Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

225837

Chuyên đề tốt nghiệp
nghiêm ngặt quy định không áp dụng lãi suất kinh doanh vượt quá 150% lãi
suất cơ bản và không được thu phí đối với hoạt động cho vay. Mặc dù lãi suất
huy động tăng cao như vậy nhưng theo nghiên cứu của một số chuyên gia thì
thực sự đồng Việt Nam thu hút về ngân hàng lại không được như ý muốn của
các nhà quản lý và tình trạng thanh khoản vẫn luôn bị những áp lực rất căng
thẳng. Hậu quả là hoạt động kinh doanh của hầu hết các ngân hàng thương
mại bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí một vài ngân hàng nhỏ bị tê liệt.
Việc cho vay đối với khách hàng tại các ngân hàng hầu như bị đình chỉ, hầu
hết các ngân hàng chỉ ưu đãi cấp tín dụng theo hạn mức đối với những khách
hàng truyền thống, trong khi đó lãi suất cho vay cũng bị đẩy lên rất cao, ở
mức 18%/năm, rồi 21%/năm. Kết quả kinh doanh của các ngân hàng giảm sút
một cách nghiêm trọng, nhiều ngân hàng bị lỗ hàng trăm tỷ và hầu hết các
ngân hàng đều phải điều chỉnh giảm kế hoạch lợi nhuận năm 2008 khoảng 30-
40%. Tình hình đó đã gây ảnh hưởng nặng nề tới hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp. Đánh giá ở góc độ vĩ mô của toàn bộ nền kinh tế
thì những diễn biến như trên đã gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến mục tiêu
giảm lạm phát, tăng trưởng kinh tế và ổn định đời sống xã hội. Qua đó cho ta
thấy được tầm quan trọng của các nhà quản lý thanh khoản và công việc quản
lý thanh khoản.
Một thực tế hiện nay các Ngân hàng thương mại đều thấy tầm quan trọng
của chiến lược quản lý rủi ro trong đó có rủi ro thanh khoản, nhưng phương
pháp thực hiện vẫn còn nhiều bất cập và chưa theo kịp với trình độ công nghệ,
trình độ quản lý của hệ thống ngân hàng hiện đại. Tại Ngân hàng Công
thương Việt Nam, công tác quản lý thanh khoản vẫn còn một số tồn tại nhất
định, việc quản lý thanh khoản đang trở nên lạc hậu trước xu thế phát triển
chung và yêu cầu của hội nhập. Do đó, vấn đề chiến lược được đặt ra là cải
cách hệ thống quản trị ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh
tranh.
SV: Lê Trọng Đức 2 Lớp: Ngân hàng 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
Hiểu được tầm quan trọng của công tác quản trị ngân hàng nói chung và
quản lý thanh khoan nói riêng, cũng như muốn đưa ra một số ý kiến nhằm
giải quyết tình trạng còn nhiều bất cập trên và tăng cường hơn trong công tác
quản lý thanh khoản tại hệ thống Ngân hàng thương mại mà cụ thể hơn là
Ngân hàng Công thương Việt Nam. Nên em đã chọn đề tài “Tăng cường
quản lý thanh khoản tại Ngân hàng Công thương Việt Nam”
Bố cục bài viết của em như sau:
Chương I: Lý luận chung về quản lý thanh khoản tại ngân hàng
thương mại
Chương II: Thực trạng công tác quản lý thanh khoản tại Ngân hàng
Công thương Việt Nam
Chương III: Tăng cường công tác quản lý thanh khoản
Đề tài được viết dựa vào các kiến thức mà em đã được các giảng dạy
cộng thêm những kiến thức thực tế thu được trong thời gian thực tập. Phương
pháp duy vật biện chứng, phương pháp toán học, lịch sử được em áp dụng để
hoàn thành bài viết của mình.
SV: Lê Trọng Đức 3 Lớp: Ngân hàng 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THANH
KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Các khái niệm liên quan đến thanh khoản
1.1.1. Dự trữ thanh toán
1.1.1.1. Vốn khả dụng
Thanh khoản luôn đi kèm với việc sử dụng vốn khả dụng. Nhu cầu thanh
khoản là không như nhau tại mọi thời điểm, trong khi đó ngân hàng luôn phải
đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ chi trả cho khách hàng một cách vô điều kiện.
Muốn thế, ngân hàng phải có trong tay một lượng vốn khả dụng nhất định.
Vốn khả dụng được hiểu là lượng tài sản cơ động mà ngân hàng có thể sử
dụng ngay được. Thông thường vốn khả dụng bao gồm tiền mặt tại quỹ và
tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác, là những tài
sản mà ngân hàng có thể sử dụng bất kỳ lúc nào.
Như vậy, vốn khả dụng được coi là tài sản có tính “lỏng” nhất, và do
vậy, nó hầu như không hoặc có tính sinh lời rất ít. Ngân hàng phải luôn tìm
cách để tối thiểu hóa lượng vốn khả dụng dù quan trọng nhưng không sinh lời
này tại mỗi thời điểm, đủ để phục vụ nhu cầu thanh toán.
1.1.1.2. Dự trữ thanh toán
Là khoản dự trữ nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng với
khách hàng. Dự trữ thanh toán bao gồm vốn khả dụng và các tài sản có tính
thanh khoản khác.
Tài sản thanh khoản thường bao gồm:
- Các giấy tờ có giá có khả năng chuyển đổi thành tiền với chi phí thấp,
bao gồm tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, trái phiếu Chính
phủ. Chúng có độ rủi ro bằng 0, được giao dịch trên thị trường mở, được
Ngân hàng Nhà nước chấp nhận cầm cố, cho vay chiết khấu.
SV: Lê Trọng Đức 4 Lớp: Ngân hàng 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
- Trái phiếu công trình, trái phiếu doanh nghiệp nhà nước cũng được
đánh giá là có độ rủi ro thấp.
- Các khoản dự trữ ngoại tệ có khả năng chuyển đổi.
- Các tài sản có tính thanh khoản khác.
1.1.2. Thanh khoản
1.1.2.1. Thanh khoản của ngân hàng
Thanh khoản của ngân hàng được hiểu đơn giản là khả năng của ngân
hàng trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng. Một ngân hàng
có tính thanh khoản cao khi có nhiều tài sản thanh khoản hoặc có khả năng
mở rộng nguồn nhanh với chi phí thấp hoặc cả hai sao cho phù hợp với nhu
cầu thanh khoản.
Như vậy khi ngân hàng không đáp ứng kịp thời nghĩa vụ thanh toán hoặc
phải chịu tổn thất, chi phí cao để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán này sẽ dẫn
đến rủi ro thanh khoản. Thanh khoản là một nội dung quản lý đặc biệt phức
tạp trong công tác quản trị ngân hàng, khi mà dòng tiền vào, dòng tiền ra phát
sinh không lường trước được, thay đổi liên tục hàng ngày, hàng giờ.
1.1.2.2. Tính thanh khoản của tài sản
Tính thanh khoản của mỗi tài sản là khả năng chuyển tài sản thành tiền
được đo bằng thời gian và chi phí. Thời gian và chi phí càng cao thì tính
thanh khoản càng giảm và ngược lại.
Trong kế toán tài sản lưu động chia làm năm loại và được sắp xếp theo
tính thanh khoản từ cao đến thấp như sau: tiền mặt,chứng khoán, đầu tư ngắn
hạn, khoản phải thu, ứng trước ngắn hạn, và hàng tồn kho. Như vậy rõ ràng
tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng được trực tiếp để thanh
toán, lưu thông, tích trữ; còn hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp nhất vì
phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi
từ khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt.
SV: Lê Trọng Đức 5 Lớp: Ngân hàng 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2.3. Tính thanh khoản của nguồn
Được đo bằng thời gian và chi phí cơ hội để mở rộng nguồn khi cần
thiết. Thời gian và chi phí càng cao thì tính thanh khoản của nguồn càng
giảm.
Khả năng huy động nguồn cũng góp phần tạo khả năng thanh toán cho
ngân hàng.
1.1.3. Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng
khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá mức khả năng thanh khoản dự kiến.
Rủi ro thanh khoản ở mức cao làm cho ngân hàng phải gia tăng chi phí để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản làm giảm thu nhập ròng của ngân hàng. Ở mức cao
hơn ngân hàng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản.
Rủi ro thanh khoản có thể đến từ hoạt động bên nợ hoặc bên có hoặc từ
hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản.
Rủi ro thanh khoản đến từ bên tài sản nợ có thể phát sinh bất cứ lúc nào
khi người gửi tiền rút tiền trước hạn và cả khi đến hạn. Với một lượng tiền gửi
đọt ngột được rút ra lớn sẽ buộc ngân hàng phải đi vay thêm để bổ sung hoặc
bán bớt tài sản. Do cần gấp nên khi huy động thì ngân hàng phải chịu lãi suất
cao, hoặc bán gấp tài sản thì phải bán với giá thấp so với giá trên thị trường và
từ đó làm giảm thu nhập của ngân hàng.
Rủi ro thanh khoản từ bên tài sản có chủ yếu phát sinh khi nhu cầu vay
tiền của khách hàng tăng đột ngột làm ngân hàng không đảm bảo đủ tiền ngay
lập tức theo yêu cầu của khách.
Rủi ro thanh khoản từ hoạt động ngoại bảng: Sự phát triển mạnh mẽ của
các công cụ phái sinh khiến cho rủi ro thanh khoản đến từ hoạt động ngoại
bảng cũng ngày càng gia tăng. Khi mà các nghĩa vụ thanh toán xảy ra như
cam kết bảo lãnh, nghĩa vụ thanh toán các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi hay
SV: Lê Trọng Đức 6 Lớp: Ngân hàng 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
quyền chọn đến hạn thì sẽ phát sinh nhu cầu thanh khoản và ngân hàng có thể
đối mặt với rủi ro thanh khoản.
1.1.4. Khe hở thanh khoản
Cung thanh khoản: là khả năng cung ứng tiền của ngân hàng nhằm đáp
ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc bán tài sản thanh
khoản, khả năng huy động vốn mới và thu hồi các khoản cho vay đến hạn.
Cầu thanh khoản: là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng
có nghĩa vụ đáp ứng, bao gồm nhu cầu chi trả từ tài khoản tiền gửi và nhu cầu
vay của khách hàng.
Khe hở thanh khoản: là chêch lệch giữa cung và cầu thanh khoản tại một
thời điểm nhất định.
Khe hở thanh khoản chính là nguyên nhân gây nên rủi ro thanh khoản,
khi cung và cầu thanh khoản tại một thời điểm nào đó không cân bằng:
- Khi cung thanh khoản > cầu thanh khoản: ngân hàng ở trạng thái thặng
dư vốn khả dụng. Trường hợp lượng vốn khả dụng lớn hơn mức cần thiết,
ngân hàng sẽ bị dư thừa, ứ đọng vốn và làm giảm hiệu quả kinh doanh.
- Khi cung thanh khoản < cầu thanh khoản: ngân hàng ở trạng thái thâm
hụt vốn khả dụng, không đáp ứng được nhu cầu chi trả và phải tìm kiếm
nguồn thanh khoản bổ sung.
Với sự biến động của lãi suất hị trường trong tương lai, khe hở thanh
khoản sẽ ảnh hưởng đến thu nhập ròng từ lãi của ngân hàng, cụ thể:
NII = GAP
L
* ∆I
Trong đó:
• NII : Thu nhập ròng từ lãi
• GAP
L
: Giá trị khe hở thanh khoản hay chênh lệch giữa cung thanh
khoản và cầu thanh khoản tại thời điểm tính
SV: Lê Trọng Đức 7 Lớp: Ngân hàng 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
• ∆I : Sự thay đổi của lãi suất thị trường
Như vậy để nâng cao thu nhập ròng từ lãi khi có sự biến động của lãi
suất, khi dự đoán lãi suất tăng thì ngân hàng nên duy trì khe hở thanh khoản
dương và ngược lại, khi dự đoán lãi suất thị trường giảm ngân hàng sẽ duy trì
khe hở âm.
1.2. Nội dung quản lý thanh khoản
1.2.1. Xác định mục tiêu của quản lý thanh khoản
Trước hết mục tiêu quản lý thanh khoản của ngân hàng được xác định là
nhằm đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng với mức chi
phí thấp nhất. Mặc khác, bài toán giữa chỉ tiêu sinh lời và an toàn luôn luôn
được đặt ra cho các nhà quản lý. Thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng là
hai tiêu chí trái ngược nhau, có tính chất đánh đổi. Muốn duy trì một tỷ lệ an
toàn thanh khoản cao đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ nắm giữ các tài sản
thanh khoản nhưng ít sinh lợi hoặc hầu như không sinh lời. Và ngược lại, nếu
theo đuổi mục đích lợi nhuận, ngân hàng sẽ muốn nắm giữ những tài sản sinh
lợi cao, kỳ hạn dài nhưng thanh khoản kém dẫn tới nguy cơ về rủi ro thanh
khoản. Nhà quản lý ngân hàng sẽ cần phải cân đối hợp lý giữa hai mục tiêu
này để phù hợp với mục tiêu, chiến lược hoạt động trong từng thời kỳ của
ngân hàng.
Như vậy, ngân hàng quản lý thanh khoản để:
* Đảm báo khả năng chi trả kịp thời của ngân hàng với chi phí thấp nhất,
hợp lý nhất.
* Dự đoán nguy cơ rủi ro thanh khoản và tổn thất có thể xảy ra.
1.2.2. Xác định cung cầu thanh khoản
1.2.2.1. Xác định cung thanh khoản
a. Cung thanh khoản phát sinh từ Tài sản Có
SV: Lê Trọng Đức 8 Lớp: Ngân hàng 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
Tiền mặt: Tiền mặt của ngân hàng được đánh giá là một trong những
khoản mục mang tính lỏng (tính thanh khoản) cao nhất, toàn bộ số dư tiền mặt
được coi là nguồn cung thanh khoản nhanh chóng và ít chi phí nhất.
Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước: là khoản mục mang tính lỏng không
kém gì tiền mặt.
Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng: Do các tổ chức tín dụng được coi là
những đối tác có độ tín nhiệm cao nên khả năng thanh toán gần như là chắc
chắn. Đối với một số giao dịch có thỏa thuận được rút trước hạn thì tính thanh
khoản cũng gần như tiền gửi thanh toán.
Các khoản cho vay các tổ chức tín dụng được hoàn trả: khoản mục
này tính thanh khoản cũng tương đương như tiền gửi tại các tổ chức tín dung
tuy nhiên trong xếp loại thứ tự ưu tiên trong thanh toán thì tiền vay nằm sau
tiền gửi.
Các khoản cho vay các tổ chức kinh tế, các nhân được hoàn trả:
khoản mục này không được đánh giá cao về tính thanh khoản, trong báo cáo
khe hở thanh khoản khoản mục này chỉ được lấy ở mức khoảng 70% số dự
kiến phát sinh.
Các khoản đầu tư chứng khoán đến hạn: chứng khoán ngân hàng nắm
giữ hiện nay thường có độ an toàn cao như Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu
Kho Bạc Nhà Nước, trái phiếu công trình…Do vậy tính thanh khoản cũng
được đánh giá tương đối cao, ở mức khoảng 90-95%
Ngoài ra còn một số Tài sản Có khác đến hạn như các khoản phải thu,
các khoản tạm ứng…
b. Cung thanh khoản phát sinh từ Tài sản Nợ
Huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, cá nhân: khả năng tăng cung
thanh khoản từ huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, cá nhân là thanh
khoản trong dài hạn và thể hiện ở chính sách, kế hoạch huy động của ngân
SV: Lê Trọng Đức 9 Lớp: Ngân hàng 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng. Đây cũng là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá tính hiệu quả
trong quản lý ngân hàng và được coi là nguồn thanh khoản mang tính ổn định
nhất, là nền tảng lợi nhuận của ngân hàng.
Phát hành giấy tờ có giá: tương tự như trên, phát hành giấy tờ có giá
cũng là biện pháp tăng cung thanh khoản. Tuy nhiên các đợt phát hành
thường phục vụ cho mục tiêu nhất định ntrong thời hạn nhất định, lãi suất có
thể cao hơn tiền gửi tiết kiềm nên khoản mục này có thể tăng cung thanh
khoản một cách linh động hơn.
Vay cầm cố, vay chiết khấu Ngân hàng nhà nước: Nguồn tái cấp vốn
từ Ngân hàng Nhà nước được coi là sự hỗ trợ thanh khoản cuối cùng của ngân
hàng thương mại. Tuy nhiên trên thực tế, các ngân hàng thương mại thường
xuyên sử dụng nguồn này để bổ sung nguồn vốn kinh doanh cũng như hỗ trợ
thanh khoản qua sử dụng hạn mức chiết khấu, vay cầm cố giấy tờ có giá do
đây là nguồn vốn có chi phí thấp, quy mô lớn.
Nhận tiền gửi Kho bạc Nhà nước, nhận tiền gửi, vay các Tổ chức tín
dụng khác: Đây cũng là nguồn cung thanh khoản dồi dào vì có chi phí thấp
và quy mô lớn, nhưng với nguồn này ngân hàng không chủ động được mà
phụ thuộc vào khả năng của đối tác và khả năng huy động của chính ngân
hàng.
c. Cung thanh khoản phát sinh từ khoản mục ngoại bảng:
Thị trường tài chính ngày nay ngày càng được phát triển và mở rộng, các
sản phẩm phái sinh và dịch vụ trở nên đa dạng và linh hoạt hơn. Do đó, sử
dụng các sản phẩm này cũng là công cụ giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận và
tăng cung thanh khoản khi cần. Các sản phẩm phái sinh thông dụng hiện nay
như là : Hợp đồng repo, mua bán kỳ hạn trong giao dịch kinh doanh ngoại tệ,
quyền chọn trong giao dịch ngoại tệ, các hối phiếu của bộ chứng từ thanh toán
hàng xuất khẩu đã được ngân hàng nước ngoài chấp nhận
SV: Lê Trọng Đức 10 Lớp: Ngân hàng 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2.2. Xác định cầu thanh khoản
a. Cầu thanh khoản phát sinh từ Tài sản Nợ
Nhu cầu rút tiền gửi của Kho bạc Nhà nước: theo quy định hiện nay,
tiền gửi Kho bạc Nhà nước được thực hiện như ở tiền gửi thanh toán, do vậy
với nhu cầu rút tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, yêu cầu một lượng thanh
khoản cao và khối lượng lớn.
Nhu cầu rút tiền gửi của các tổ chức tín dụng: tương tự tiền gửi của
Kho bạc Nhà nước, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi đến hạn của các tổ chức
tín dụng có khối lượng lớn, kỳ hạn ngắn nên yêu cầu thanh khoản thường cao
và lớn.
Vay Ngân hàng Nhà nước đến hạn: Theo quy định hiện nay các khoản
vay tái cấp vốn Ngân hàng Nhà nước cho mục tiêu thanh khoản không được
gia hạn, quay vòng do vậy yêu cầu thanh khoản cho khoản mục này cũng
thường ở mức cao.
Vay tổ chức tín dụng khác đến hạn: đây cũng lã khoản mục có yêu cầu
thanh khoản cao, tuy nhiên do phụ thuộc vào khả năng thanh khoản của đối
tác nên nên vẫn còn khả năng quay vòng, gia hạn.
Nhận vốn cho vay đồng tài trợ đến hạn: vốn cho vay đồng tài trợ là các
khoản vốn các ngân hàng đồng thời góp vốn cho ngân hàng đầu mối để cho
vay theo một dự án, chương trình nhất định, do vậy yêu cầu thanh khoản đối
với khoản mục này cũng tương đối cao.
Nhu cầu rút tiền gửi không kỳ hạn của dân cư và tổ chức kinh tế: là
khoản mục có tính thay đổi cao tùy thuộc vào từng thời kỳ và khó lường trước
hết được. Do đó, ngân hàng cần chú ý để bảo đảm cho nhu cầu thanh khoản
này thường xuyên. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước tại quyết định
457/QĐ-NHNN thì tỷ lệ dự trữ thanh khoản cho khoản mục này tối thiểu ở
mức 15% cho ngày làm việc tiếp theo.
SV: Lê Trọng Đức 11 Lớp: Ngân hàng 47B

Xem chi tiết: 225837


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét