CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI
1.1. Khái niệm thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài có một vai trò hết sức quan trọng trong việc giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Bởi nếu không có thỏa thuận giữa các bên
tranh chấp thì trọng tài sẽ không có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Do đó, pháp luật
Việt Nam và các nước đều dành cho thỏa thuận trọng tài một sự ưu tiên nhất định, thể
hiện ở việc dành cho thỏa thuận trọng tài một chương riêng biệt trong các đạo luật
quy định về trọng tài. Chính vì thế mà thỏa thuận trọng tài được định nghĩa hết sức rõ
ràng trong các đạo luật này.
Luật Trọng tài thương mại (sau đây gọi tắt là LTTTM) đưa ra định nghĩa:
“Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên nhằm giải quyết bằng Trọng tài
tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”. Trước đây, Khoản 2 Điều 2 Pháp
lệnh Trọng tài thương mại 2003 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh Trọng tài) đã đưa ra
định nghĩa về thỏa thuận trọng tài như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa
các bên cam kết giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã
phát sinh trong hoạt động thương mại”. Như vậy, đối tượng tranh chấp được đưa ra
trọng tài giải quyết được xem là vấn đề gây nhiều tranh cãi đã không được đề cập
trong định nghĩa về thỏa thuận trọng tài của Luật mới mà được quy định tại một điều
khoản riêng biệt (Điều 2 LTTTM). Việc quy định như vậy đã giúp cho những đối
tượng tranh chấp mà trọng tài có thẩm quyền giải quyết trở nên rõ ràng hơn nhiều so
với cách quy định chung chung “các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát
sinh trong hoạt động thương mại” trong Pháp lệnh đồng thời cũng làm cho định
nghĩa thỏa thuận trọng tài đơn giản, rõ ràng hơn tránh việc gây nên nhiều cách hiểu
khác nhau.
Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban luật thương mại quốc tế
của Liên hiệp quốc (sau đây gọi tắt là Luật Mẫu UNCITRAL) đưa ra định nghĩa về
thỏa thuận trọng tài như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thoả thuận mà các bên đưa ra
trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các
bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ
hợp đồng. Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp
đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng”.
5
Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài
nước ngoài (sau đây gọi tắt là Công ước New York) cũng đã định nghĩa về thỏa thuận
trọng tài như sau: “là thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng
tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp
lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả
năng giải quyết được bằng trọng tài”.
Như vậy có thể thấy quy định của pháp luật nước ta về thỏa thuận trọng tài khá
tương đồng với các văn bản pháp luật quốc tế. Thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng bởi chỉ khi tồn tại thỏa thuận thì trọng tài mới có thẩm quyền giải
quyết và thỏa thuận đó cũng đồng thời loại trừ thẩm quyền của tòa án. Chính vì vậy
nên không phải thỏa thuận nào giữa các bên về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
đều làm phát sinh thẩm quyền giải quyết của trọng tài. Để trở thành một thỏa thuận
hoàn chỉnh, thỏa thuận đó phải thể hiện đúng ý chí của các bên, theo đúng hình thức
do pháp luật quy định, đối tượng tranh chấp phải thuộc thẩm quyền giải quyết của
trọng tài…
Trước hết, thỏa thuận trọng tài phải là sự thống nhất ý chí của các bên đưa tranh
chấp ra giải quyết tại trọng tài. Bởi bản chất của thỏa thuận là sự tự nguyện, thống
nhất của các bên về một vấn đề nào đó. Sẽ không gọi là thỏa thuận nếu xuất hiện bất
cứ sự đe dọa, lừa dối nào.
Thứ hai, đối tượng giải quyết của trọng tài là “các tranh chấp đã phát sinh hoặc
có thể phát sinh”. Do đó, thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập ở hai thời điểm
khác nhau: khi tranh chấp đã xảy ra hoặc là khi tranh chấp chưa xảy ra. Bởi vậy, tồn
tại hai dạng thỏa thuận trọng tài:
• Điều khoản trọng tài: là điều khoản các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhằm
dự liệu nếu có tranh chấp phát sinh sẽ đưa ra trọng tài giải quyết. Đây chính là thỏa
thuận trọng tài được xác lập trước khi tranh chấp xảy ra.
