết thì cũng phải tâu để vua
định xét, ăn trộm và đánh người bị thương thì cho chuộc còn ngoài ra thì không bắt tội. Từ
90 tuổi trở lên và 7 tuổi trở xuống dầu có bị tội chết cũng không hành hình, nếu có kẻ nào xui
xiểm thì bắt tội kẻ xui xiểm, nếu ăn trộm có tang vật thì kẻ nào chứa chấp tang vật phải bồi
thường ".
Hoàng Việt luật lệ hay còn được gọi là luật Gia Long không có nhiều quy định dành cho
đối tượng là người nhỏ tuổi tuy nhiên nó cũng đã dành sự quan tâm nhất định đối với nhóm
đối tượng này như quy định về việc không được dùng biện pháp tra tấn về mặt thân thể đối
với những người dưới 15 tuổi khi nghi ngờ họ phạm tội; tại quyển 19 Điều 10 viết về việc
không được tra tấn người già, trẻ em có quy định: " Phàm người bát nghị (được ưu tiên vì lễ)
và trên 80 tuổi (xót thương người già), 15 tuổi trở xuống (vì lòng yêu mến trẻ) phạm tội thì
quan ti không được dùng hình phạt tra khảo, chỉ căn cứ vào các bằng cớ mà định tội và
80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống đều không được bắt họ làm chứng", đối với việc nuôi con
nuôi, pháp luật thời này cũng đã có những quy định nhằm bảo vệ phần nào quyền lợi của
người con nuôi.
Việc ghi nhận và bảo vệ quyền của người chưa thành niên trong pháp luật dân sự Việt
Nam thời thuộc Pháp:
Chúng ta có thể điểm qua một số các bộ luật được ban hành trong thời gian này như: Bộ
luật Dân sự, thương sự tố tụng Bắc Kỳ được ban hành ngày 02/12/1921; Bộ dân luật Bắc kỳ
được ban hành ngày 30/3/1931; Bộ luật Dân sự, thương sự tố tụng Trung kỳ được ban hành
năm 1935; Bộ luật Dân sự Trung kỳ được ban hành năm 1936
Đáng tiêu biểu hơn cả trong giai đoạn này là Bộ dân luật Bắc kỳ ban hành năm 1931 và
chính thức được thi hành từ ngày 01/7/1931. Một trong những nét tạo nên sự tiến bộ của Bộ
dân luật Bắc kỳ là ở chỗ nó đã xác định rõ ràng người bao nhiêu tuổi thì được coi là người vị
thành niên. Điều 221 của bộ luật này quy định: "Vị thành niên là con trai, con gái chưa đủ 21
tuổi"; về quyền được chăm sóc, giáo dục Bộ luật quy định cũng khá cụ thể tại Điều 217: "Cha
mẹ phải bảo dưỡng, giáo huấn con vị thành niên cùng là chủ trương giáo dục, trông coi hạnh
kiểm và khuyên bảo cho biết điều hay lẽ phải.
Cha mẹ lại phải tùy lực mình và tùy tư chất của đứa con dạy học cho nó hay cho nó đi
học".
Một điều đáng chú ý trong việc áp dụng, thực hiện, thực thi các quyền dân sự của cá nhân
công dân mà trong đó bao gồm cả đối tượng là người chưa thành niên trong giai đoạn này là
đã bắt đầu được bảo đảm bởi hoạt động của tòa án, Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện
tòa án do ảnh hưởng của nền tư pháp chính quốc.
Giai đoạn từ 1945 đến nay
Dưới góc độ pháp luật dân sự, Sắc lệnh số 97/SL ngày 22.5.1950 của Chủ tịch nước Việt
nam dân chủ cộng hòa về sửa đổi một số luật lệ về dân sự cũ đã đánh dấu một mốc quan
trọng trong chính sách pháp luật dân sự, về sự thay đổi mang tính tiến bộ vượt bậc trong việc
ghi nhận và bảo vệ các quyền dân sự của người chưa thành niên trong chế độ mới. Khác với
quy định của pháp luật dân sự dưới thời thuộc Pháp, Sắc lệnh đã rút ngắn tuổi thành niên từ
21 tuổi xuống còn 18 tuổi nhằm phù hợp với nhu cầu của đời sống mới và chủ trương giải
phóng con người, Điều 7 của sắc lệnh quy định: " người vị thành niên là con trai hay con gái
chưa đủ 18 tuổi ", Sắc lệnh này cũng đã loại trừ tính gia trưởng, độc đoán của pháp luật thời
phong kiến bằng cách quy định việc cha, mẹ không có quyền xin giam cầm con cái (Điều 8);
bên cạnh đó, một trong những quyền dân sự đặc biệt của người chưa thành niên là quyền truy
nhận cha mẹ lần đầu tiên đã được thừa nhận và quy định tại Điều 9: "Người con hoang vô
thừa nhận được phép thưa trước tòa án để truy nhận cha hoặc mẹ của mình". Cùng với Sắc
lệnh 97, Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 quy định các điều khoản về ly hôn đã góp phần
bảo vệ quyền của người chưa thành niên với quy định: "Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi của
các con vị thành niên để ấn định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng. Hai vợ chồng
đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi người tùy theo khả năng của
mình" (Điều 16)
Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân 1945-1954, hệ thống pháp luật của
nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bước đầu được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, thông qua Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 chúng ta cũng có thể thấy được sự quan tâm với một tinh thần trách nhiệm cao của
Đảng và nhà nước ta đối với người chưa thành niên.
Bộ luật Dân sự 1995: theo quy định của Bộ luật Dân sự 1995 thì người chưa thành niên
được xác định là những người chưa đủ 18 tuổi (Điều 20); và với nhóm đối tượng này, Bộ luật
Dân sự đã có tương đối đầy đủ và có thể nói là đầy đủ nhất trong lịch sử pháp luật dân sự
Việt Nam với khá nhiều những điều luật quy định chi tiết và cụ thể về các quyền và việc bảo
vệ các quyền của người chưa thành niên. Các điều luật này được quy định chủ yếu tại mục 2 -
Chương II (Cá nhân). Tuy nhiên qua gần mười năm thi hành, Bộ luật Dân sự 1995 đã bộc lộ
những hạn chế và bất cập nhất định mà việc sửa đổi, bổ sung bộ luật này là một nhu cầu tất
yếu. Ngày 14 tháng 6 năm 2005 tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Dân
sự 2005. Bộ luật này đã bổ sung những quy định mới nhằm khắc phục những khiếm khuyết
của Bộ luật Dân sự 1995. Một trong những điểm mới có tính hợp lý hơn Bộ luật Dân sự 1995
là vấn đề hộ tịch. Một sự bổ sung cơ bản mang tính tiến bộ hơn khi người chưa thành niên
được pháp luật cho phép tham gia vào việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung
có giá trị lớn của hộ gia đình, Điều 109 Bộ luật Dân sự 2005 quy định
1.3. Quyền của ngƣời chƣa thành niên theo pháp luật dân sự một số nƣớc
Bộ luật Dân sự Pháp năm 2005 đã dành hẳn Thiên X để quy định về người chưa thành
niên, Giám hộ, Có năng lực hành vi đầy đủ khi chưa đến tuổi thành niên và được chia làm 03
chương. Tại Điều 388 thuộc Chương I, Thiên X quy định về người chưa thành niên như sau:
"Người nam hoặc nữ chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên". Bộ luật Dân sự Pháp cũng
có nhiều quy định cụ thể như Mục 1, chương II quy định "Những trường hợp phải quản lý tài
sản theo pháp luật hoặc phải giám hộ", Mục 2 quy định về "Tổ chức việc giám hộ" và Mục 3
quy định về "Cơ chế hoạt động giám hộ" và đặc biệt, tại chương III, Thiên X quy định về "Có
năng lực hành vi đầy đủ khi chưa đến tuổi thành niên". Tại Điều 476 quy định: "Ngươi chưa
thành niên khi kết hôn thì đương nhiên được coi là có đầy đủ năng lực hành vi"; đặc biệt hơn,
Điều 477 ghi nhận: "Người chưa thanh niên có thể có đầy đủ năng lực hành vi nếu đã đủ 16
tuổi, kể cả khi chưa kết hôn".
Khác với luật dân sự của Việt Nam và Pháp, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan
quy định về người chưa thành niên tại Điều 19 như sau: "Khi đủ 20 tuổi, một người không
còn là vị thành niên nữa mà trở thành người thành niên, tự lập" và cũng giống luật dân sự
của Pháp, Điều 20 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định "một vị thành niên trở
thành người thành niên, tự lập khi kết hôn, miễn là điều đó được thực hiện đúng với quy định
của Điều 1448" (Điều 20). Xuất phát từ sự non nớt về thể chất và khả năng hiểu biết, pháp
luật dân sự Thái Lan cũng đã có nhiều quy định cụ thể nhằm bảo vệ nhóm đối tượng đặc biệt
này. Tại Điều 21 quy định: "Để thực hiện một hành vi pháp lý, một vị thành niên phải được
sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của mình. Tất cả những hành vi mà người vị thành
niên làm không được sự đồng ý nói trên, đều không có giá trị, trừ những trường hợp nói
trong 4 điều dưới đây" và để cụ thể hóa những việc mà người chưa thành niên được phép
thực hiện trong trường hợp không phải phụ thuộc vào người đại diện hợp pháp, luật dân sự
Thái Lan đã quy định chi tiết tại các điều từ 22 đến 25. Điều 22 quy định: "Một vị thành niên
có thể thực hiện hành vi chỉ nhằm để có một quyền hoặc khỏi bị ràng buộc bởi một nghĩa vụ",
hoặc "Một vị thành niên có thể thực hiện mọi hành vi hoàn toàn có tính chất cá nhân "; tiếp
đó, Điều 24 quy định: "Một vị thành niên có thể thực hiện mọi hành vi thích hợp với điều kiện
sinh sống của mình và thực tế phục vụ cho những nhu cầu hợp lý của mình" và cuối cùng,
Điều 25 ghi nhận: "Một vị thành niên, sau khi đã tròn 15 tuổi có thể lập di chúc".
Giống với quy định của luật dân sự Thái Lan, Luật Dân sự Nhật Bản quy định về độ tuổi
của người thành niên và chưa thành niên tại Điều 3 như sau: "Thành niên được xác định khi
tròn 20 tuổi". Pháp luật dân sự Nhật Bản xác định năng lực hành vi của vị thành niên là khả
năng của vị thành niên tự mình thực hiện hành vi pháp lý để tạo lập các quyền và chấm dứt
nghĩa vụ, nói cách khác, tự mình thực hiện các giao dịch dân sự không gây thiệt hại cho lợi
ích của mình, trong trường hợp khác cần phải được sự đồng ý của người đại diện, nếu không
giao dịch đó sẽ bị hủy trừ một số ngoại lệ. Điều 4 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: "Vị
thành niên phải cần sự đồng ý của những người đại diện hợp pháp khi thực hiện các hành vi
pháp lý trừ những hành vi đơn thuần chỉ nhằm mục đích hưởng quyền hoặc làm giảm nhẹ
nghĩa vụ. Hành vi nào được thực hiện trái với quy định trên có thể bị coi là vô hiệu";
* Người chưa thành niên trong một số cổ luật trên thế giới
- Bộ luật Hammurabi
Ra đời vào khoảng thế kỷ thứ XVIII TCN, bộ luật Hammurabi của nhà nước Lưỡng Hà
cổ đại được xem là một trong những bộ luật cổ nhất của loài người. Tuy ra đời trong bối cảnh
chế độ xã hội chiếm hữu lô nệ, nhưng bộ luật này có nhiều nội dung tiến bộ, thể hiện tinh
thần nhân đạo sâu sắc, tinh thần này không chỉ thể hiện trong tư tưởng lập pháp "không để kẻ
mạnh ức hiếp người yếu" của nhà làm luật mà còn cả trong từng điều luật cụ thể, trong cách
đối xử với con người, đặc biệt là đối với phụ nữ và trẻ em - những đối tượng dễ bị tổn thương
của xã hội; Điều 29 bộ luật Hammurabi quy định: "Nếu con của người chỉ huy hay của người
chiến sĩ trong một đơn vị quân đội còn nhỏ; Và nếu đứa bé chưa thể tự mình quản lý ruộng
vườn của cha nó; Thì một phần ba diện tích ruộng vườn của anh ta sẽ được giao cho mẹ của
đứa bé quản lý; Người mẹ đứa bé có trách nhiệm nuôi dưỡng đứa bé này".
- Luật Lamã thời cổ đại.
Đối năng lực hành vi, luật Lamã không phân biệt năng lực pháp luật với năng lực hành
vi của công dân nhưng luật Lamã lại quy định độ tuổi và điều kiện của công dân Lamã được
tham gia vào các quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân. Do vậy độ tuổi của công dân La mã
được coi là một trong những điều kiện của chủ thể vào quan hệ pháp luật. Trẻ em dưới 7 tuổi
không có năng lực hành vi, không được tham gia và thực hiện giao dịch dân sự, trừ những
giao dịch phục vụ cho nhu cầu cần thiết và phù hợp với lứa tuổi này. Trẻ em ở độ tuổi này
luật quy định buộc phải đặt dưới sự giám hộ của người đã thành niên có năng lực hành vi
toàn phần (nam trên 14 và nữ trên 12 nếu không mắc các dấu hiệu của bệnh tâm thần)
Người từ 7 tuổi đến 14 tuổi đối với nam, 12 tuổi đối với nữ có năng lực hành vi dân sự
một phần, được tham gia những giao dịch bảo đảm, duy trì được lợi ích của mình. Khi thực
hiện một giao dịch mà phát sinh một nghĩa vụ hay chấm dứt một quyền hoặc liên quan đến sự
định đoạt tài sản của họ phải được sự đồng ý của người giám hộ, của gia chủ hoặc người đỡ
đầu vào thời điểm thực hiện giao dịch đó. Luật La mã quy định những người trong độ tuổi
này là những người chưa trưởng thành.

Chương 2
NỘI DUNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI CHƢA
THÀNH NIÊN VÀ THỰC TIỄN VIỆC THI HÀNH, ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT DÂN SỰ CÓ LIÊN QUAN TỚI QUYỀN
CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
2.1. Nội dung pháp luật dân sự hiện hành về quyền của ngƣời chƣa thành niên -
Những thành tựu và bất cập
Người chưa thành niên, với tư cách là một chủ thể đặc biệt trong các quan hệ pháp luật
dân sự; và trong các mối quan hệ đó, họ có các quyền dân sự của một cá nhân nói chung cũng
như các quyền dân sự đặc biệt được nhà nước và xã hội trao cho nói riêng. Để hưởng thụ và
thực hiện các quyền dân sự của mình, người chưa thành niên phải thông qua một cơ chế đặc
biệt, xuất phát từ bản chất của người chưa thành niên là người có năng lực hành vi một phần
hay nói cách khác, họ là những người chưa có năng lực hành vi đầy đủ; do vậy, việc thực
hiện và bảo vệ các quyền của họ đa phần là do bố mẹ, người đại diện hợp pháp của họ thực
hiện.
2.1.1. Quyền của người chưa thành niên theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và
Bộ luật Dân sự năm 2005
Đối với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, có nhiệm vụ là điều chỉnh những mối quan
hệ đặc biệt, đó là những quan hệ được phát sinh, xây dựng dựa trên mối quan hệ hôn nhân và
huyết thống. Người chưa thành niên được Luật Hôn nhân và gia đình đặt ở một vị trí trung
tâm, việc bảo vệ những đối tượng này được xác định và ghi nhận là một nguyên tắc (Điều 2).
Điều 36 quy định: "1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền cùng nhau chăm sóc con chưa thành
niên " Ta có thể hiểu tại sao các nhà làm luật lại quy định là "nghĩa vụ và quyền" chứ không
phải là "quyền và nghĩa vụ"? Khoản 5 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: "Nhà
nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái,
con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú"; với tinh thần trên, tại khoản 2
Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: "Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các
con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con, không được lạm dụng sức lao động của con chưa
thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã
hội", Để bảo vệ người chưa thành niên trong trường hợp đặc biệt, khi các quyền của họ bị
chính những người bố hoặc người mẹ xâm phạm Điều 41 đã có quy định việc hạn chế quyền
của cha mẹ đối với con chưa thành niên người chưa thành niên trong những trường hợp
nhất định còn có quyền được nhận trách nhiệm cấp dưỡng từ những người thân trong gia đình
của mình như anh chị, ông bà nội ngoại (Điều 58, Điều 59)
Ngoài những quyền trên, Luật Hôn nhân và gia đìnhĐ năm 2000 còn ghi nhận quyền có
tài sản của con đồng thời quy định cả trách nhiệm quản lý tài sản thuộc sở hữu của người con
chưa thành niên (Điều 44, Điều 45, Điều 46).
- Một số vướng mắc: còn thiếu sót trong việc quy định trách nhiệm của những người
quản lý tài sản thuộc sở hữu của người chưa thành niên, đối với quy định tại khoản 2 Điều 83
Luật Hôn nhân và gia đình quy định: "Khi quyết định các vấn đề liên quan đến nhân thân, tài
sản của em chưa thành niên thì anh, chị là người giám hộ của em phải tham khảo ý kiến của
những người thân thích và ý kiến của em, nếu em từ đủ 9 tuổi trở lên" - thiếu sự rõ ràng
Bộ luật Dân sự năm 2005 có thể coi là một bộ luật quy định đầy đủ và rõ ràng nhất về
người chưa thành niên và các quyền dân sự của người chưa thành niên trong pháp luật dân sự
Việt Nam, ngoài việc ghi nhận các quyền, Bộ luật Dân sự cũng đã có những bảo đảm pháp lý
chặt chẽ nhằm bảo vệ và qua đó góp phần đưa các quyền dân sự của người chưa thành niên
được thực thi nghiêm chỉnh trong cuộc sống. Bộ luật Dân sự 2005 quy định người chưa thành
niên có những quyền nhân thân và quyền tài sản. Chúng ta có thể thấy được Bộ luật Dân sự
đã ghi nhận người chưa thành niên có những quyền nhân thân như sau: Quyền khai sinh
(Điều 29), Quyền đối với họ tên và Quyền thay đổi họ tên (Điều 26, Điều 27), Quyền xác
định dân tộc (Điều28); Quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31), Quyền được bảo đảm
an toàn về tính mạng, sức khỏe (Điều32); Quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành
viên trong gia đình (Điều 41), Quyền được nhận làm con nuôi (Điều 44), Quyền nhận bộ
phận cơ thể người, Quyền khai tử (Điều 30), Quyền xác định lại giới tính (Điều 35, Điều 36),
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, Quyền bí mật đời tư (Điều 37, Điều 38),
Quyền nhận, không nhận cha, mẹ con (Điều 43 Cùng với việc ghi nhận một số quyền dân
sự cụ thể như trên, Bộ luật Dân sự cũng đã có những quy định được xác định là những bảo
đảm pháp lý nhằm bảo vệ và góp phần đưa các quyền dân sự đó của người chưa thành niên
được thực thi nghiêm chỉnh trong cuộc sống thông qua các chế định về giám hộ (từ Điều 58
đến Điều 63), về năng lực chủ thể của người chưa thành niên (Điều 20, Điều 21), về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại (Điều 606, Điều 621). Cùng với Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng
dân sự cũng đã có những quy định nhằm bảo vệ người chưa thành niên trong một số trường
hợp cụ thể như việc tham gia phiên tòa dân sự đối với người chưa thành niên, việc lấy lời
khai của người chưa thành niên…
- Một số quyền cụ thể cùng vướng mắc: Quyền khai sinh , Quyền đối với họ tên và
quyền thay đổi họ tên , Quyền thừa kế
- Một số chế định nhằm thực hiện và bảo vệ người chưa thành niên: chế định về năng lực
chủ thể , chế định về bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra , chế định về
giám hộ
2.1.2. Quyền của người chưa thành niên theo Luật lao động
Bộ luật lao động năm 1994 (Sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007) đã dành hẳn
Mục 1 Chương XI để quy định riêng đối với lao động chưa thành niên bao gồm 04 điều, từ
Điều 119 đến Điều 122; trong đó đã quy định rõ người lao động chưa thành niên là người lao
động dưới 18 tuổi và những việc mà người sử dụng lao động chưa thành niên phải thực hiện
như lập sổ sách theo dõi riêng, phải tiến hành việc kiểm tra sức khỏe định kỳ.
Tuy nhiên, một vấn đề hết sức cần được sự quan tâm của nhà nước và xã hội khi nói đến
vấn đề lao động chưa thành niên. Đó là sự lạm dụng sức lao động, thậm chí đến mức vi phạm
pháp luật nghiêm trọng trong việc sử dụng lao động chưa thành niên vẫn còn tồn tại không ít
trong thực tế, mặc dù Bộ luật lao động đã dành hẳn Mục II Chương XVI để quy định về
Thanh tra nhà nước về lao động, xử phạt vi phạm pháp luật lao động; Điều 192 Bộ luật lao
động quy định: "Người nào có hành vi vi phạm các quy định của Bộ luật này, thì tùy mức độ
vi phạm mà bị xử phạt bằng các hình thức cảnh cáo, phạt tiền, đình chỉ hoặc thu hồi giấy
phép, buộc phải bồi thường, buộc đóng cửa doanh nghiệp hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của pháp luật".
Theo Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em, hiện cả nước có khoảng 27.000 trẻ em (chiếm 6-7%
tổng số trẻ em tính đến thời điểm tháng 5/2010) phải lao động trong điều kiện tồi tệ, nhất là
năm kinh tế nước ta bị suy giảm, lạm phát tăng cao.
Điều đáng nói là phần lớn các em phải làm việc kéo dài, tiền công thấp và nguy cơ bị
ngược đãi, xâm hại và lạm dụng rất cao.
2.2. Một số trƣờng hợp cụ thể trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có liên
quan đến quyền của ngƣời chƣa thành niên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang năm 2008 đã thụ lý 1863 vụ việc dân sự, trong đó có tới
1254 vụ việc về hôn nhân gia đình, năm 2009 thụ lý 2222 vụ việc dân sự thì có tới 1570 vụ
việc về hôn nhân gia đình.
Đối vớiTòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong năm 2008 đã thụ lý 243
vụ việc dân sự, trong đó có đến 144 vụ việc hôn nhân gia đình, đến năm 2009 tổng số thụ lý
vụ việc dân sự là 276 thì có tới 228 vụ việc về hôn nhân gia đình
Thông qua việc tìm hiểu số liệu tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc
Giang cho thấy: năm 2008 Chi cục thụ lý, lập và giải quyết 03 hồ sơ yêu cầu thực hiện việc
đóng góp cấp dưỡng nuôi con, năm 2009 là 17 hồ sơ và năm 2010 tính đến tháng 6 đã là 15
hồ sơ. Tất cả các đơn yêu cầu của đương sự gửi và nộp đến đều được Chi cục thi hành án dân
sự huyện Tân Yên lập hồ sơ và giải quyết theo quy định.
* 02 trường hợp đã và đang giải quyết
+ Trường hợp thứ nhất: tại hồ sơ thụ lý số 155 ngày 17/8/2009 (Nguyễn Duy Núi - Phạm
Thị Hợi).
+ Trường hợp thứ hai: tại hồ sơ thụ lý số 69 ngày 04/5/2009 (Dương Văn Huy - Nguyễn
Thị Huệ).
* 02 trường hợp trả đơn vì không có điều kiện cấp dưỡng
+ Trường hợp thứ nhất: tại hồ sơ thụ lý số 04 ngày 03/10/2007 (Trần Hải Đăng - Nguyễn
Thị Hương).
+ Trường hợp thứ hai: tại hồ sơ thụ lý số 67 ngày 04/3/2009 (Nguyễn Ngọc Thống -
Nguyễn Thị Cải).

Chương 3
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG HIỆU QUẢ CỦA PHÁP LUẬT
DÂN SỰ NHẰM THỰC HIỆN VÀ BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH
NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. Nhu cầu khách quan và phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật dân sự về quyền
của ngƣời chƣa thành niên
3.1.1. Người chưa thành niên - Thế hệ những chủ nhân tương lai của đất nước là
nhóm đối tượng đặc biệt luôn cần sự quan tâm và bảo vệ từ phía nhà nước, xã hội
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vị trí đặc biệt của tầng lớp thanh
thiếu niên nhi đồng đối với sự nghiệp cách mạng, tương lai của dân tộc và tiền đồ của tổ
quốc, trong tư tưởng của Bác về quyền con người luôn dành một vị trí và sự quan tâm đặc
biệt đối với các cháu thiếu niên nhi đồng; Bác đã từng nói: " Muốn có chế độ xã hội chủ
nghĩa thì phải có con người xã hội chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa thì phải có
tư tưởng xã hội chủ nghĩa" và từ đó đi đến phải "trồng người", phải giáo dục và rèn luyện
ngay từ khi còn nhỏ: " Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải
trồng người". Bác thường xuyên nhắc nhở các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước cũng như
luôn tự ý thức rằng bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc quan trọng và rất cần
thiết Đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về việc ghi nhận và bảo vệ các quyền
của người chưa thành niên đã lần lượt được thể chế hóa trong các văn bản luật khác nhau mà
tiêu biểu và cơ bản nhất là Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em năm 2004, Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000, Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005. Như vậy, càng về sau
pháp luật Việt Nam càng thể chế hóa những bảo đảm của nhà nước và xã hội trong việc bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục người chưa thành niên
3.1.2. Tác động của định hướng phát triển kinh tế, xã hội - yêu cầu hoàn thiện pháp
luật nói chung, pháp luật dân sự nói riêng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa
Trong bối cảnh đất nước đổi mới, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tác động tới mọi
mặt của đời sống xã hội, trong đó có môi trường văn hóa xã hội nói chung cũng như từng môi
trường văn hóa của mỗi gia đình - môi trường gần gũi và không thể tách biệt đối với người
chưa thành niên nói riêng. Sự lệch chuẩn trong văn hóa gia đình là nguyên nhân quan trọng
của tình trạng thiếu sự quan tâm chăm sóc đối với người chưa thành niên, và cũng từ đó xuất
hiện những hành vi sai lệch dẫn đến suy thoái nhân cách ở người chưa thành niên.
Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24.5.2005 của Bộ Chính trị đã được triển khai và đi vào
cuộc sống được 05 năm
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là một bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị
của Đảng
3.1.3. Hội nhập quốc tế và sự gia tăng trong quan hệ pháp luật dân sự các yếu tố nước
ngoài liên quan đến các quyền của người chưa thành niên cần được bảo vệ
Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công
ước về quyền trẻ em. Ngay sau khi phê chuẩn Công ước, năm 1991 ủy ban bảo vệ và chăm
sóc trẻ em Việt Nam được thành lập với các mạng lưới xuống đến cấp huyện và xã, cũng
trong năm 1991 Nhà nước ta đã ban hành hai đạo luật riêng biệt về quyền trẻ em là Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và Luật phổ cập giáo dục tiểu học. Chương trình hành động
quốc gia vì sự sống còn, bảo vệ và phát triển của trẻ em với nhiều mục tiêu lớn cho các năm từ
1991 đến năm 2000 đã được thông qua và tổ chức thực hiện trong phạm vi toàn quốc. Cho đến
thời điểm hiện tại, Công ước quốc tế về quyền trẻ em được coi là văn kiện pháp lý quốc tế cơ bản
và toàn diện nhất về quyền trẻ em. Năm 2000 để hỗ trợ cho Công ước, Liên Hợp Quốc đã
thông qua hai Nghị định thư bổ sung, đề cập đến việc sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột
vũ trang và việc buôn bán, bóc lột mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em. Việt
Nam chúng ta đã phê chuẩn hai Nghị định thư này vào ngày 20/12/2001.
Hội bảo vệ quyền trẻ em được thành lập theo Quyết định số 464/QĐ-BNV ngày 08 tháng
4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Trong chiến lược phát triển của mình, hội sẽ phối hợp
với tổ chức UNICEF, Quỹ One Foundation và Liên Minh vì quyền trẻ em Irish Alliance for
Child Rights (Ireland) để tập huấn cho cán bộ. Trong tổ chức hoạt động của mình, Hội cũng
sẽ thành lập Ban hợp tác quốc tế. Thông qua các hoạt động trên, góp phần hoàn thành nhiệm
vụ đã được đề ra.
3.1.4. Một số hạn chế tồn tại trong hệ thống pháp luật cùng những bất cập trong thực
tiễn áp dụng, thực thi pháp luật dân sự liên quan đến quyền của người chưa thành niên
- Các quy định nằm rải rác, không tập trung gây khó khăn cho công tác tìm hiểu và
nghiên cứu
- Công tác quản lý nhà nước về một số lĩnh vực, đất đai, hộ tịch , lỏng lẻo dẫn đến một số
trường hợp khi cần tìm hiểu và thu thập tài liệu để chứng minh và giải quyết một số vụ việc có
liên quan đến quyền lợi của người chưa thành niên (đối với ngành Tòa án) gặp nhiều khó khăn,
do đó đã có những ảnh hưởng tới việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên
- Sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chưa triệt để.
- Công tác truyền thông - thông tin, giáo dục chưa phát huy hết vai trò.
- Năng lực và tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ công chức còn hạn chế.
3.1.5. Phương hướng tăng cường hiệu quả của pháp luật dân sự nhằm thực hiện và bảo vệ
các quyền của người chưa thành niên trong thời gian tới
- Cần thiết tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự đối với các
vấn đề về người chưa thành niên và các quyền dân sự của họ một cách khoa học, đồng bộ,
thống nhất và toàn diện, đảm bảo cho việc ghi nhận các quyền của người chưa thành niên một
cách rõ ràng và cụ thể hơn. Kết hợp với thông tin, truyền thông cùng các biện pháp tuyên
truyền, pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng cần tiếp tục góp phần làm thay đổi
quan điểm, nhận thức của toàn thể xã hội, của cộng đồng về vai trò và tầm quan trọng của
người chưa thành niên. Thông qua đó, pháp luật thể hiện vai trò định hướng nhận thức của
người dân.
- Quán triệt tư tưởng, nâng cao tinh thần trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ làm công tác
liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên.
- Tăng cường công tác kiểm tra giám sát.
3.2. Một số giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm tăng cƣờng bảo đảm thực hiện quyền
của ngƣời chƣa thành niên trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự, sửa đổi một số điều luật cụ thể
trong việc ghi nhận quyền của người chưa thành niên (sửa đổi Điều 623 Bộ luật Dân sự năm
2005 giống quy định tại Điều 73 Bộ luật Dân sự 1995; sửa đổi điểm a, khoản 1 Điều 27 như sau:
"Theo yêu cầu của người có họ, tên hoặc theo yêu cầu của người đại diện theo pháp luật của
người chưa thành niên khi việc sử dụng họ tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia
đình; đến tình cảm, danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của người đó "; khoản 2 Điều 647 cần
được sửa đổi như sau: "Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc,
nếu được cha hoặc mẹ, hoặc người giám hộ đồng ý bằng văn bản trước khi lập di chúc"
Thứ hai: Cần thiết nghiên cứu và xem xét việc thành lập Tòa án Hôn nhân gia đình hoặc
Tòa án dành cho người chưa thành niên, thông qua đó việc thực hiện và bảo vệ người chưa
thành niên cùng các quyền dân sự của họ sẽ được thực thi một cách tập trung và mang tính
"chuyên môn" hơn
Thứ ba: Đẩy mạnh, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xây dựng cơ chế phối hợp
chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong tổ chức, kiểm tra, giám sát.

KẾT LUẬN
Người chưa thành niên luôn được xác định là một chủ thể đặc biệt trong các quan hệ pháp
luật dân sự Việt Nam. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - trong đó
các quyền của con người nói chung và các quyền dân sự của người chưa thành niên nói riêng sẽ
luôn được bảo đảm và được thực thi nghiêm chỉnh trong cuộc sống. Tuy nhiên, những khó khăn
trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước cùng những tác động mang tính tiêu cực của mặt
trái nền kinh tế thị trường, sự thiếu hoàn thiện của hệ thống pháp luật dân sự và một bộ phận
không nhỏ trong đội ngũ các cán bộ, công chức còn thiếu ý thức cũng như tinh thần trách
nhiệm chưa cao khiến cho việc ghi nhận cũng như việc bảo đảm thực thi các quyền dân sự
của người chưa thành niên trong cuộc sống còn những tồn tại và hạn chế nhất định, thậm chí mức
độ xâm hại đối với các quyền của người chưa thành niên trong thời gian qua đã khiến dư luận
phải vào cuộc và vấn đề đã trở thành một chủ đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của toàn thể
xã hội.
Bên cạnh những tồn tại trên, về cơ bản chúng ta phải thừa nhận rằng đời sống xã hội của đất
nước ta trong thời kỳ đổi mới đã ngày một tốt hơn, các quyền của con người nói chung và các
quyền của người chưa thành niên nói riêng ngày được đáp ứng một tốt hơn. Nghị quyết số 48-
NQ/TW ngày 24.5.2005 của Bộ chính trị được triển khai và đi vào cuộc sống đã thực sự làm thay
đổi đất nước ta một cách tích cực trên nhiều phương diện, trong đó việc hoàn thiện hệ thống pháp
luật cũng như đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật đã và đang góp phần
tăng cường hiệu quả của pháp luật nói chung cũng như của pháp luật dân sự nói riêng nhằm thực
hiện và bảo vệ tốt hơn nữa các quyền của người chưa thành niên trong thời gian tới.
Tuy nhiên, pháp luật tuy là yếu tố quan trọng không thể thiếu, nhưng không phải là yếu tố
duy nhất bảo đảm cho người chưa thành niên được hưởng thụ các quyền dân sự của mình. ở đây,
công tác tổ chức, trình độ dân trí, và điều có tầm quan trọng hàng đầu là trình độ phát triển kinh tế,
văn hoá xã hội, khả năng tài chính và cơ sở vật chất của Nhà nước, của xã hội. Bằng những chủ
trương, biện pháp cụ thể và thiết thực, bằng sự hưởng ứng tích cực, chủ động, đồng bộ của toàn thể
xã hội mà nhà nước đóng vai trò trụ cột, chúng ta tin tưởng và hy vọng rằng người chưa thành niên
- thế hệ những chủ nhân tương lai của đất nước, của dân tộc sẽ được hưởng thụ ngày càng đầy đủ
hơn các quyền dân sự, để đến lượt mình gánh vác sứ mệnh đưa đất nước đi lên con đường phát
triển mới trong thế kỷ 21 và sánh vai cùng các cường quốc năm châu.



References
1. Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản (1993), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 (2002), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
3. Bộ luật Gia Long.
4. Bộ luật Hồng Đức.
5. Bộ luật Dân sự của nước Cộng hoà Pháp (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Bộ luật Dân sự Nhật Bản (1993), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Bộ luật Hammurabi (2008), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Chính phủ (1950), Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà về sửa đổi một số luật lệ về dân sự cũ.
10. Chính phủ (1950), Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11 của Chủ tịch nước quy định các điều
khoản về ly hôn.
11. Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
12. Dân luật Bắc Kỳ 1931.
13. Dân luật Trung Kỳ 1936.
14. Đại Việt sử ký toàn thư (2004), Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị
về Chiên lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định
hướng đến năm 2020, Hà Nội.
16. Đoàn Nam Đoàn (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, Nxb Chính trị
quốc gia. Hà Nội.
17. Hoàng Hùng Hải (2008) Góp phần tìm hiểu quyền con người ở Việt Nam, Nxb Quân đội
nhân dân, Hà Nội.
18. Lê Như Hoa (2001), Văn hoá gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ
em, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.
19. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam
(1999), Trẻ em trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
20. Nguyễn Phương Lan (2006), Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp lý về nuôi con
nuôi ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội.
21. Lê Thị Phương Nga (2008), Pháp luật bảo vệ trẻ em ở Việt Nam hiện nay, Luận văn
thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
22. Những điểm mở và thách thức cơ bản với phương thức làm chương trình dựa trên cơ sở
quyền con người cho phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Nguyễn Thị Hồng Oanh (2005), Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000. Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
24. Quốc hội (1946), Hiến pháp, Hà Nội.
25. Quốc hội (1959), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
26. Quốc hội (1960), Hiến pháp, Hà Nội.
27. Quốc hội (1980), Hiến pháp, Hà Nội.
28. Quốc hội (1986), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
29. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
30. Quốc hội (1995), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
31. Quốc hội (2000), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
32. Quốc hội (2004), Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội.
33. Quốc hội (2004), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Hà Nội.
34. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
35. Tìm hiểu Công ước về cấm và hành động ngay lập tức để xoá bỏ những hình thức lao động
trẻ em tồi tệ nhất (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
36. Tìm hiểu Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004), Nxb Lao động, Hà Nội.
37. Trần Thành (2009), Một số vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
38. Ngô Văn Thâu (2005), Pháp luật về hồn nhân và gia đình trước và sau Cách mạng
tháng 8, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
39. Trung tâm nghiên cứu quyền con người - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
(1998), Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.

L3-T15


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "L3-T15": http://123doc.vn/document/568707-l3-t15.htm


a. Hoạt động 1: Thảo luận nhóm.
* Mục tiêu: - Kể tên một số hoạt động diễn ra ở nhà bu điện tỉnh.
- Nêu đợc ích lợi của hoạt động bu điện trong đời sống.
* Tiến hành:
- B ớc 1 : Thảo luận nhóm 4 theo gợi ý
+ Bạn đã đến nhà bu điện tỉnh cha ? Hãy
kể những hoạt động ở đó?
- HS thảo luận N4 theo câu hỏi gợi ý của
giáo viên.
+ Nêu ích lợi của hoạt động bu điện ? - Đại diện các nhóm báo cáo kết quả - các
nhóm khác bổ sung.
* Kết luận: Bu điện tỉnh giúp ta chuyển phát tin tức, th tín, bu phẩm giữa các địa ph-
ơng trong nớc và giữa trong nớc và nớc ngoài.
b. Hoạt động 2: Làm việc theo nhóm
* Mục tiêu: Biết đợc ích lợi của hoạt động
phát thanh, truyền hình
* Tiến hành.
- B ớc 1 : Thảo luận nhóm
+ GV chia lớp thành nhiều nhóm và nêu
gợi ý: Nêu nhiệm vụ và ích lợi của hoạt
động phát thanh truyền hình
- HS thảo luận nhóm theo gợi ý;
- Bớc 2: GV gọi HS trình bày - Các nhóm trình bày kết quả thảo luận
- GV nhận xét và kết luận - HS nghe
c. Hoạt động 3: Chơi trò chơi: Hoạt động
tại nhà bu điện
* Mục tiêu: HS biết cách ghi địa chỉ ngoài
phong bì th, cách quay số điện thoại, cách
giao tiếp qua điện thoại
* Tiến hành: 1 số HS đóng vai nhân viên
bán tem, phong bì và nhận gửi hàng
- 1 vài em đóng vai ngời gửi th, quà
- 1 số khác chơi gọi điện thoại
IV. Củng cố dặn dò:
- Về nhà học bài, chuẩn bị bài sau.
* Đánh giá tiết học.
Thứ ba ngày 12 tháng 12 năm 2006
Thể dục:
Tiết 29: Tiếp tục hoàn thiện bài thể dục phát triển chung
I. Mục tiêu:
- Tiếp tục hoàn thiện bài thể dục phát triển chung. Yêu cầu thuộc đợc bài và
thực hiện các động tác tơng đối chính xác
- Ôn tập hợp hàng ngang, dóng hàng, điểm số. Yêu cầu thực hiện động tác
nhanh chóng trật tự, theo đúng đội hình tập luyện
-5-
- Chơi trò chơi " Đua ngựa". Yêu cầu biết cách chơi và tham gia chơi tơng đối
chủ động.
II. Địa điểm - phơng tiện.
- Địa điểm: Trên sân trờng, vệ sinh an toàn nơi tập.
- Phơng tiện: Còi, kẻ vạch trò chơi
III. Nội dung và phơng pháp lên lớp.
Nội dung Đ/lợng Phơng pháp tổ chức
A. Phần mở đầu.
5' - ĐHTT + ĐHKĐ
- Cán sự lớp báo cáo sĩ số x x x x
- GV nhận lớp, phổ biến ND x x x x
2. Khởi động.
x x x x
- Chạy chậm theo một hàng dọc
- Trò chơi: Chui qua hầm
B. Phần cơ bản.
12 - 25'
1. Ôn tập hợp hàng ngang, dóng
hàng, điểm số
- ĐHTL:
x x x x
x x x x
+ GV điều khiển: HS tập
+ GV quan sát, sửa sai cho HS.
2. Hoàn thiện bài TD phát triển chung
4 x 8n - GV cho HS tập liên hoàn 8
động tác
- GV chia tổ cho HS tập luyện d-
ới sự điều khiển của tổ trởng.
- GV quan sát, sửa sai cho HS
- GV cho HS biểu diễn bài TD thi
đua giữa các tổ.
- GV nhận sét
3. Chơi trò chơi: Đua ngựa
- GV cho HS khởi động các khớp
- GV cho HS thi đua giữa các tổ
- GV tuyên dơng đội thắng cuộc
C. Phần kết thúc:
5'
- Đứng tại chỗ, vỗ tay hát - ĐHXL:
- GV cùng HS hệ thống bài x x x x
- GV nhận xét giờ học và giao
BTVN
x x x x
Toán
Tiết 72: Chia số có ba chữ số cho số có một chữ số (tiếp)
A. Mục tiêu:
-6-
- Giúp HS: Biết cách thực hiện phép chia với trờng hợp thơng có chữ số 0 ở hàng
đơn vị.
B. Các hoạt động dạy học:
I. Ôn luyện: - Làm lại BT 1(a, b) (2HS) tiết 71.
- HS + GV nhận xét.
II. Bài mới:
1. Hoạt động 1: Giới thiệu các phép chia
* HS biết cách đặt tính và cách tính.
a. Giới thiệu phép chia 560 : 8
- GV viết phép chia 560 : 8 - 1HS lên đặt tính - tính và nêu cách tính.
560 8 56 chia 8 đợc 7, viết 7
- GV theo dõi HS thực hiện 56 70 7 nhân 8 bằng 56; 56
00 trừ 56 bằng 0
- GV gọi HS nhắc lại - 1 vài HS nhắc lại cách thực hiện
Vậy 560 : 8 = 70
b. GV giới thiệu phép chia 632 : 7
- GV gọi HS đặt tính và nêu cách tính - 1 HS đặt tính - thực hiện chia
632 7 63 chia 7 đợc 9, viết 9 ;
63 90 9 nhân 7 bằng 63; 63 trừ 63
bằng
02 0. 2 chia 7 đợc 0 viết 0; 0 nhân
0 bằng 0; 2 trừ 0 bằng 2
Vậy 632 : 7 = 90
2. Hoạt động 2: Thực hành
a. Bài 1: Rèn luyện cách thực hiện phép
chia mà thơng có c/s hàng đơn vị nào
- GV gọi HS nêu yêu cầu - 2HS nêu yêu cầu bài tập
- HS làm bảng con
350 7 420 6 260 2
- GV sửa sai cho HS sau mỗi lần giơ bảng 35 50 42 70 2 130
00 00 06
0 0 6
b. Bài 2: Củng cố về dạng toán đặc biệt
0
- GV gọi HS nêu yêu cầu - 2HS nêu yêu cầu bài tập
- GV gọi HS nêu cách làm. - HS p/t và nêu cách làm
- HS giải vào vở - nêu kết quả
Bài giải
- GV theo dõi HS làm bài Thực hiện phép chia ta có
365 : 7 = 52 (d 1)
Vậy năm đó gồm 52 tuần lễ và 1 ngày
- GV gọi HS nhận xét Đ/s: 52 tuần lễ và 1 ngày
- GV nhận xét, sửa sai cho HS
c. Bài 3: Củng cố về chia hết chia có d
- GV gọi HS nêu yêu cầu - 2HS nêu yêu cầu bài tập
- HS làm SGK nêu kết quả
-7-
- GV sửa sai cho HS a. Đúng
b. Sai
IV. Củng cố - dặn dò:
- Nêu lại cách chia ? - 1HS
- Về nhà học bài chuẩn bị bài sau
Chính tả :(nghe viết)
Tiết 29: Hũ bạc của ngời cha
I. Mục tiêu:
Rèn kỹ năng viết chính tả
1. Nghe viết đúng chính tả, trình bày đúng đoạn 4 của truyện Hũ bạc của ngời
cha.
2. Làm đúng bài tập điền vào chỗ trống tiếng có vần khó (ui/uôi); tìm và viết
đúng chính tả các từ chứa tiếng có âm, vần dễ lẫn; s/x; ất / âc.
II. Đồ dùng dạy học:
- Bảng lớp viết 2 lần các từ ngữ trong BT2
III. Các hoạt động dạy học:
A. KTBC: - GV đọc; màu sắc, hoa màu, nong tằm- HS viết bảng con
- HS + GV nhận xét.
B. Bài mới:
1. Giới thiệu bài - ghi đầu bài.
2. Hớng dẫn HS chuẩn bị .
- GV đọc đoạn chính tả - HS nghe
- 2HS đọc lại + cả lớp đọc thầm
- GV hớng dẫn HS nhận xét
+ Lời nói của ngời cha đợc viết nh thế nào ? - Viết sau dấu hai chấm, xuống dòng,
gạch đầu dòng
- GV đọc 1 số tiếng khó - HS luyện viết vào bảng con.
- GV quan sát, sửa sai cho HS
c. Chấm, chữa bài:
- GV đọc lại bài - HS đổi vở soát lỗi
- GV thu bài chấm điểm
3. Hớng dẫn làm bài tập.
a. Bài tập 2: - Gọi HS nêu yêu cầu
- 2HS nêu yêu cầu bài tập
- HS làm bài vào nháp
- GV gọi HS lên bảng làm bài thi - 2Tốp HS lên bảng thi làm bài nhanh
- HS nhận xét.
- GV nhận xét, kết luận bài đúng
Mũi dao - con muỗi
Hạt muối - múi bởi
Núi lửa - nuôi nấng - 5 - 7 đọc kết quả
Tuổi trẻ - tủi thân - HS chữa bài đúng vào vở
-8-
b. Bài tập 3 (a)
- GV gọi HS nêu yêu cầu - 2HS yêu cầu Bài tập
- HS làm bài CN vào nháp
- GV gọi 1 số HS chữa bài. - 1 số HS đọc kết quả
- HS nhận xét
- GV nhận xét, kết luận bài đúng
a. Sót - xôi - sáng
4. Củng cố - dặn dò.
- Nêu lại ND bài học ? 1 HS
- Về nhà học bài chuẩn bị bài
* Đánh giá tiết học
Đạo đức:
Tiết 15: Biết ơn thơng binh, liệt sĩ (T1)
I. Mục tiêu:
1. HS hiểu:
- Thơng binh, lịêt sĩ là những ngời đã hi sinh xơng máu vì tổ quốc.
- Những việc các em cần làm để tỏ lòng biết ơn các thơng binh liệt sĩ .
2. HS biết cách làm những công việc phù hợp để tỏ lòng biết ơn các thơng binh, liệt sĩ.
3. HS có thái độ tôn trọng, biết ơn các thơng binh, gia đình thơng binh liệt sĩ.
II. Tài liệu và ph ơng tiện:
- Tranh minh hoạ truyện: Một chuyến đi bổ ích.
- Phiếu giao việc.
III. Các hoạt động dạy học:
1. KTBC: Thế nào là quan tâm, giúp đỡ hàng xóm láng giềng?
- HS + GV nhận xét.
2. Bài mới:
* Khởi động: HS hát tập thể bài em nhớ các anh
a. Hoạt động 1: Phân tích truyện:
* Mục tiêu: HS hiểu thế nào là thơng binh, liệt sĩ; có thái độ biết ơn đối với các thơng
binh và gia đình liệt sĩ.
* Tiến hành:
- GV kể chuyện: Một chuyến đi bổ ích - HS chú ý nghe
- Đàm thoại
+ Các bạn lớp 3A đã đi đâu vào ngày 27/7 - Đi thăm các cô, chú ở trại điều dỡng th-
ơng binh binh nặng
- Qua truyện trên, em hiểu thơng binh, liệt
sĩ là những ngời nh thế nào?
- Là những ngời đã hi sinh xơng máu để
giành độc lập, tự do.
+ Chúng ta cần phải có thái độ nh thế nào
đối với các thơng binh liệt sĩ ?
- Kính trọng, biết ơn
* GV kết luận (SGK)
- HS nghe
-9-
- Nhiều HS nhắc lại
b. Hoạt động 2: Thảo luận nhóm
* Mục tiêu: HS phân biệt 1 số việc cần
làm để tỏ lòng biết ơn thơng binh, gia
đình liệt sĩ và những việc không lên làm.
* Tiến hành.
- GV chia nhóm, phát phiếu giao việc,
giao nhiệm vụ cho các nhóm
- Các nhóm nhận phiếu và nhiệm vụ
- Các nhóm thảo luận
- GV gọi các nhóm trình bày - Đại diện các nhóm lên trình bày
- Nhóm khác nhận xét, bổ sung
- GV kết luận: Các việc a,b, c là những
việc lên làm
+ Em đã làm những việc gì đối với thơng
binh, liệt sĩ?
- HS tự liên hệ
- HS nhận xét
- GV nhận xét - tuyên dơng
IV: Củng cố - dặn dò .
- Nêu ND bài ?
- Về nhà học bài, chuẩn bị bài sau
* Đánh giá tiết học
Thủ công:
Tiết 15: Cắt, dán chữ v (T1)
I. Mục tiêu:
- Biết cách kẻ, cắt, dán chữ V
- Kẻ cắt, dán đợc chữ V đúng qui trình kỹ thuật.
- HS hứng thú cắt chữ.
II. GV chuẩn bị:
- Mẫu chữ V cắt đã dán và mẫu chữ V cắt sẵn cha dán.
- Tranh qui trình kẻ, cắt dán và mẫu chữ V
- Giấy TC, thớc kẻ, bút chì
III. Các hoạt động dạy học:
1. Hoạt động:
T/G Nội dung H/Đ của thầy H/Đ của trò
5'
1. Hoạt động 1: GV
hớng dẫn HS quan sát
và nhận xét.
- GV giới thiệu mẫu chữ V
+ Nét chữ rộng mấy ô?
+ Có gì giống nhau
- HS quan sát
- 1ô
- Chữ V có nửa trái và
phải giống nhau
10'
2.Hoạt động 2:
GV hớng dẫn mẫu - GV hớng dẫn:
- B ớc 1 : Kẻ chữ V + Lật mặt trái của tờ giấy TC
cắt 1 hình CN dài 5 ô, rộng 3 ô
- HS quan sát
-10-
+ Chấm các điểm đánh dấu
hình V theo các điểm đã đánh
giấu.
- HS quan sát
- B ớc 2 : Cắt chữ V - Gấp đôi HCN đã kẻ chữ V
theo đờng dấu giữa, cắt theo đ-
ờng kẻ nửa chữ V, bỏ phần
gạch chéo. Mở ra đợc chữ V.
- B ớc 3 : Dán chữ V - GV hớng dẫn HS thực hiện
dán chữ nh , H, U.
13'
3. Hoạt động 3.
Thực hành - GV gọi HS nhắc lại các bớc - 1 HS nhắc lại
+ B1: Kẻ chữ V
+ B2: Cắt chữ V
+ B3: Dán chữ V
- GV tổ chức cho HS thực hành - HS thực hành
+ GV quan sát, uấn nắn, HD
thêm cho HS
5' Trng bày sản phẩm - GV tổ chức cho HS trng bày
sản phẩm, nhận xét sản phẩm
thực hành
- HS trng bày sản
phẩm
- HS nhận xét
- Gv đánh giá sản phẩm thực
hành của HS
2'
Nhận xét dặn dò
- GV nhận xét sự chuẩn bị, t
2
và thái độ học tập, KN thực
hành của HS
- HS nghe
- Dặn dò giờ sau.
Thứ t ngày 13 tháng 12 năm 2006
Mỹ thuật:
Tiết 15: Tập nặn tạo dáng tự do
(Xé dán hình con vật)
I. Mục tiêu:
- HS nhận ra đặc điểm của con vật.
- Biết cách xé dán và tạo dáng đợc con vật theo ý thích.
- Yêu cầu các con vật.
II. Chuẩn bị:
- Hình gợi ý cách xé dán
- Giấy màu, hồ
III. Các hoạt động dạy học:
* Giới thiệu bài - ghi đầu bài.
-11-
1. Quan sát, nhận xét.
- GV giới thiệu tranh ảnh có xé dán - HS quan sát nhận xét .
- Nêu tên con vật ? - HS nêu
- Các bộ phận của con vật ? - Đầu, mình, chân, đuôi
- Đặc điểm của con vật ? - HS nêu
- GV yêu cầu HS chọn con vật xé dán.
2.Hoạt động 2: Cách vẽ một con vật
- GV dùng giấy hớng dẫn học sinh:
+ Xé bộ phận khác sau: chân , đuôi, tai
3. Hoạt động 3: Thực hành
- HS thực hành xé dán con vật theo ý thích.
- GV quan sát, HD thêm cho HS.
4. Hoạt động 4: Nhận xét , đánh giá
- GV sắp xếp và giới thiệu bài vẽ các con
vật theo từng nhóm.
- HS quan sát
- HS nhận xét.
- HS tìm bài vẽ mình thích
- GV khen ngợi những HS bài vẽ đẹp
* Dặn dò:
- Chuẩn bị bài học sau.
* Đánh giá tiết học.
Tập đọc:
Tiết 44: Nhà bố ở
I. Mục tiêu:
1. Rèn kĩ năng đọc thành tiếng:
- Đọc đúng các từ ngữ: Páo, ngọn núi, nhoà dần, quanh co, leo đèo, chót vót
- Bớc đầu biết đọc bài thơ thể hiện đúng tâm trạng ngạc nhiên, ngỡ ngàng của
bạn nhỏ miền núi lần đầu tiên về thăm bố ở thành phố.
2. Rèn kỹ năng đọc - hiểu:
Hiểu nội dung bài: Sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng của bạn nhỏ miền núi thăm bố ở thành
phố. Bạn thấy cái gì cũng khác lạ nhng vẫn gợi nhớ đến quê nhà.
3. Học thuộc lòng những khổ thơ em thích.
II. Đồ dùng dạy học:
- Tranh minh hoạ bài thơ trong SGK.
III. Các hoạt động dạy học:
A. KTBC: 3HS tiếp nối nhau kể 3 đoạn (3,4,5) của câu chuyện Hũ bạc của ngời cha
(mỗi HS kể 1 đoạn)
- HS + nhận xét.
B. Bài mới:
1. Giới thiệu bài - ghi đầu bài.
-12-
2. Luyện đọc.
-13-
a. GV đọc bài thơ:
GV hớng dẫn cách đọc - HS chú ý nghe
b. GV hớng dẫn luyện đọc, kết hợp giải
nghĩa từ.
- Đọc từng dòng thơ: - HS nói tiếp nhau đọc từng dòng thơ.
- Đọc từng khổ thơ trớc lớp:
+ GV hớng dẫn HS nghỉ hơi đúng giữa
các dòng thơ.
- HS nối tiếp đọc từng khổ trớc lớp
- GV gọi HS giải nghĩa từ - HS giải nghĩa từ mới.
- Đọc từng khổ thơ trong nhóm - HS đọc theo N4
- Đọc đồng thanh - Cả lớp đọc đồng thanh 1 lần.
3. Tìm hiểu bài:
- Quê Páo ở đâu? Những câu thơ nào cho
biết điều đó ?
- Quê Páo ở miền núi, các câu thơ cho biết
điều đó là: Ngọn núi ở lại cùng mây; tiếng
suối nhoà dần.
- Páo đi thăm bố ở đâu ? - Páo đi thăm bố ở thành phố
- Những điều gì ở thành phố khiến Páo
thấy lạ?
- Con đờng rất rộng, sông sâu không lội
qua đợc, ngời và xe rất đông
- Những gì Páo thấy ở thành phố giống
quê mình ?
- Nhà cao giống nh trái núi. Bố ở tầng 5
gió lộng
- Qua bài thơ em hiểu điều gì về bạn Páo ? - Lần đầu về thành phố thăm bố, Páo thấy
cái gì cũng lạ lẫm
4. Học thuộc lòng bài thơ:
- 1HS đọc lại bài thơ.
- GV hớng dẫn HS học thuộc lòng khổ thơ
mình thích
- HS học thuộc lòng
- GV nhận xét, ghi điểm.
- HS thi đọc thuộc lòng từng khổ hoặc cả
bài.
5. Củng cố dặn dò:
- Nêu lại ND bài thơ ? - 1 HS
- Về nhà học bài, chuẩn bị bài sau.
* Đánh giá tiết học.
Luyện từ và câu:
Tiết 15: Từ ngữ về các dân tộc. Luyện tập về so sánh .
I. Mục tiêu:
- Mở rộng vốn từ về các dân tộc: Biết thêm tên một số dân tộc thiểu số ở nớc ta; điền
đúng từ ngữ thích hợp (gắn với đời sống của đồng bào dân tộc) điền vào chỗ trống.
- Tiếp học về phép so sánh: Đặt đợc câu có hình ảnh số chia theo khu vực.
- 4 -5 băng giấy viết BT 2.
- Bảng lớp viết BT4.
III. Các hoạt động dạy học:
-14-

Qh biện chứng Nguyên nhân - Kết quả


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Qh biện chứng Nguyên nhân - Kết quả": http://123doc.vn/document/569028-qh-bien-chung-nguyen-nhan-ket-qua.htm


Cặp phạm trù:
Nguyên nhân – Kết quả
Nhóm thực hiện: Nhóm 4 – Lớp PLT01A.1
GV hướng dẫn: cô Phạm Thị Nguyệt
Bộ môn:
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin
Nhóm 4
Khái niệm
1
Quan hệ biện chứng
Kết luận về mặt phương pháp luận
2
3
Cặp phạm trù Nguyên nhân – Kết quả
Nhóm 4
Định nghĩa
Nguyên nhân
&
Kết quả
Khái niệm
Tính chất
của mối
liên hệ
nhân quả
1
Nhóm 4
Nguyên nhân
Là phạm trù chỉ
sự tác động lẫn
nhau giữa các mặt
trong một sự vật
hoặc giữa các sự
vật với nhau, gây
ra một biến đổi
nhất định nào đó
Là phạm trù chỉ
những biến đổi
xuất hiện do tác
động lẫn nhau
giữa các mặt trong
một sự vật hoặc
giữa các sự vật với
nhau gây ra
Kết quả
Định nghĩa
•
Cần phân biệt nguyên nhân, nguyên cớ và điều kiện
•
Không nên hiểu nguyên nhân và kết quả nằm ở
hai sự vật hoàn toàn khác nhau
Chú ý:
Nhóm 4
Sự tương tác giữa dòng
điện với dây dẫn(mà ở đây
là dây tóc của bóng đèn)
là nguyên nhân làm cho
bóng đèn phát sáng
Ví dụ
Nhóm 4
Tính chất
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nguyên
nhân – kết quả có 3 tính chất:

Tính khách quan: Mối quan hệ nhân quả là cái vốn có
của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
của con người.

Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và
trong xã hội đều có nguyên nhân nhất định gây ra.

Tính tất yếu: Cùng một nguyên nhân, trong những điều
kiện giống nhau thì sẽ cho kết quả như nhau.
Nhóm 4
1
Nguyên nhân là
cái sinh ra kết
quả, nên
nguyên nhân
luôn có trước,
còn kết quả
xuất hiện sau
3
Nguyên nhân
và kết quả có
thể thay đổi vị
trí
2
Sự tác động
trở lại của kết
quả đối với
nguyên nhân
Quan hệ biện chứng
2
Nhóm 4
Một nguyên nhân Một kết quả
Một nguyên nhân Nhiều kết quả
Nhiều nguyên nhân
Một kết quả
Nhiều kết quảNhiều nguyên nhân
Sinh ra
Sinh ra
Sinh ra
Sinh ra
Ví dụ: Một phối trứng gà
ấp nở ra được một con gà
VD: Cùng một thầy dạy nhưng kết quả học
tập ở mỗi học sinh lại khác nhau
Nông nghiệp được mùa hay không
Nông nghiệp được mùa hay không
Nông nghiệp được mùa hay không
Nông nghiệp được mùa hay không
Phụ thuộc vào
Nước Phân Cần
Giống
Nhóm 4

Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả lại có
ảnh hưởng trở lại đối với nguyên nhân

Sự tác động trở lại này diễn ra theo hai hướng

Hướng tích cực:
VD: Một học sinh lười học nên học dốt. Nhưng
chính vì học dốt nên thường không làm được bài
tập về nhà, dẫn đến bạn càng lười học.
VD: Chính sách kinh tế phát triển, giáo dục đúng đắn
làm cho dân trí phát triển. Dân trí phát triển lại tác
động tích cực đến sự phát triển kinh tế và giáo dục

Hướng tiêu cực:
Kết quả tác động trở lại đối với nguyên nhân
Nhóm 4

Sự phân biệt nhân quả chỉ là tương đối, trên thực tế nguyên
nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau, tùy theo chúng tồn
tại trong mối quan hệ nào

Vì thế một hiện tượng được coi là nguyên nhân hay kết quả bao
giờ cũng phải xét trong một quan hệ xác định, cụ thể

Chuỗi nguyên nhân kết quả là vô cùng, không có bắt đầu, không
có kết thúc.
Nguyên nhân và kết quả có thể thay
đổi vị trí cho nhau
Nhóm 4
Một số kết luận về mặt phương pháp luận

Vì mối liên hệ nhân quả là khách quan, phổ biến, tất yếu, nên hiện
tượng nào cũng có nguyên nhân của nó. Nhiệm vụ của khoa học là phải
tìm ra nguyên nhân của các hiện tượng.

Muốn tìm nguyên nhân phải tìm trong thế giới hiện thực, trong bản thân
các sự vật, hiện tượng, không được tưởng tượng một cách tách rời hiện thực

Vì nguyên nhân luôn có trước nên phải tìm nguyên nhân của một hiện
tượng trong những hiện tượng đã xảy trước đó

Vì có nhiều loại nguyên nhân, mỗi nguyên nhân có tác động khác nhau
đối với kết quả, nên cần phân biệt các loại nguyên nhân và các chiều hướng
tác động của chúng

Vì kết quả có tác động trở lại nguyên nhân (tích cực hoặc tiêu cực), nên
cần khai thác sự tác động trở lại đó cho phù hợp
3

Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014

MÔI TRƯỜNG MARKETING(Marketing Environment)


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "MÔI TRƯỜNG MARKETING(Marketing Environment)": http://123doc.vn/document/569260-moi-truong-marketing-marketing-environment.htm


CHƯƠNG 2: MÔI TRƯỜNG MARKETING
(Marketing Environment)
Mục tiêu chương 2:
 Giới thiệu một cách khái quát môi trường vi
mô và vó mô ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
đến hoạt động M. của các doanh nghiệp.
1
đến hoạt động M. của các doanh nghiệp.
 Mô tả những xu hướng biến động chính yếu
của môi trường vó mô và vi mô trên thò trường
hiện nay.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG MARKETING
Môi trường Marketing của DN bao gồm
các tác nhân và các lực lượng nằm ngoài
chức năng quản trò M nhưng có tác động
đến chức năng quản trò M trong việc triển
khai và duy trì các cuộc giao dòch thành
2
khai và duy trì các cuộc giao dòch thành
công với KH trong thò trường mục tiêu.
Như vậy môi trường Marketing của DN
bao gồm môi trường vi mô và môi trường vó
mô, chính chúng tạo ra cơ hội và thách thức
cho DN đó.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
Văn hoá
Tự nhiên
Dân số
Doanh
3
Luật
pháp
Công
nghệ
Kinh tế
Doanh
nghiệp
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.1 Môi trường dân số
 Qui mô, tốc độ tăng, lứa tuổi, giới tính, dân tộc, trình
độ, nghề nghiệp của dân số đều có ảnh hưởng đến
Marketing.
 Sự dịch chuyển dân số: từ nông thôn về thành thò, từ
nội thành ra ngoại thành đã tác động đến việc chuyển
dòch kinh tế.
4
dòch kinh tế.
 Những thay đổi về cơ cấu tuổi tác trong quần chúng:
tỷ lệ sinh thấp ở một số nước tạo ra một cơ cấu tuổi già
trong dân chúng, tuổi thọ trung bình tăng lên.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.1 Môi trường dân số (tt)
 Sự thay đổi về cơ cấu gia đình: ngày càng có nhiều
thanh niên sống độc thân, độc lập với gia đình,hộ ít con.
Phụ nữ có vai trò ngày càng cao trong xã hội, họ có việc
làm và độc lập về tài chính.
 Kinh tế, văn hóa, giáo dục phát triển tạo ra một tỷ lệ
5
 Kinh tế, văn hóa, giáo dục phát triển tạo ra một tỷ lệ
lớn dân số có trình độ cao,gia tăng số lượng công nhân
áo trắng trong cơ cấu lao động xã hội và do đó nhu cầu
tiêu dùng cũng thay đổi.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.2 Môi trường kinh tế
Thu nhập và kiểu phân phối thu nhập của dân
chúng quyết đònh việc mua hàng của họ.
 Lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng đến việc thu
hút đầu tư trong cũng như ngoài nước.
6
 Các giai đoạn của chu kỳ kinh tế: phát triển–
phồn vinh–suy thoái–phục hồi, ảnh hưởng đến
SX.
 Xu hướng chi tiêu: SP có chất lượng và giá cả
cao ngày càng được được ưa chuộng.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.3 Môi trường tự nhiên
Có sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm :
 Tài nguyên vô hạn (không khí, nước,ánh
sáng,gió)
 Tài nguyên hữu hạn tái tạo được (rừng, thực
7
 Tài nguyên hữu hạn tái tạo được (rừng, thực
phẩm)
 Tài nguyên hữu hạn không tái tạo được (dầu
thô, than đáù, đồng, kẽm, platinium)
Chi phí năng lượng phục vụ sản xuất ngày càng
tăng cao như chi phí gas, xăng dầu, than đá, điện .
Mức độ ô nhiễm môi trường đến mức báo động.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.4 Môi trường công nghệ
 Có sự tiến bộ nhanh chóng về công nghệ.
 Khởi đầu cho những ngành công nghiệp mới.
 Cơ hội đổi mới là vô tận.
 Doanh nghiệp quan tâm đến việc cải tiến thứ yếu
cho SP.
8
cho SP.
 Chi phí nghiên cứu và phát triển tăng lên.
 Có sự can thiệp của nhà nước trong việc ứng
dụng công nghệ.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.5 Môi trường văn hóa
Văn hóa là hệ thống các giá trò, các truyền
thống, các niềm tin và các chuẩn mực, được
truyền từ đời này sang đời khác và được thể
hiện qua việc ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, thờ
cúng, lễ hội, giao tiếp …
 Văn hóa cốt lõi thường bền vững,khó biến
9
 Văn hóa cốt lõi thường bền vững,khó biến
đổi.
 Văn hóa thứ phát thường bò thay đổi.
 Các nhóm văn hóa nhỏ được hình thành từ
các vùng,dân tộc,tôn giáo,lứa tuổi,giới tính.
 Xu hướng thay đổi của văn hóa: coi trọng sức
khỏe, thời gian rãnh rỗi, sự trẻ trung, sự thoải
mái.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.1.6 Môi trường pháp luật
 Mỗi chế độ chính trò xã hội đều có hệ thống
pháp luật để điều chỉnh các hoạt động sản xuất
tiêu dùng trong xã hội.
 Pháp luật bao gồm hiến pháp, các đạo luật,
pháp lệnh, nghò đònh, chỉ thò, thông tư.
10
 Pháp luật bao gồm hiến pháp, các đạo luật,
pháp lệnh, nghò đònh, chỉ thò, thông tư.
 Pháp luật có chức năng: bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi của các
doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi rộng lớn của
xã hội.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.2. MÔI TRƯỜNG VI MÔ
Nhà
cung ứng
Các trung
gian
Marketing
Khách
hàng
Doanh
nghiệp
Đối thủ cạnh
11
Đối thủ cạnh
tranh
Công chúng
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.2.1 Doanh nghiệp
Ban Lãnh
Bộ phận
tài
chính
Bộ
phận
R&D
Bộ phận
Bộ phận
12
Ban Lãnh
Đạo
Bộ phận
kế toán
Bộ phận
marketing
Bộ phận
sản xuất
Bộ phận
mua vật
tư
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.2.2 Nhà cung ứng
 Cung cấp các nguồn lực cho công ty như SP,
dòch vụ, nguyên nhiên vật liệu và nhân lực.
 Các nhà Marketing cần phải nắm bắt được
khả năng cung ứng của họ cả về chất lẫn lượng.
 Sự gia tăng giá cả từ phía nhà cung ứng cũng
13
 Sự gia tăng giá cả từ phía nhà cung ứng cũng
gây khó khăn cho các hoạt động doanh nghiệp.
 Sự gia tăng chi phí, sự thiếu hàng trong ngắn
hạn gây tác hại đến khả năng thoả mãn khách
hàng mục tiêu của doanh nghiệp trong dài hạn.
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam
2.2.3 Trung gian Marketing
 Trung gian phân phối: gồm các nhà bán buôn,
bán lẻ, đại lý, người môi giới.
 Các tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty tài
chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán …
14
chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán …
 Các cơ sở dòch vụ trung gian như công ty vận tải,
kho bãi, quảng cáo, tư vấn, nghiên cứu thò trường
…
Tổng hợp bởi Nguyễn Kim Nam

cac nguyen to thuoc nhom 1


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "cac nguyen to thuoc nhom 1": http://123doc.vn/document/569447-cac-nguyen-to-thuoc-nhom-1.htm




NHÓM IA
NHÓM IA


NHÓM IA
NHÓM IA


TÍNH CHẤT CỦA NHÓM IA
TÍNH CHẤT CỦA NHÓM IA
•
Nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi thấp, giảm dần từ
Li đến Cs.
•
Các kim loại kiềm đều nhẹ, Li nổi lên trên dầu hoả, Na
và K nổi trên nước. Các kim loại kiềm đều mềm, có
thể cắt bằng dao.   
•
Kim loại kiềm có độ dẫn điện cao.
•
Kim loại kiềm ở trạng thái tự do hay hợp chất dễ bay
hơi của chúng khi đưa vào ngọn lửa không màu làm
cho ngọn lửa có màu đặc trưng như: Li cho màu đỏ
tía, Na màu vàng, K màu tím, Rb màu tím hồng, Cs
màu xanh lam 
•
Các kim loại kiềm có thể hoà tan lẫn nhau và đều dễ
tan trong Hg tạo hỗn hống và tan được trong amoniac
lỏng. Các hỗn hống được dùng làm chất khử mạnh.


TÍNH CHẤT CỦA NHÓM IA
TÍNH CHẤT CỦA NHÓM IA
•
Thể hiện tính khử mạnh và tính khử đó tăng đều đặn
từ Li đến Cs.
•
Các kim loại kiềm tự bốc cháy trong khí quyển F
2
, Cl
2

tạo các halogenua. Với brôm lỏng thì K, Rb, Cs gây nổ
mạnh còn Li và Na chỉ tương tác ở trên bề mặt. Với
iot, kim loại kiềm chỉ tương tác khi đun nóng. 
•
Ở điều kiện thường và trong không khí khô, các kim
loại kiềm bị oxi hoá thành Li
2
O, Na
2
O
2
, KO
2
, RbO
2
và
CsO
2
, ngoài ra còn có một ít Li
3
N, Na
2
O, K
2
O. Trong
không khí ẩm, các oxit của kim loại kiềm kết hợp với
hơi nước tạo hiđroxit, rồi hiđroxit kết hợp với CO
2
biến
thành muối cacbonat.
•
Khi đun nóng, các kim loại kiềm trực tiếp với H
2
, S,
N
2
,C, Si


TÍNH CHẤT CỦA NHÓM IA
TÍNH CHẤT CỦA NHÓM IA
•
Các kim loại kiềm phản ứng mãnh liệt với nước do có
thế điện cực rất thấp: Li không cho ngọn lửa; Na nóng
chảy thành hạt tròn, nổi và chạy trên mặt nước, hạt
lớn có thể bốc cháy; K bốc cháy ngay, còn Rb và Cs
gây nổ.
2M + 2H
2
O → 2MOH + H
2

•
Khi đun nóng chảy trong khí NH
3
, các kim loại kiềm dễ
tạo amiđua
2Na + NH
3
2NaNH
2
+ H
2
•
Trong các kim loại kiềm, Li có thế điện cực chuẩn âm
nhất (E
0
= -3,01V) nhưng có hoạt tính kém so với các
kim loại kiềm khác vì Li
+
có năng lượng hiđrat hoá lớn
làm cân bằng dịch chuyển theo chiều tạo Li
+
.
Li  Li
+
+ e
-

 →
C
0
350


ĐIỀU CHẾ NHÓM IA
ĐIỀU CHẾ NHÓM IA
•
Các kim loại kiềm thường được điều chế bằng cách khử các ion
M
+
trong điều kiện không có nước:
M
+
+ e
-
→ M
(R)

•
Na, K có thể điều chế bằng cách điện phân nóng chảy muối
clorua hay hiđroxit trong điều kiện không cho sản phẩm tiếp xúc
không khí.
•
Với Na, người ta dùng thùng điện phân bằng thép, bên trong lót
gạch chịu lửa, anôt bằng than chì, catôt bằng sắt, giữa 2 cực có
màng ngăn. Chất điện phân là hỗn hợp gồm NaCl với 25%NaF
và 12%KCl, điện phân ở 610-650
0
C.
•
Li có thể điều chế bằng cách điện phân hỗn hợp LiCl và KCl
nóng chảy.
•
Rb và Cs được điều chế bằng cách dùng kim loại Ca khử các
RbCl và CsCl ở nhiệt độ cao (700
0
C) và trong chân không.
2RbCl + Ca CaCl
2
+ Rb
Rb và Cs bay hơi và được ngưng tụ lại.
→
0
t


ĐIỀU CHẾ NHÓM IA
ĐIỀU CHẾ NHÓM IA
SƠ ĐỒ THIẾT BỊ ĐiỆN
PHÂN ĐIỀU CHẾ Na
1. Thùng điện phân
2. Cực âm bằng sắt
3. Cực dương bằng than
chì
4. Bộ góp Na
5. Chuông


LITI
LITI


NATRI
NATRI


KALI
KALI

Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014

Lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng": http://123doc.vn/document/569664-loi-trong-trach-nhiem-dan-su-boi-thuong-thiet-hai-ngoai-hop-dong.htm


Li trong trỏch nhim dõn s bi thng thit
hi ngoi hp ng

Bựi Th Thy Chung

Khoa Lut
Lun vn ThS ngnh: Lut Dõn s; Mó s: 60 38 30
Ngi hng dn: PGS. TS. H Th Mai Hiờn
Nm bo v: 2008

Abstract: Tp trung phõn tớch, ỏnh giỏ nhng quy nh phỏp lut v li trờn c s ch ra
ý ngha ca li vi cỏc vn trong trỏch nhim dõn s bi thng thit hi ngoi hp
ng. a ra mt s hn ch v ra nhng yờu cu cng nh s cn thit phi hon
thin hn na nhng quy nh phỏp lut v li trong trỏch nhim dõn s bi thng thit
hi ngoi hp ng. T ú xut mt s gii phỏp cho vic hon thin vn li trong
trỏch nhim dõn s bi thng thit hi v hp ng núi riờng v phỏp lut v trỏch
nhim dõn s bi thng thit hi ngoi hp ng núi chung.

Keywords: Bi thng thit hi; Hp ng; Lut dõn s; Phỏp lut Vit Nam


Content
Lời nói đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài.

Xây dựng một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mang đậm tính nhân dân với đặc tr-ng là đề
cao các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con ng-ời, nguyên tắc bình đẳng, công bằng là lý
t-ởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là t- t-ởng chỉ đạo, xuyên suốt của Đảng và Nhà n-ớc
ta Trong một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, khi mà các giá trị quyền con ng-ời đ-ợc tôn vinh
và là đích đến của toàn xã hội thì việc giải quyết kịp thời vấn đề bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp
đồng cũng đ-ợc coi là một đại l-ợng để đánh giá uy tín và chất l-ợng của nền dân chủ đó.
Về nguyên tắc trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ đ-ợc đặt ra khi
có đủ bốn điều kiện: thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại trái pháp luật, lỗi, mối quan hệ nhân
quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi gây thiệt hại trái pháp luật. Trong đó điều kiện lỗi có ý nghĩa
quan trọng với việc chứng minh vấn đề trách nhiệm, xác định chủ thể phải bồi th-ờng và mức bồi
th-ờng. Tuy nhiên, việc nhận thức đ-ợc nó không phải là một vấn đề đơn giản.
Việc nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề lỗi nói riêng và trách nhiệm dân sự bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung có liên hệ mật thiết với việc xây dựng thành công một
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà n-ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói
chung bởi vì đây là vấn đề gắn liền với các quyền tự nhiên của con ng-ời, với vấn đề đảm bảo
công lý và công bằng xã hội.
Xuất phát từ tính cấp thiết, từ ý nghĩa cũng nh- tầm quan trọng của việc nghiên cứu vấn đề
lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tôi đã chọn đề tài Lỗi trong
trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cùng với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, một số đề tài khoa học cấp Bộ về
trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng, về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đã đ-ợc đặt ra nghiên cứu và hoàn thiện; chúng ta cũng đã
tổ chức đ-ợc nhiều cuộc hội thảo, toạ đàm trong n-ớc cũng nh- quốc tế liên quan đến vấn đề này
nh- các cuộc hội thảo Bộ luật dân sự sửa đổi do Nhà pháp luật Việt Pháp tổ chức tại Hà Nội.
Ngoài ra còn có nhiều bài báo, bài nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành: báo Pháp
luật thành phố Hồ Chí Minh, báo Pháp luật Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Tuy
nhiên, hầu hết các bài viết, các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung vào một số khía cạnh về
trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng. Một vấn đề cần phải thừa nhận là có rất
ít công trình nghiên cứu, bài viết về yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài
hợp đồng, nếu có cũng chỉ đ-ợc nhắc đến một cách chung chung; có rất ít tác giả đề cập một
cách toàn diện và sâu sắc về vấn đề này.
3. Giới hạn và nhiệm vụ nghiên cứu
Bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng có thể nảy sinh trong bất kỳ một quan hệ nào: Lao
động hành chính, hình sự, Hơn nữa là một đề tài thuộc chuyên ngành pháp luật dân sự, chúng
tôi chỉ tập trung khai thác các quy định của Bộ luật dân sự về vấn đề này. Cụ thể hơn đó chính là
các quy định pháp luật của Bộ luật dân sự về lỗi tại Điều 308 và trong chế định trách nhiệm bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng tại ch-ơng XXI Phần thứ ba.
Nghiên cứu đề tài Lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
nhằm đ-a ra một bức tranh toàn cảnh về trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng
và lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng, nhận thức đối với vấn đề này
trong xã hội nói chung và của những ng-ời nghiên cứu áp dụng pháp luật nói riêng; đánh giá
những thành tích đã đạt đ-ợc và những bất cập, hạn chế còn tồn tại; trên cơ sở đó đ-a ra ý kiến đề
xuất h-ớng hoàn thiện.
4. Cơ sở nghiên cứu của đề tài
- Cơ sở khoa học của đề tài: Đề tài đ-ợc thực hiện trên cơ sở chủ tr-ơng, đ-ờng lối, chính
sách của Đảng và Nhà n-ớc về công cuộc cải cách t- pháp, xây dựng nhà n-ớc pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, trong đó có việc hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm
dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Cơ sở thực tiễn của đề tài: Đánh giá thực trạng về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng
thiệt hại ngoài hợp đồng thông qua các số liệu thống kê và thực tiễn nhận thức về lỗi trong trách
nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng, về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng
thiệt hại ngoài hợp đồng qua một số bài viết, bài nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí.
5. Ph-ơng pháp nghiên cứu
Về ph-ơng pháp nghiên cứu, trong luận văn này, tôi đã sử dụng ph-ơng pháp cụ thể nh-
phân tích, logic và lịch sử, luật học so sánh giữa những quy định cùng loại, đánh giá, tổng hợp
1 2
một số tài liệu, số liệu, thông tin trong các báo cáo, tạp chí, bài báo, số chuyên đề, sách tham
khảo, đề tài nghiên cứu khoa học, các văn bản pháp luật có liên quan cùng các gợi ý của cô h
ớng dẫn để hoàn thành luận văn này.
6. Điểm mới của đề tài
Có thể nêu ra một số điểm mới của luận văn về đề tài Lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nh- sau:
Thứ nhất, trong phạm vi luận văn này, ng-ời viết tập trung phân tích, đánh giá những quy
định pháp luật về lỗi trên cơ sở chỉ ra ý nghĩa của lỗi, cơ sở của lỗi với các vấn đề trong trách
nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng. D-ới góc độ nhận thức khoa học, việc nghiên
cứu chế định lỗi để đ-a ra mô hình lý luận của nó không chỉ có ý nghĩa lý luận - thực tiễn mà còn
có ý nghĩa xã hội - pháp lý quan trọng.
Thứ hai, luận văn đ-a ra một số hạn chế và đề ra những yêu cầu cũng nh- sự cần thiết phải
hoàn thiện hơn nữa những quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại
ngoài hợp đồng đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
Thứ ba, ng-ời viết đề xuất một số giải pháp cho việc hoàn thiện vấn đề lỗi trong trách
nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại về hợp đồng nói riêng và pháp luật về trách nhiệm dân sự bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Về kết cấu của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn đ-ợc chia thành 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Những vấn đề lý luận về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài
hợp đồng.
Ch-ơng 2: Những quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp
đồng theo Bộ luật dân sự Việt Nam.
Ch-ơng 3: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng và một số giải pháp.

Ch-ơng 1
Những vấn đề lý luận về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1. Khái quát về trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng và mối
quan hệ giữa lỗi với trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý. ở
mức độ khái quát, về bản chất trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng là một
dạng cụ thể của trách nhiệm dân sự, đ-ợc hiểu là nghĩa vụ phải gánh chịu những biện pháp c-ỡng
chế, áp dụng với ng-ời có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của ng-ời khác mà gây thiệt hại và
phải chịu trách nhiệm bồi th-ờng cho ng-ời bị thiệt hại.
Cũng nh- các trách nhiệm pháp lý khác, trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp
đồng đ-ợc áp dụng với chủ thể có hành vi vi phạm, có năng lực trách nhiệm pháp lý và có lỗi.
Trong đó lỗi là căn cứ có ý nghĩa quan trọng. Khi nói đến lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng cũng cần xem xét đến hai khía cạnh: lỗi của chủ thể gây thiệt hại
và lỗi của chủ thể bị thiệt hại. Luận văn phân tích tr-ờng hợp lỗi của chủ thể gây thiệt hại, lỗi của
chủ thể bị thiệt hại và cả tr-ờng hợp lỗi của chủ thể gây thiệt hại và chủ thể bị thiệt hại.
1.2. Cơ sở của những quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng
thiệt hại ngoài hợp đồng.
Lỗi chính là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại
ngoài hợp đồng đối với một ng-ời về hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho xã hội của họ. Vậy
dựa trên cơ sở nào mà xã hội có thể buộc con ng-ời phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ.
Hay nói cách khác dựa trên những nguyên tắc lý luận nào để nhà làm luật ghi nhận yếu tố lỗi
trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong phần này tôi xin trình bày
những cơ sở của việc quy định yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp
đồng. Đồng thời luận văn cũng lý giải những tr-ờng hợp trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại
ngoài hợp đồng phát sinh không phụ thuộc vào yếu tố lỗi.
Con ng-ời là vốn quý nhất trong xã hội. Quyền đ-ợc bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức. Nó là quyền tự nhiên của
con ng-ời, từ khi sinh ra con ng-ời đã có quyền đ-ợc h-ởng và có quyền đòi hỏi xã hội thừa
nhận. Vì vậy sự đảm bảo bằng pháp luật cho những quyền và lợi ích hợp pháp này đ-ợc thực hiện
cũng đòi hỏi là sự đảm bảo mang tính tuyệt đối.
1.3. Khái niệm lỗi, hình thức lỗi, mức độ lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt
hại ngoài hợp đồng
1.3.1. Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng
Hiện nay, trong các quy định pháp luật, ch-a có một quy định nào ghi nhận hay đ-a ra một
định nghĩa chính xác, đầy đủ về lỗi. Do đó, chúng ta chỉ có thể bàn về lỗi dựa trên cơ sở các quan
điểm khoa học pháp lý.
Luật gia ng-ời Pháp Planiol cho rằng: Lỗi là sự vi phạm nghĩa vụ đã sẵn có. ở Việt
Nam, khái niệm lỗi đ-ợc xem xét d-ới nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung có hai quan điểm
sau đa số các chuyên gia pháp lý đều thừa nhận rộng rãi: Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái
độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình cũng nh- đối với hậu quả của
hành vi đó. [24]. Một hành vi gây thiệt hại bị coi là có lỗi nếu hành vi ấy là kết quả của sự tự
lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để
lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội[22].
Bộ luật dân sự Việt Nam không đ-a ra khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung
và lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng mà chỉ ghi nhận có
yếu tố lỗi trong loại trách nhiệm này tại Điều 308 và Điều 604. Vì vậy khi tìm hiểu khái niệm lỗi
chúng tôi sẽ dựa trên hai quan niệm nêu trên. Thực chất hai quan niệm này đều thống nhất trong
cách hiểu về bản chất của lỗi nh-ng định nghĩa lỗi dựa trên hai ph-ơng diện khác nhau: hình thức
5 6
và nội dung. Nh- vậy, kết hợp cả hai quan điểm trên, chúng ta có một cách hiểu đúng đắn và toàn
diện về lỗi. Luận văn đ-a ra những phân tích cụ thể về khái niệm lỗi trên hai ph-ơng diện
khác nhau.
1.3.2. Hình thức và mức độ lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp
đồng
Hình thức lỗi khác nhau phản ánh những thái độ tâm lý khác nhau của chủ thể đối với hành
vi mà mình thực hiện. Nếu trong trách nhiệm hình sự, hình thức và mức độ lỗi của ng-ời phạm
tội có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt thì trong quan hệ dân sự, đặc biệt là
trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng, hình thức và mức độ lỗi có ý nghĩa
trong việc xác định mức độ bồi th-ờng thiệt hại và trong khi xem xét các căn cứ để giảm mức độ
bồi th-ờng thiệt hại cho ng-ời gây thiệt hại.
Theo Điều 308 Bộ luật dân sự: Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc vô ý trừ tr-ờng hợp có thoả thuận
khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 604 Bộ luật dân sự quy định: Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài
sản của pháp nhân hoặc của các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Nh- vậy, từ hai điều luật cho phép rút ra kết luận về hình thức lỗi trong trách nhiệm dân sự
nói chung, trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng là lỗi cố ý và lỗi vô
ý.
Với nội dung này, luận văn đ-a ra những phân tích cụ thể về hình thức của lỗi (lỗi cố ý và
lỗi vô ý) dựa trên hại mặt nội dung và hình thức với những đặc điểm cụ thể về lý trí và ý chí của
chủ thể.
Về mức độ lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng, tr-ớc đây
trong Thông tư 173 (23/3/1972) có đề cập đến dưới dạng các thuật ngữ lỗi vô ý nặng, vô ý
nhẹ, vô ý nghiêm trọng, mức độ lỗi cố ý không được nói đến. Tuy nhiên vấn đề này không
đ-ợc nói đến trong Bộ luật dân sự. Mức độ lỗi không thể đ-ợc coi là căn cứ quyết định trong việc
quy kết trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng. Quy kết trách nhiệm dân sự bồi th-ờng
thiệt hại ngoài hợp đồng luôn luôn phải quan tâm tới hình thức lỗi đ-ợc quy định tại Điều 308 Bộ
luật dân sự. Điều này khác hẳn với các quy định của Bộ luật hình sự. Trong trách nhiệm hình sự,
mức độ lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt.
1.4. Khái quát chung sự phát triển của những quy định pháp luật dân sự về lỗi trong
trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
Bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có lịch sử sớm nhất của
pháp luật dân sự. Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau có những quy định khác nhau về vấn đề
này. T- duy biện chứng đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận vấn đề này trong sự phát triển của nó.
7 8
Trong luật dân sự cổ Việt Nam, cụ thể là nghiên cứu pháp luật thời Lê (Quốc triều hình
luật) và pháp luật thời nhà Nguyễn (Hoàng Việt luật lệ) chúng ta nhận thấy rằng: lỗi với t- cách
là cơ sở của trách nhiệm dân sự đã đ-ợc đặt ra. Tuy nhiên, do trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt
hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung ch-a có sự phân định rõ với trách
nhiệm hình sự. Trong các điều luật cụ thể không thấy có quy định nào mang tính khái quát về lỗi
trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng
Đến thời kỳ Pháp thuộc, trách nhiệm dân sự đã đ-ợc tách ra khỏi trách nhiệm hình sự,
những chế tài hình sự trong trách nhiệm dân sự không đ-ợc áp dụng nữa và yếu tố lỗi đ-ợc ghi
nhận chính thức trong luật, đ-ợc coi là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại
ngoài hợp đồng.
Dân luật Bắc kỳ và Dân luật trung kỳ đ-ợc áp dụng ở n-ớc ta cho đến năm 1959 khi có Chỉ
thị 772 của Toà án nhân dân tối cao đ-a ra quyết định đình chỉ áp dụng luật lệ của đế quốc và
phong kiến. Từ năm 1960 đến tr-ớc khi có Bộ luật dân sự, vấn đề lỗi trong trách nhiệm dân sự
bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đ-ợc đề cập đến trong một số văn bản luật. Tuy nhiên,
vấn đề này ch-a đ-ợc xem xét, nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện, ch-a có một văn bản
pháp luật nào quy định cụ thể mà các quy phạm pháp luật về vấn đề này chỉ nằm rải rác, lẻ tẻ
không mang tính hệ thống.
Cho đến khi Bộ luật dân sự ra đời, cùng với việc trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp
đồng trở thành một chế định riêng nằm trong một ch-ơng riêng của Bộ luật, vấn đề lỗi đ-ợc
khẳng định rõ ngay tại điều đầu tiên của ch-ơng. Theo đó trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại
ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ bốn yếu tố: có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại thực tế
xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, có lỗi. Một điểm
mới tiến bộ khác hẳn với các quy định tr-ớc đây là trong Bộ luật dân sự không chỉ ghi nhận yếu
tố lỗi mà còn có sự giải nghĩa rất cụ thể về hình thức lỗi d-ới ph-ơng diện luật học, ảnh h-ởng
của lỗi với việc xác định trách nhiệm bồi th-ờng. Ngoài ra, khác hẳn với Hoàng Việt Trung kỳ,
theo Bộ luật dân sự Việt Nam, trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh
ngay cả khi không có yếu tố lỗi trong một số tr-ờng hợp.
Ch-ơng 2
Lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự Việt Nam
2.1. Lỗi trong mối liên hệ với các điều kiện khác làm phát sinh trách nhiệm dân sự bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại phải đ-ợc xem xét trong mối
quan hệ biện chứng, thống nhất và đầy đủ. Do đó để đánh giá đúng, chính xác về lỗi của chủ
thể đồng thời làm sáng tỏ đ-ợc trách nhiệm luôn phải đặt lỗi trong mối quan hệ với các căn cứ
khác làm phát sinh trách nhiệm.
2.1.1. Có thiệt hại xảy ra
9 10
Thiệt hại là tiền đề quan trọng có tính bắt buộc của trách nhiệm bồi th-ờng. Nếu không có
thiệt hại xảy ra thì sẽ không cần thiết phải đặt ra vấn đề có trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài
hợp đồng hay không và đ-ơng nhiên khi đó việc xem xét lỗi cũng nh- các căn cứ khác sẽ bị bỏ
qua. Khi đã có thiệt hại và thiệt hại đó do hành vi trái pháp luật gây ra thì đôi khi tính chất của
thiệt hại lại phản ánh đ-ợc đúng mức độ lỗi của chủ thể.
2.1.2. Có hành vi vi phạm pháp luật
Gữa lỗi và hành vi vi phạm pháp luật có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau và với vấn
đề trách nhiệm bồi th-ờng. Trong phần này luận văn cũng phân tích cụ thể mối liên hệ mật thiết
đó.
2.1.3. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
Đặt lỗi trong sự liên hệ với yếu tố mối t-ơng quan nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại trái
pháp luật và thiệt hại xảy ra cho thấy lỗi luôn luôn tiềm ẩn trong các hành vi gây thiệt hại trái
pháp luật của chủ thể. Trong tình trạng đa nguyên nhân như ở trên thì lỗi của các chủ thể cần
đ-ợc nhìn nhận, phân tích rạch ròi về tác động riêng và chung của nó với thiệt hại xảy ra. Do vậy
cần thông qua hành vi trái pháp luật và tính chất của thiệt hại mà đánh giá lỗi của chủ thể nào
đóng vai trò là chính hay phụ, là chủ yếu hay thứ yếu. Có nh- thế mới xác định đ-ợc đúng mức
độ trách nhiệm cho từng chủ thể nhất là trong những tr-ờng hợp trách nhiệm bồi th-ờng liên đới
hay hỗn hợp.
2.2. Lỗi với việc xác định trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng
2.2.1. Phân biệt lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng với lỗi
trong các trách nhiệm pháp lý khác.
Với bất kỳ một loại trách nhiệm pháp lý nào, lỗi cũng đều có ý nghĩa là cơ sở phát sinh
trách nhiệm. Tuy nhiên do đặc thù của từng loại quan hệ mà yếu tố lỗi ở từng loại có những điểm
khác nhau. Trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng không phát sinh dựa trên cơ
sở hợp đồng mà trên cơ sở do pháp luật quy định, là một dạng cụ thể của trách nhiệm dân sự nói
chung. Do đó khi xem xét lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng rất
cần thiết phải tìm hiểu sự khác nhau giữa lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài
hợp đồng với lỗi trong các trách nhiệm pháp lý khác, đặc biệt khi mà trách nhiệm dân sự bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng đ-ợc gộp vào giải quyết đồng thời với trách nhiệm pháp lý đó.
Trên cơ sở nhận thức đ-ợc sự khác nhau sẽ hiểu đ-ợc ý nghĩa của lỗi trong từng loại trách nhiệm
cụ thể và vì thế góp phần giúp cho việc xác định trách nhiệm đ-ợc đúng đắn.
2.2.1.1. Phân biệt lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng và lỗi
trong trách nhiệm hình sự.
2.2.1.2. Phân biệt lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng và lỗi
trong trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
2.2.2. Lỗi trong việc xác định loại trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp
đồng.
11 12
Nh- đã trình bày ở phần tr-ớc, giữa hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại xảy ra ít
khi tồn tại mối quan hệ đơn lẻ tức là chỉ có một hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và một kiểu
thiệt hại. Thực tế cho thấy mối quan hệ này diễn ra rất phức tạp, theo nhiều chiều khác nhau. Một
thiệt hại có thể do một hay nhiều nguyên nhân gây ra, một hay nhiều nguyên nhân đó có thể do
hành vi của một hay nhiều ng-ời trực tiếp hay không trực tiếp gây ra. Ngoài ra trong trách nhiệm
dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng có những tr-ờng hợp thiệt hại đ-ợc tạo nên do lỗi cả
từ phía ng-ời gây thiệt hại và ng-ời bị thiệt hại. Chính mối quan hệ đa chiều phức tạp đó đã tạo
nên các loại trách nhiệm khác nhau: trách nhiệm riêng rẽ, trách nhiệm liên đới hay trách nhiệm
hỗn hợp. Trong bất kỳ tr-ờng hợp nào việc xác định đúng chính xác loại trách nhiệm của từng
chủ thể cũng hết sức quan trọng. Tuỳ từng tr-ờng hợp cụ thể mà vấn đề trên đ-ợc xem xét theo
các loại trách nhiệm nh- sau:
2.2.2.1. Lỗi trong trách nhiệm riêng rẽ
2.2.2.2. Lỗi trong trách nhiệm liên đới
2.2.2.3. Lỗi trong trách nhiệm hỗn hợp
Nh- vậy đánh giá một cách tổng quát, yếu tố lỗi có sự chi phối quan trọng và tạo ra sự khác
nhau cơ bản của ba loại trách nhiệm.
2.3. Lỗi với việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại
ngoài hợp đồng
Chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng là chủ thể có
hành vi gây thiệt hại trái pháp luật cho ng-ời khác về danh dự, uy tín, tài sản, tính mạng, sức
khoẻ.
Ng-ời gây ra thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà n-ớc,
cơ quan tiến hành tố tụngnhưng việc bồi thường thiệt hại phải do người có khả năng bồi
th-ờng và chính họ phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc dù hành vi gây ra thiệt hại có thể
không do chính họ thực hiện. Bộ luật dân sự quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi th-ờng
thiệt hại của cá nhân (Điều 606) mà không quy định về năng lực bồi th-ờng của các chủ thể
khác. Bởi vậy, các chủ thể khác luôn luôn có năng lực chịu trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại.
2.4. Lỗi với việc xác định mức độ bồi th-ờng thiệt hại
Việc xác định hình thức lỗi có thể làm giảm mức độ bồi th-ờng thiệt hại trên thực tế. Đó là
để đảm bảo tính khả thi của bản án, quyết định của Toà án, phù hợp với những điều kiện thực tế
của các đ-ơng sự tham gia quan hệ bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng, Khoản 2 Điều 605 Bộ
luật dân sự quy định: Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi vô ý mà
gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế tr-ớc mắt và lâu dài của mình.
Ngoài ra yếu tố lỗi còn chi phối tới việc xác định mức bồi th-ờng thiệt hại trong tr-ờng hợp
sau: Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải
bồi th-ờng phần thiệt hại t-ơng ứng với mức độ lỗi của mình, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do
13 14
lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường (Điều 617 Bộ luật dân
sự).
Hơn nữa, dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận (Điều 7 Bộ luật dân
sự) một trong những nguyên tắc đặc tr-ng cơ bản của Bộ luật dân sự chi phối hầu hết các quan hệ
dân sự, các bên trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể thoả thuận về mức bồi
thường (Khoản 1 Điều 605 Bộ luật dân sự). Như vậy, vấn đề xác định lỗi là cơ sở quan trọng để
ấn định mức bồi th-ờng, nhất là đối với việc giảm mức bồi th-ờng và xác định việc ng-ời gây
thiệt hại phải bồi th-ờng hay không phải bồi th-ờng. Luận văn cũng chỉ ra vấn đề trên trong từng
loại trách nhiệm của trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
2.5. Lỗi trong một số tr-ờng hợp bồi th-ờng thiệt hại cụ thể.
Luận văn phân tích yếu tố lỗi trong từng tr-ờng hợp bồi th-ờng cụ thể của trách nhiệm dân
sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng với những đặc điểm chung và riêng về lỗi trên cơ sở lý luận
nh- đã trình bày:
2.5.1. Bồi th-ờng thiệt hại do v-ợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, v-ợt quá yêu cầu
của tình thế cấp thiết.
2.5.2. Bồi th-ờng thiệt hại do ng-ời dùng chất kích thích gây ra.
2.5.3. Bồi th-ờng thiệt hại do làm ô nhiễm môi tr-ờng.
2.5.4. Bồi th-ờng thiệt hại do ng-ời của pháp nhân, ng-ời làm công, học nghề gây ra.
2.5.5. Bồi th-ờng thiệt hại do công chức, viên chức Nhà n-ớc, ng-ời có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
2.5.6. Bồi th-ờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
2.5.7. Bồi th-ờng thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả.
2.5.8. Bồi th-ờng thiệt hại do súc vật, cây cối, nhà ở, công trình xây dựng gây ra (Điều
625, 626, 627 Bộ Luật Dân Sự).
Ch-ơng 3
Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt
hại ngoài hợp đồng và một số giải pháp
3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
Bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng là một vấn đề có liên quan trực tiếp đến lợi ích giữa
các bên của mối quan hệ bồi th-ờng cho nên các bên th-ờng ít thoả thuận và dàn xếp đ-ợc với
nhau về mức bồi th-ờng cụ thể. Khi đó vụ việc sẽ đ-ợc giải quyết tại Toà. Thực tiễn cho thấy bên
cạnh những vụ án đ-ợc giải quyết đúng đắn, bảo vệ kịp thời quyền lợi chính đáng của ng-ời bị
15 16
thiệt hại thì còn có nhiều vụ án mà sau khi xét xử lại xâm phạm đến quyền lợi của một trong hai
bên hoặc cả hai bên ng-ời bị hại, ng-ời gây thiệt hại. Luận văn nêu ra những bất cập sau đây
trong thực tiễn áp dụng trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng phản ánh yêu cầu tiếp
tục hoàn thiện chế định bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và lỗi trong trách nhiệm
dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng.
3.1.1. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trong các vụ đòi bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng, phần lớn là do lỗi của ng-ời gây thiệt hại. Từ
các số liệu trên cho thấy, cùng với công tác xét xử của các cấp Toà án, các quy định về trách nhiệm dân sự
bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và lỗi nói riêng trong Bộ luật dân sự đã phát huy hiệu lực
thực tế trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống. Quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân và tổ chức đã đ-ợc quan tâm đáng kể.
Vấn đề xác định trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án hình sự
cũng là vấn đề khó khăn còn gây nhiều tranh cãi. Vì vậy, vấn đề giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng luôn đ-ợc báo cáo công tác ngành Toà án cũng nh- trong những công văn
h-ớng dẫn công tác xét xử trong lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và tố tụng của Toà án nhân dân
Tối cao.
3.1.2. Một số nét về thực tiễn xét xử các vụ án liên quan tới trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại
ngoài hợp đồng
Qua tìm hiểu thực tiễn công tác xét xử tại các toà án cho thấy:
- Thứ nhất: Hiệu quả công tác xét xử của các cấp toà án trong lĩnh vực bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp
đồng còn ch-a cao, đặc biệt việc xem xét đến trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án
hình sự còn ch-a đ-ợc các thẩm phán quan tâm đúng mức.
- Thứ hai: Về việc áp dụng các qui định pháp luật về lỗi trong những tình huống cụ thể còn lúng
túng, ch-a thống nhất, đôi khi còn hiểu sai hẳn nội dung của điều luật.
- Thứ ba: Việc đánh giá lỗi ở chủ thể gặp nhiều khó khăn.
3.2. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và việc áp dụng pháp luật về lỗi trong
trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
3.2.1. Đánh giá chung các qui định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt
hại ngoài hợp đồng.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của tình hình kinh tế xã hội thì những hiện t-ợng tiêu cực gây thiệt
hại cho các chủ thể trong xã hội diễn ra ngày càng nhiều và đi liền với nó vấn đề trách nhiệm bồi th-ờng
thiệt hại ngoài hợp đồng cũng đ-ợc đặt ra.
Với sự ra đời của Bộ luật dân sự, các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài
hợp đồng đã đ-ợc ghi nhận một cách t-ơng đối đầy đủ. Trong Bộ luật dân sự, trách nhiệm bồi th-ờng thiệt
hại ngoài hợp đồng đ-ợc quy định tại ch-ơng V, Phần thứ ba. Bên cạnh các quy định cơ bản đ-ợc quy
17 18
định trong ch-ơng này, các quy định khác có liên quan còn nằm trong những phần khác nhau của Bộ luật
dân sự nh- Phần thứ nhất về các quy định chung, các quy định về nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự.
Kể từ khi Bộ luật dân sự có hiệu lực, các cơ quan Nhà n-ớc có thẩm quyền đã ban hành số l-ợng
đáng kể các văn bản h-ớng dẫn về vấn đề bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, ở mức độ khái
quát có thể thấy, các quy định pháp luật về bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng vẫn tồn tại một số bất cập
sau:
3.2.1.1. Các quy định pháp luật n-ớc ta về trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng
nói chung và lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng ch-a có sự gắn
kết với các quy định trong những phần khác của Bộ luật dân sự.
3.2.1.2. Thiếu những chuẩn mực pháp lý để làm cơ sở viện dẫn khi giải quyết những vụ việc cụ thể
trong việc xác định trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
3.2.1.3. Nội dung của điều luật còn mang tính chung chung, không cụ thể, rõ ràng.
3.2.1.4. Nội dung của điều luật còn có điểm ch-a hợp lý.
3.2.1.5. Các quy định về bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự không những mới
chỉ dừng lại ở các quy định mang tính nguyên tắc mà còn tồn tại những khoảng trống ch-a đ-ợc điều
chỉnh tr-ớc yêu cầu phát sinh trong thực tiễn.
3.2.2. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi
th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
Qua phân tích trên đây, trong phạm vi luận văn của mình, chúng tôi xin nêu ra một số kiến nghị nh-
sau:
3.2.2.1. Về khía cạnh lập pháp:
3.2.2.2. Về cơ chế phối hợp giải quyết yêu cầu đòi bồi th-ờng thiệt hại ngoại hợp đồng.
3.2.2.3. Nâng cao hiểu biết pháp luật của ng-ời dân nói chung và của các cán bộ, công chức Nhà
n-ớc, ng-ời có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng trong lĩnh vực bồi th-ờng thiệt hại
ngoài hợp đồng thông qua việc đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục và phổ biến pháp luật.
Qua đó giúp mỗi ng-ời ý thức đ-ợc hơn trách nhiệm của mình đối với chính các quyền dân sự của mình,
đối với các quyền dân sự của ng-ời khác và đối với loại ích chung của toàn xã hội./.

Kết luận

Lỗi là một trong những căn cứ xác định trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc
nghiên cứu lỗi không những nhằm xác định trách nhiệm bồi th-ờng mà thực chất là cách thức góp phần
giải quyết những tranh chấp về bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng một cách công bằng. Đây là vấn đề
liên quan trực tiếp tới lẽ công bằng trong xã hội, tới yêu cầu về nâng cao tính chịu trách nhiệm của mỗi
thành viên cộng đồng đối với hành vi của mình.
19 20
Quan hệ bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng đ-ợc điều chỉnh chủ yếu bởi Bộ luật dân sự, trong đó
có nhiều quy định ch-a rõ ràng, cơ quan Nhà n-ợc có thẩm quyền lại thiếu sự h-ớng dẫn chính thức trong
áp dụng pháp luật. Đây là nguyên nhân chủ yếu của những v-ớng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng
chế tài bồi th-ờng thiệt hại. Cùng với sự phát triển không ngừng của các quan hệ xã hội trong nền kinh tế
thị tr-ờng, các quan hệ bồi th-ờng thiệt hại có xu h-ớng gia tăng về số l-ợng và phức tạp về nội dung, đặc
biệt là vấn đề xác định lỗi của chủ thể gây thiệt hại, chủ thể bị thiệt hại và tr-ờng hợp lỗi hỗn hợp. Thực
trạng này của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và pháp
luật về trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung. Chính vì vậy, cùng với sự hoàn thiện
chế định trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật dân sự thì việc phải hoàn thiện
những quy định pháp luật về lỗi là vấn đề cần thiết phải quan tâm tới./.

References
Văn bản pháp luật
1. Bộ luật dân sự 1995.
2. Bộ luật dân sự 2005.
3. Bộ luật hình sự 1999.
4. Bộ luật hàng hải 1990.
5. Dân luật Sài Gòn.
6. Dân luật Trung Kỳ.
7. Dân luật Bắc Kỳ.
8. Hoàng Việt luật lệ.
9. Hoàng Việt trung kỳ hộ luật.
10. Luật hàng không dân dụng 1992.
11. Luật bảo vệ môi tr-ờng 1993.
12. Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/4/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao h-ớng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
13. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao h-ớng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng.
14. Quốc triều hình luật.
sách tham khảo
15. Hoàng Văn Hảo (1997), Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị, NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
16. Hoàng Thế Liên & Vũ Đức Giao (2001), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam Tập 1
Những quy định chung, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
17. Lê Kim Loan (1998), Trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật dân sự Việt
Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Viện nghiên cứu Nhà n-ớc và pháp luật, Thành phố Hồ Chí Minh.
18. Nguyễn Ngọc Hoà (1997), Luật Hình Sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB
Công an nhân dân, Hà Nội.
19. Nguyễn Mạnh Bách (1999), Nghĩa vụ dân sự, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
20. Phạm Thị Vân Hồng (2001), Lỗi trong trách nhiệm bồi th-ờng thiệt hại ngoài hợp đồng, Luận văn
cử nhân luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
21. Tr-ờng Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân
dân, Hà Nội.
22. Tr-ờng Đại học Luật Hà nội (2004), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam Tập 1, NXB Công an
nhân dân, Hà Nội.
23. Tr-ờng Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình luật hình sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
24. Tr-ờng Đại học Quốc gia Hà Nội Khoa Luật (2002), Giáo trình luật dân sự Việt Nam (Phần
chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
25. Tr-ờng Đại học Quốc gia Hà Nội Khoa Luật (1997), Giáo trình lý luận chung về Nhà n-ớc
và pháp luật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
26. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ t- pháp (1997), Bình luận khoa học một số vấn đề cơ
bản của Bộ luật dân sự, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
27. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ t- pháp (1998), Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt
Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
28. Vụ công tác lập pháp Bộ t- pháp (2005), Những nội dung mới của Bộ luật dân sự 2005, NXB T-
pháp, Hà Nội.
29. Vụ pháp luật Dân sự Kinh Tế Bộ t- pháp (2002), Tìm hiểu Bộ luật dân sự của n-ớc Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội thảo, báo, tạp chí
30. Ban biên tập Tạp chí Toà án nhân dân (2006), Về việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp
người bị thiệt hại có lỗi, Tạp chí Toà án nhân dân số 4 92/2006), tr. 12 14.
31. Đỗ Thanh Huyền (2004), Bồi thường tổn thất về tinh thần, Tạp chí Toà án nhân dân Số 11
(6/2006), tr. 30 32.
32. Đinh Thị Mai Ph-ơng (2002), Pháp luật, áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng ở Việt Nam Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội) Số
3/2002, tr. 53 59.
21 22