• Thỏa thuận trọng tài riêng biệt (hay còn gọi là thỏa ước trọng tài
1
): là thỏa
thuận giữa các bên sau khi tranh chấp đã phát sinh thống nhất chọn hình thức trọng
tài để giải quyết vụ việc.
LTTTM một lần nữa khẳng định điều này tại Khoản 1 Điều 16: “Thỏa thuận
trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng
1
Nguyễn Đình Thơ (2006), “Một số vấn đề về thỏa thuận trọng tài”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (Số 20/2006),
tr.16.
6
hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng”. Việc quy định thời điểm xác lập thỏa thuận
trọng tài như thế là hết sức linh hoạt. Tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp,
giúp cho tranh chấp được giải quyết hiệu quả.
Thứ ba, về hình thức của thỏa thuận trọng tài là phải bằng văn bản. Pháp luật
Việt Nam cũng như các nước đều thống nhất, hình thức của thỏa thuận trọng tài phải
bằng văn bản
2
. Đây cũng là một trong những điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận
trọng tài. Vấn đề này sẽ được tác giả làm rõ ở Chương 2 của Khóa luận.
Thứ tư, phạm vi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là các tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thương mại. Luật Mẫu UNCITRAL cũng như Công ước New York
đều ghi nhận các tranh chấp được đưa ra trọng tài giải quyết có thể là tranh chấp
trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng. Trong khi, Pháp lệnh Trọng tài thương mại
Việt Nam chỉ quy định “các tranh chấp đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh trong hoạt
động thương mại” mà không đề cập đến vấn đề các tranh chấp đó trong hợp đồng hay
ngoài hợp đồng
3
.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về thỏa thuận trọng tài một
cách khái quát như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận bằng văn bản giữa các
bên nhằm giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh
giữa các bên. Thỏa thuận trọng tài có thể là điều khoản trọng tài trong hợp đồng
hoặc là một thỏa thuận riêng”.
1.2. Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài
1.2.1. Tính tự nguyện
Đây là đặc điểm hết sức đặc trưng của thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận là “đi
tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận”. Khi nói đến thỏa thuận thì nó phải thể
hiện được thiện chí của các bên cùng thống nhất vấn đề sau một quá trình đàm phán,
thảo luận. Như vậy, bản chất của thỏa thuận là sự tự nguyện thống nhất ý chí của các
bên về một vấn đề nào đó. Nếu ý chí đó được thống nhất không dựa trên sự tự
nguyện thì không thể coi đó là một thỏa thuận được.
2
Điều 1031 Luật Trọng tài của Cộng hòa Liên bang Đức, Điều 7 Khoản 2 Luật Trọng tài thương mại quốc tế
của Cộng hòa Liên bang Nga, Điều 6 Luật Trọng tài Thái Lan, Luật Trọng tài Anh…(Trích theo “Giới thiệu
tóm tắt Luật Trọng tài của một số nước trên thế giới”, Hội Luật gia Việt Nam).
3
Với cách quy định như trên có hai vướng mắc:
• Cần phải xác định đâu là “tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại” và đâu là “tranh chấp
phát sinh không thuộc hoạt động thương mại”.
• Tranh chấp ngoài hợp đồng có được đưa ra trọng tài giải quyết hay không?
Vấn đề này sẽ được tác giả phân tích trong Chương 2 của Khóa luận.
7
Trong hoạt động kinh doanh thương mại, không ai muốn tranh chấp xảy ra. Tuy
nhiên, khi kinh tế càng phát triển, trước đòi hỏi của nền kinh tế thị trường, vì lợi
nhuận người ta sẵn sàng xâm phạm quyền và lợi ích của người khác, tranh chấp xảy
ra là điều không tránh khỏi. Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp hiệu quả, công bằng…
là đòi hỏi cấp thiết. Và việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hoàn toàn
phụ thuộc vào ý chí của các bên, các bên có toàn quyền quyết định. Do đó, thỏa thuận
trọng tài-là thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, đòi hỏi ở các bên
một sự hoàn toàn tự nguyện.
Thỏa thuận trọng tài là kết quả của quá trình đàm phán, cân nhắc giữa các bên.
Các cá nhân, tổ chức kinh doanh lựa chọn trọng tài cũng như lựa chọn hình thức kinh
doanh cho mình. Trước khi chọn trọng tài giải quyết tranh chấp các bên chắc cũng đã
tìm hiểu về phương thức giải quyết này, cũng đã so sánh ưu nhược điểm so với các
phương thức giải quyết tranh chấp khác. Và quan trọng hơn hết là các bên đã đưa ra
quyết định chọn lựa sau quá trình cân nhắc. Lựa chọn trọng tài cũng như một quyết
định kinh doanh và như mọi quyết định kinh doanh khác, họ phải tự chịu rủi ro có thể
xảy ra
4
. Do vậy, một khi đã tự nguyện xác lập thỏa thuận trọng tài các bên phải chịu
sự ràng buộc của nó trong suốt quá trình giải quyết vụ tranh chấp. Sự ràng buộc thể
hiện ở những điểm sau:
- Trong thỏa thuận trọng tài các bên thống nhất lựa chọn trọng tài giải quyết
tranh chấp, lựa chọn hình thức trọng tài (thường trực hoặc lâm thời), lựa chọn trung
tâm trọng tài, lựa chọn địa điểm, ngôn ngữ… Do đó đòi hỏi các bên phải thực hiện
đúng theo thỏa thuận đã xác lập. Bởi các bên đã xác lập thỏa thuận một cách tự
nguyện, được tự do chọn lựa cách thức giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy các bên
cần có trách nhiệm đối với sự lựa chọn của mình.
- Mặt khác, tính tự nguyện cũng ảnh hưởng đến thiện chí của các bên khi thi
hành quyết định trọng tài. Một khi đã xác lập thỏa thuận trọng tài một cách tự
nguyện, các bên cũng cần nghiêm chỉnh thi hành quyết định trọng tài. Góp phần
mang lại hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp.
Như vậy có thể thấy, đặc điểm này đã thể hiện được ưu điểm của phương thức
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Trọng tài sẽ giải quyết nhanh chóng, hiệu quả,
thuận tiện cho các bên trong trường hợp tất cả các bên đều có thiện chí, trung thực và
hợp tác.
4
Trần Hữu Huỳnh (2003), “Pháp lệnh Trọng tài thương mại, những thử thách phía trước”, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, (Số 04/2003), tr.64.
8
Do đặc điểm hết sức đặc trưng này mà pháp luật đã quy định tính tự nguyện của
các bên khi xác lập thỏa thuận trọng tài cũng là một trong những nội dung ảnh hưởng
đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. LTTTM đã quy định một trong các trường hợp
làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu là: “Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng
ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận
trọng tài đó là vô hiệu” (Khoản 5 Điều 18). Thật vậy, ý chí của các bên khi xác lập
thỏa thuận trọng tài phải hoàn toàn tự nguyện, minh bạch, không bên nào bị lừa dối
hoặc bị đe dọa. Nếu có bất cứ sự đe dọa, lừa dối nào thì thỏa thuận trọng tài sẽ không
còn nguyên nghĩa vốn có của nó. Tuy nhiên trong trường hợp này, pháp luật vẫn tôn
trọng ý chí của các bên. Bởi ở đây phải tồn tại hai điều kiện thì thỏa thuận trọng tài
mới vô hiệu: có lừa dối, đe dọa và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
Nếu một bên phát hiện bị lừa dối, đe dọa nhưng sau đó vẫn công nhận thỏa thuận
trọng tài thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực.
Yếu tố tự nguyện thỏa thuận của thỏa thuận trọng tài quan trọng đến mức một
số luật gia Châu Âu cho rằng, nếu giữa các bên đã có thỏa thuận trọng tài kèm theo
quy tắc tố tụng thì trọng tài quốc tế sẽ là quá trình tự động, độc lập với luật quốc gia.
Ý kiến này tuy hơi thái quá nhưng cũng cho thấy vai trò thỏa thuận ý chí chọn “quyền
lực tư” trong phương thức trọng tài
5
. Rõ ràng với tư cách là một thiết chế tài phán tư,
trọng tài luôn tôn trọng sự tự nguyện của các bên tranh chấp. Và thỏa thuận trọng tài
chính là biểu hiện đầu tiên của sự tự nguyện thỏa thuận đó.
1.2.2. Tính độc lập
Đây là đặc điểm cơ bản của thỏa thuận trọng tài. Tính độc lập của thỏa thuận
trọng tài ở đây được xét trong mối quan hệ với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy
bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của điều
khoản trọng tài. Như vậy, dù thỏa thuận trọng tài dưới dạng là một điều khoản trong
hợp đồng hay là một thỏa thuận trọng tài riêng biệt đều tồn tại độc lập với hợp đồng.
Trước hết, thỏa thuận trọng tài độc lập với hợp đồng do những lý do sau:
Lý do thứ nhất là, nguyên nhân làm cho hợp đồng vô hiệu và nguyên nhân làm
cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu là khác nhau. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005
(sau đây gọi tắt là BLDS) hợp đồng dân sự vô hiệu trong những trường hợp sau:
5
Trần Hữu Huỳnh (2000), “Một số vấn đề cơ bản về thỏa thuận trọng tài trong thương mại quốc tế”, Tạp chí
Luật học, (Số 1/2000), tr.19.
9
• Chủ thể xác lập hợp đồng là người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
• Hợp đồng có sự vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội;
• Hợp đồng vô hiệu do giả tạo;
• Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn;
• Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa;
• Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức;
• Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.
Trong khi, những nguyên nhân làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu được quy
định tại Điều 18 LTTTM
6
như sau:
• Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng
tài theo quy định tại Điều 2 của Luật này;
• Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật;
• Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo
quy định của Bộ luật dân sự;
• Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16
của Luật này;
• Một trong các bên bị lừa dối, bị đe doạ, bị cưỡng ép trong quá trình xác lập
thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu;
• Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy có khi nguyên nhân làm cho hợp đồng vô hiệu trùng với
nguyên nhân làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu, ví dụ như trường hợp chủ thể
không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Tuy nhiên nếu cả hợp đồng và thỏa thuận
trọng tài điều vô hiệu do cùng một nguyên nhân thì sự vô hiệu này vẫn độc lập. Bản
thân thỏa thuận trọng tài vô hiệu do người ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng
lực đầy đủ theo Điều 18 LTTTM chứ không phải hợp đồng vô hiệu kéo theo thỏa
thuận trọng tài vô hiệu.
6
Tương ứng tại Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003.
10
Trong thực tiễn kinh doanh thương mại, nhiều cá nhân, tổ chức kinh doanh đã
chưa nhận thức đúng về tính độc lập của thỏa thuận trọng tài. Do đó, trên thực tế tòa
án cũng đã giải quyết nhiều yêu cầu hủy quyết định trọng tài của các tổ chức và cá
nhân kinh doanh vì các chủ thể này cho rằng thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi hợp
đồng vô hiệu. Trong vụ tranh chấp giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn Sao Đại Hùng
và Công ty Zest Holding & Shipping LTD (Quyết định số 112/2006/TTPT ngày 2-6-
2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội)
7
là một ví dụ. Tranh
chấp giữa hai bên đã được đưa ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam giải quyết.
Công ty Sao Đại Hùng do ông Thọ đại diện yêu cầu hủy quyết định trọng tài vì cho
rằng người ký hợp đồng của Công ty Holding & Shipping LTD đã vượt quá thẩm
quyền cho phép của công ty nên thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Tuy nhiên, Tòa phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã không chấp nhận lý do này. Theo Tòa án tối cao,
việc ông Simonov (đại diện Công ty Holding & Shipping LTD) ký hợp đồng có giá
trị vượt quá mức quy định công ty cho phép thuộc phần nội dung của hợp đồng. Theo
quy định tại Điều 11 Pháp lệnh Trọng tài thì việc vô hiệu của hợp đồng này không
ảnh hưởng đến thỏa thuận trọng tài. Trong các trường hợp làm cho hợp đồng vô hiệu
quy định tại Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài không có trường hợp người ký hợp đồng có
giá trị vượt quá quy định. Như vậy cách giải quyết của Tòa án trong trường hợp này
là thuyết phục.
Lý do thứ hai là, khi hợp đồng vô hiệu tranh chấp giữa hai bên vẫn có thể xảy
ra. Tranh chấp tồn tại một cách độc lập không phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng.
Trong giao lưu thương mại, tranh chấp giữa các bên rất phong phú, đa dạng do nhiều
nguyên nhân khác nhau gây nên. Ngay cả khi hợp đồng vô hiệu tranh chấp giữa hai
bên vẫn có thể xảy ra, ví dụ như tranh chấp về cách giải quyết hậu quả của hợp đồng
vô hiệu, tranh chấp về bồi thường thiệt hại… Trong quá trình giao kết hợp đồng, các
bên không hề mong muốn cho tranh chấp xảy ra cũng như không thể lường trước
được tranh chấp sẽ xảy ra khi nào. Các bên xác lập điều khoản trọng tài trong hợp
đồng nhằm dự liệu phương hướng giải quyết khi tranh chấp xảy ra, hi vọng tranh
chấp sẽ được giải quyết ổn thỏa, tốt đẹp. Nếu hợp đồng vô hiệu kéo theo thỏa thuận
trọng tài vô hiệu thì thật là vô lý. Trong khi, trước khi xảy ra tranh chấp hai bên đã tự
nguyện lựa chọn trọng tài giải quyết, khi tranh chấp xảy ra hai bên vẫn mong muốn
đưa ra trọng tài giải quyết. Hợp đồng vô hiệu kéo theo thỏa thuận trọng tài vô hiệu vô
hình chung đã không tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp này nếu
muốn đưa ra giải quyết tại trọng tài có phải hai bên phải thỏa thuận lại trong một thỏa
7
Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải (2010), “Tuyển tập các bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam về trọng tài
thương mại”, NXB Lao động, Hà Nội, tr.122.
11
thuận trọng tài riêng biệt? Việc này làm tốn kém thời gian cũng như công sức của các
bên. Chưa kể trường hợp một trong các bên không có thiện chí làm kéo dài thời gian
giải quyết tranh chấp. Vậy mà thỏa thuận trọng tài trước đó có tác dụng ràng buộc
các bên bây giờ lại vô hiệu theo hợp đồng. Do vậy, việc xác định thỏa thuận trọng tài
độc lập với hợp đồng là điều cần thiết.
Lý do thứ ba là, thỏa thuận trọng tài về bản chất là một “hợp đồng” đưa tranh
chấp giữa các bên ra giải quyết trước trọng tài, còn hợp đồng được các bên thỏa
thuận ký kết là nhằm điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên
8
. Thật vậy, nên xem
thỏa thuận trọng tài như một hợp đồng. Điều 388 BLDS quy định: “Hợp đồng dân sự
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự”. Về hình thức thỏa thuận trọng tài có thể chưa phải là một hợp đồng
nhưng xét về bản chất thỏa thuận trọng tài dường như đã đáp ứng đầy đủ các yếu tố
cấu thành hợp đồng. Đó là văn bản các bên thỏa thuận về phương thức giải quyết
tranh chấp, trung tâm giải quyết, quy tắc tố tụng, địa điểm, ngôn ngữ… và các bên
cũng phải chịu trách nhiệm đối với sự lựa chọn của mình. Mặt khác khi được xem là
một “hợp đồng” thì quan hệ giữa thỏa thuận trọng tài và hợp đồng cũng không phải
là quan hệ hợp đồng chính-hợp đồng phụ. Đây là hai văn bản độc lập, thỏa thuận
trọng tài không hề có nội dung nào liên quan tới nội dung của hợp đồng, không có sự
điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của các bên. Như vậy, khi xem thỏa thuận trọng tài
như một “hợp đồng” ta thấy rõ sự tồn tại độc lập của nó đối với hợp đồng. Trong một
số bài viết về thỏa thuận trọng tài nhiều tác giả đã sử dụng cụm từ “hợp đồng chính”
khi đề cập tới mối quan hệ giữa thỏa thuận trọng tài và hợp đồng. Theo tác giả, cách
dùng từ như vậy là chưa chuẩn xác, nếu gọi là “hợp đồng chính” thì có phải xem thỏa
thuận trọng tài như một “hợp đồng phụ” hay không? Như đã phân tích ở trên, giữa
thỏa thuận trọng tài và hợp đồng không hề có mối quan hệ hợp đồng chính-hợp đồng
phụ.
Lý do thứ tư là, với việc khẳng định tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, đảm
bảo cho mọi tranh chấp đều được giải quyết kể cả khi hợp đồng vô hiệu. Phù hợp với
chủ trương khuyến khích giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Nghị định số 25/2004
của Chính phủ ngày 15-01-2004 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh
Trọng tài thương mại (sau đây gọi tắt là Nghị định 25/2004) đã ghi nhận tại Điều 3
như sau: “Nhà nước khuyến khích giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo quy định
của Pháp lệnh và Nghị định này, tạo điều kiện phát triển hoạt động trọng tài thương
mại phù hợp với tình hình và yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước”.
8
Nguyễn Ngọc Lâm (2007), “Tư pháp quốc tế-Phần 2: Một số chế định cơ bản, tố tụng tòa án và trọng tài”,
NXB Phương Đông, Hồ Chí Minh, tr.294.
12
Trên đây là các lý do lý giải cho tính độc lập của thỏa thuận trọng tài so với hợp
đồng. Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài thể hiện ở những điểm sau:
- Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không làm
ảnh hưởng tới hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Hợp đồng có thể bị vô hiệu từng
phần hoặc vô hiệu toàn bộ nhưng trong hai trường hợp này cũng không tự động kéo
theo sự vô hiệu của điều khoản trọng tài
9
. Tính độc lập này rất quan trọng nhất là khi
hợp đồng vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực, cho phép xác định thẩm
quyền của trọng tài giải quyết vụ tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đó. Như vậy thỏa
thuận trọng tài sẽ không chịu sự ràng buộc từ hợp đồng, ngay cả khi nó là một điều
khoản nằm trong hợp đồng.
- Luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài và luật điều chỉnh nội dung hợp
đồng trong các hợp đồng thương mại quốc tế là khác nhau. Chính vì tính độc lập nên
không nhất thiết luật điều chỉnh nội dung hợp đồng và luật điều chỉnh thỏa thuận
trọng tài phải giống nhau. Trên thực tế các bên dường như chỉ quan tâm thỏa thuận
luật điều chỉnh nội dung hợp đồng mà chưa dành sự quan tâm đáng kể cho luật điều
chỉnh thỏa thuận trọng tài. Việc xem xét luật điều chỉnh hiệu lực của thoả thuận trọng
tài phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng trọng tài mà sẽ có những quyết định riêng rẽ,
chẳng hạn, luật nơi tiến hành trọng tài, luật nơi phán quyết được tuyên, luật điều
chỉnh nội dung tranh chấp
10
. Như vậy để tránh những rắc rối có thể phát sinh trong
quá trình tố tụng, khi giao kết hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng thương mại quốc
tế, các bên nên thỏa thuận rõ luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài.
- Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài còn được thể hiện qua nguyên tắc
“thẩm quyền của thẩm quyền”-“ competence of competence”. Theo nguyên tắc này
thì Hội đồng trọng tài có thẩm quyền xem xét thẩm quyền của chính mình. Việc xác
định sự độc lập của thỏa thuận trọng tài tạo cơ sở cho Hội đồng trọng tài xem xét
hiệu lực của hợp đồng. Nếu có khiếu nại của các bên về thỏa thuận trọng tài, Hội
đồng trọng tài sẽ tiến hành xem xét mình có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nữa
hay không. Nguyên tắc này được ghi nhận trong Điều 30 của Pháp lệnh “Trước khi
xem xét nội dung vụ tranh chấp, nếu có đơn khiếu nại của một bên về việc Hội đồng
Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp; vụ tranh chấp không có
thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, Hội đồng Trọng tài phải xem
xét, quyết định với sự có mặt của các bên, trừ trường hợp các bên có yêu cầu
khác ”. Như vậy, hợp đồng vô hiệu không loại trừ thẩm quyền của trọng tài. Đảm
9
Trần Hữu Huỳnh, tlđd, tr. 22.
10
Trần Minh Ngọc (2009), “Luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài trong trọng tài thương mại quốc tế”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (Số 1/2009),
13
bảo cho mọi tranh chấp đều được giải quyết. Nếu công nhận hợp đồng vô hiệu mặc
nhiên kéo theo điều khoản trọng tài vô hiệu và dẫn đến Hội đồng Trọng tài không
thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp thì vụ tranh chấp sẽ không được giải quyết.
LTTTM đã giải quyết vấn đề này triệt để hơn khi quy định rõ là trước khi xem xét
nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét về hiệu lực của thỏa thuận
trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thuộc trường hợp không thể thực hiện được hay
không và xem xét thẩm quyền của mình mà không đợi đến khi có đơn khiếu nại của
một bên mới xem xét. Khoản 1 Điều 43 LTTTM đã quy định như sau: “Trước khi
xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng Trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa
thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài thực hiện được hay không và xem xét thẩm
quyền của mình. Trong trường hợp vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì
Hội đồng Trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này.
Trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thỏa thuận trọng tài vô
hiệu hoặc xác định rõ thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì Hội đồng
Trọng tài quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo ngay cho các bên biết”.
Như vậy đảm bảo tranh chấp được giải quyết hiệu quả, tiết kiệm được thời gian của
các bên tranh chấp. Tránh trường hợp các bên phải mất thời gian tham gia tố tụng
trọng tài rồi sau đó quyết định trọng tài lại bị hủy do thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
Pháp lệnh Trọng tài ở nước ta đã khẳng định rõ sự độc lập của thỏa thuận trọng
tài trong Điều 11: “Điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi,
gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không làm ảnh hưởng tới hiệu
lực của điều khoản trọng tài”. Tuy nhiên vẫn có một số vướng mắc khi phân tích
Điều 11. Điều 11 Pháp lệnh chỉ đề cập đến điều khoản trọng tài chỉ là một dạng của
thỏa thuận trọng tài mà không nhắc tới thỏa thuận trọng tài riêng biệt. Như vậy trong
trường hợp này nên hiểu khi thỏa thuận trọng tài là một thỏa thuận riêng biệt thì nó sẽ
không có đặc điểm này hay vì là một thỏa thuận riêng biệt nằm ngoài hợp đồng nên
nó sẽ đương nhiên độc lập với hợp đồng? Mặt khác, trong Điều 11 Pháp lệnh Trọng
tài chỉ đề cập đến các trường hợp hợp đồng bị thay đổi, gia hạn, hủy bỏ, vô hiệu. Vậy
trường hợp hợp đồng không thể thực hiện được, không rơi vào những trường hợp
trên thì giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài sẽ như thế nào? Trong điều kiện nước
ta hiện nay vốn còn nhiều bất cập trong việc giải thích và áp dụng luật. Thiết nghĩ, để
hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra trong quá trình áp dụng luật nên quy định vấn đề
này một cách cụ thể hơn. Và LTTTM mới đã khắc phục được nhược điểm này. Điều
19 LTTTM đã quy định như sau: “Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp
đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét