Nhìn chung, so với giai đoạn 1990 – 1993, các chính sách tỉ giá hối đoái của Trung
Quốc đã linh động và mềm dẻo hơn rất nhiều. Ngày 1.1.1996, đồng Nhân dân tệ
Trung Quốc đã chính thức được Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) công nhận là đồng tiền
chuyển đổi tự do ở các tài khoản vãng lai (các tài khoản có liên quan đến các khoản
thanh toán về mậu dịch hàng hoá – dịch vụ cũng như các khoản lợi nhuận các công
ty nước ngoài chuyển về nước).
Chỉ tiêu 1994 1995 1996 1997
Lạm phát (% năm) 24,24 16,90 8,32 2,80
Tỷ giá hối đoái (trung bình NDT/USD) 8,6187 8,3514 8,3142 8,2898
Tốc độ tăng trưởng (% năm) 12,70 10,50 9,50 8,80
Kết quả của một loạt những điều chỉnh kết hợp thả lỏng và xiết chặt từng bộ phận
trong chính sách tỷ giá và tiền tệ vào thời điểm này đã có tác động tích cực nhanh
chóng khôi phục lại đà tăng trưởng trong xuất nhập khẩu và nền kinh tế Trung
Quốc
1.1.4. Giai đoạn trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (cuối 1997
– 2005)
Nếu trước thời điểm khủng hoảng Trung Quốc vẫn duy trì ổn định tỉ giá đồng Nhân
dân tệ thì ảnh hưởng của khủng hoảng đối với nền kinh tế sẽ ít nghiêm trọng hơn.
Trên thực tế là đồng Nhân dân tệ đã bị lao đao, đặc biệt là trong thời gian diễn ra
cuộc khủng hoảng năm 1997, một lý do lớn là do sự thả nổi đồng nội tệ trong giai
đoạn 1993 – 1996 như đã nghiên cứu ở trên.
Năm 1998, để bảo vệ đồng Nhân dân tệ trước làn sóng tấn công của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ khu vực, một lần nữa Trung Quốc laị quay lại kiểm soát chặt
chẽ thị trường ngoại hối, giảm nguy cơ đầu cơ và những dự kiến về phá giá đồng
Nhân dân tệ. Đồng thời, để giảm bớt sức ép đối với xuất khẩu và sự tăng trưởng
của nền kinh tế, chính phủ Trung Quốc đã phối hợp với các chính sách tiền tệ nới
lỏng và kích cầu. Trong năm 1998, Trung Quốc đã liên tiếp 3 lần hạ lãi suất tiền
cho vay và tiền gửi đồng Nhân dân tệ, đồng thời giảm cả lãi suất tiền gửi ngoại tệ.
Thêm vào đó là các chính sách: hạ thấp tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hỗ trợ vốn doanh
nghiệp, kích thích tiêu dùng các tầng lớp dân cư.
Bảng xxx Tình hình lãi suất trên thị trường tiền tệ trong năm 1998
Chỉ tiêu 20.03.1998 01.07.1998 06.12.1998
Lãi suất tiền cho vay NDT giảm(%) 1.6 0.49 0.27
Lãi suất tiền gửi NDT giảm (%) 0.6 1.12 0.55
Lãi suất tiền gửi USD giảm (%) 4.875 4.250 3.755
Ngày 11/12/2001, Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương
mại thế giới (WTO).Với những thách thức đặt ra đối với nền kinh tế sau khi gia
nhập WTO, Trung Quốc vẫn tiếp tục thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là chính sách tỷ giá của Trung Quốc cần được thực
thi sao cho đảm bảo hài hoà được với mục tiêu hạ nhiệt nền kinh tế của quốc gia
khổng lồ này trong giai đoạn này.Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Trung
Quốc từ sau khi gia nhập WTO có xu hướng ngày càng cao ở mức khó kiểm soát,
trong khoảng 8-9%/năm. Trước tình hình này, ngày 28/10/2004, ngân hàng trung
ương Trung Quốc đã quyết định tăng tỷ lệ lãi suất huy động tiền gửi bằng đồng
nhân dân tệ kỳ hạn một năm từ 1,98% lên 2,25% và tăng lãi suất cho vay từ 5,31%
lên 5,58%. Biện pháp này phù hợp với xu thế tăng lãi suất trên phạm vi toàn cầu
trong năm 2004, đồng thời cũng là dấu hiệu đầu tiên cho thấy nước này đang bắt
đầu thực hiện cải cách chính sách tiền tệ. Lần tăng lãi suất đầu tiên kể từ tháng 7
năm 1995 này của ngân hàng trung ương Trung Quốc nhằm mục đích duy trì những
kết quả điều tiết vĩ mô mà họ đã đạt được trong giai đoạn vừa qua, đồng thời góp
phần hạ nhiệt, tạo nên sự phát triển lành mạnh và bền vững của nền kinh tế.
Các luồng vốn khổng lồ chảy vào Trung Quốc đã gây áp lực tăng giá lên đồng
Nhân dân tệ. Để kiểm soát giá đồng Nhân dân tệ, ngân hàng trung ương phải mua
vào ngoại tệ, tăng khả năng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Kết quả là dự trữ
ngoại hối của Trung Quốc tăng hơn 40% từ đầu năm lên đến 540 tỷ USD tính đến
cuối tháng 10 năm 2004. Với con số này, Trung Quốc trở thành nước có lượng dự
trữ ngoại tệ lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Nhật Bản (820 tỷ USD). Trên cơ sở
xây dựng thị trường ngoại hối thống nhất, Chính phủ Trung Quốc cũng từng bước
nới lỏng biên độ giao dịch của đồng Nhân dân tệ so với đồng USD, từ mức 3% hiện
nay tiến tới 4-5%.
Những biện pháp trên của Chính phủ Trung Quốc không những đã giúp hạn chế sự
tăng giá của đồng Nhân dân tệ, mà còn khiến đồng tiền này duy trì ở mức giá thấp
trong thời gian dài, khuyến khích xuất khẩu Trung Quốc. Tuy nhiên, giữ vững mức
tỷ giá hiện hành (8,26 - 8,28 NDT/USD) cũng không phải là điều dễ thực hiện.
Theo đánh giá, có những thời điểm ngân hàng trung ương Trung Quốc phải bỏ
Nhân dân tệ ra để mua tới 600 triệu USD mỗi ngày. Biện pháp can thiệp này không
thể duy trì liên tục kéo dài. Do vậy, Trung Quốc đã thực hiện một số biện pháp để
làm dịu sức ép đối với đồng Nhân dân tệ, cụ thể là :
- Thí điểm từ 1/11/2003 cho phép 14 tỉnh, khu vực được đầu tư ra nước ngoài nhiều
hơn, mức trần từ 1 triệu USD lên 3 triệu USD.
- Thực hiện một số biện pháp phối hợp như: giảm bớt mức độ khuyến khích xuất
khẩu, xiết chặt hơn những quy định về việc cho các nhà đầu tư bất động sản vay
tiền và hạn chế hạn ngạch đầu tư của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường trái
phiếu cũng như các thị trường chứng khoán Trung Quốc.
Tháng 10 năm 2004, trong cuộc họp cấp cao của nhóm 7 nước công nghiệp hàng
đầu thế giới (G7) tại Washington, Trung Quốc đã xác nhận sẽ tiến tới linh hoạt tỷ
giá đồng Nhân dân tệ. Mặc dù không đưa ra một lịch trình cụ thể nào cho cam kết
về linh hoạt tỷ giá, nhưng Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra một số biện pháp nhằm
cải cách chính sách tiền tệ.
Nhờ các nỗ lực điều chỉnh trên của chính phủ, đồng Nhân dân tệ đã đứng vững
trong thời gian này và cả một khoảng thời gian dài về sau. Tính cho đến năm 2005,
tỉ giá ngoại tệ của Trung Quốc được ấn định với đô la Mỹ tại mức 8.28 NDT đổi
lấy 1 USD, với biên độ dao động khá rộng +/- 0.3% mỗi ngày.
1.1.5. Giai đoạn từ 07.2005 đến nay
Vào ngày 22.07.2005, Trung Quốc chính thức thông báo hàng loạt những biện pháp
như sau:
• Đồng Nhân dân tệ được điều chỉnh ở mức độ vừa phải: tăng giá 2.1% tức là
đạt mức 8.11 NDT/USD
• Một sự thay đổi quan trọng hơn: đồng Nhân dân tệ sẽ không tiếp tục, bị ấn
định với USD nữa, mà thay vào đó sẽ được xác định dựa trên một số các
đồng tiền mạnh nhất định như US$, €, ¥, K. Won, etc.(quyết định này đã
được Uỷ ban nhà nước thông qua vào 21.07.2005)
• Mặc dù biên độ dao động tỉ giá trong ngày khá lớn (+/- 3% đối với USD +/-
5% đối với Euro, etc.), thì về mặt lý thuyết, sự biến động hằng ngày này vẫn
được tính đến. Vì thế, ví dụ như USD có thể bị định giá cao khoảng 6% một
tháng, thì cơ quan chức năng sẽ dùng biên độ tối đa 3% áp dụng cho USD.
Những biện pháp trên thể hiện một bước chuyển lớn về tiền tệ của Trung Quốc, từ
chính sách tỉ giá hầu như là cố định sang một cơ chế tỉ giá thả nổi theo cung cầu thị
trường có sự điều tiết của nhà nước. Theo Trung Quốc, điều này phù hợp với bối
cảnh thực tế của sự phát triển khu vực ngoài nước của Trung Quốc.
Từ thời điểm chuyển đổi chính sách trên cho tới hiện nay, Trung Quốc không có
những sự chuyển đổi chính sách tiền tệ đáng kể mà chỉ có những điều chỉnh hỗ trợ
để bình ổn tài chính tiền tệ trong nước. Và nhìn toàn cảnh thì những nỗ lực về
chính sách tỉ giá hối đoái của Trung Quốc đã khá thành công.
Cụ thể về những tác động của những chính sách này trong từng giai đoạn sẽ
được phân tích ở phần tiếp theo.
1.2. Tác động của Chính sách tỷ giá hối đoái Trung quốc
a. Tới Trung Quốc
Trước hết xem xét trên khía cạnh tích cực của việc phá giá đồng NDT (từ năm
1979 đến năm 1994) xét trong ngắn hạn sẽ làm nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia và có
xu hướng làm tăng xuất khẩu ròng. Nguyên nhân ở đây là do lượng hàng xuất khẩu sẽ rẻ đi
một cách tương đối trên thị trường quốc tế, còn lượng hàng nhập khẩu đắt lên tương đối tại
thị trường nội địa. Chính sách tỷ giá trong thời kỳ này không chỉ giúp Trung Quốc đẩy
mạnh xuất khẩu, chiếm lĩnh nhiều thị phần quan trọng trên quốc tế mà còn tạo cơ sở giảm
thiểu những rủi ro hối đoái và tạo môi trường hấp dẫn thu hút đầu tư mạnh từ các nguồn
đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc để vươn lên đứng đầu các nước đang phát triển về mức
độ thu hút đầu tư nước ngoài cả trực tiếp và gián tiếp. Đây cũng là cơ sở tạo ra khả năng
góp phần giảm sốc cho nền kinh tế Trung Quốc trước tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ khu vực Đông Nam Á.
Bảng 3.1 : Một số chỉ số phát triển kinh tế của Trung Quốc thời kỳ 1980 -
1990.
Chỉ tiêu 1985 1986 1987 1988 1989 1990
GDP (giá 1990) 1254,5 1365,7 1527,7 1695,
4
1764,3 1832,
0
Tốc độ tăng trưởng (% năm) 16,2 8,9 11,9 11,0 4,1 3,8
Cán cân xuất nhập khẩu - 36,7 - 25,5 1,1 15,1 - 18,6 51,0
Dự trữ ngoại tệ (triệu USD) 15,236 17,54
8
17,022 28,59
4
Tuy vậy, nó cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quan hệ mua bán ngoại thương như
trong việc duy trì các hợp đồng cũ trên cở sở tỷ giá cũ là khó, từ đó dẫn đến việc tổ chức
mở rộng sản xuất bị thu hẹp trong ngắn hạn.
Xét trên khía cạnh tiêu cực thì Trung Quốc cũng đã phải chấp nhận trả giá bằng
một mức lạm phát cao không mong muốn năm 1994 là 24,24%, cao hơn năm 1993
24,24/ 14,58 = 66,25%, lớn hơn mức ảnh hưởng thông thường của tỷ giá hối đoái đến
mức giá cả hàng hoá - dịch vụ của một nước (Theo thống kê của các nhà kinh tế là
<50%). Thực tế này có thể được giải thích do sự cộng hưởng của các tác động của chính
sách tiền tệ trước đó (xem bảng 3.2).
Bảng 3.2 : Tình hình diễn biến của chính sách tiền tệ giai đoạn 1990 - 1997.
Chỉ tiêu 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
Lãi suất ngân
hàng (%năm)
7,92 7,20 7,20 10,08 10,98 10,44 9,00 8,55
Mức cung tiền
(M1)
701,0 898,8 1171,4 1676,1 2154,0 2597,0 3066,3 3834
Tỷ lệ tăng
trưởng của
M1 (%)
20,15 28,22 30,33 43,08 28,51 20,57 18,07 25,00
Tốc độ tăng
trưởng (%
năm)
3,80 9,20 14,20 13,50 12,70 10,50 9,50 8,80
Bảng 3.3 : Tình hình lạm phát của Mỹ và Trung Quốc 1994 - 1997
Tỷ lệ lạm phát 1994 1995 1996 1997
Mỹ (%) 2,60 3,00 2,70 2,30
Trung Quốc (% năm) 24,24 16,90 8,32 2,80
Nhưng sự trả giá này chỉ có tính chất ngắn hạn và đã được Chính phủ Trung
Quốc kịp thời điều chỉnh bằng chính cách thắt chặt tiền tệ, năm sau lạm phát đã giảm
xuống và nhanh chóng trở lại ổn định. (xem bảng 3.3).
Thứ hai, xem xét đến việc nâng giá đồng NDT khi Trung Quốc quyết định sẽ
năng tỷ giá NDT/USD thêm 2% (từ mức 8.3 NDT ăn 1 USD lên 8.11 NDT ăn 1 USD vào
ngày 21/07/2005. Trung Quốc đã hoàn thiện hơn cuộc cải cách cơ chế hình thành tỷ giá
đồng tiền và làm dịu bớt tình trạng mất cân bằng mậu dịch đối ngoại, giảm áp lực cuộc
chiến tranh giữa Trung Quốc trong việc mở của thị trường tài chính và thị trường vốn
trong cán cân thanh toán quốc tế khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và các
nước phát triển đặc biệt là Mỹ khi sự mất cân đối kép của nền kinh tế nước này vẫn chưa
có giải pháp nào giải quyết hữu hiệu. Nâng cao sức cạnh tranh của Doanh nghiệp trong
nước do việc giảm bớt được các chi phí cho máy móc, thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu.
Tuy nhiên xét trên mặt hạn chế thì việc định giá lại đồng NDT cũng sẽ gây ra
những ảnh hưởng trái ngược đối với nhiều vấn đề xã hội, nhiều ngành sản xuất, người
tiêu dùng và các doanh nghiệp của Trung Quốc. Nó hạn chế việc Trung Quốc xuất khẩu
hàng ra thị trường nước ngoài, tăng giá các sản phẩm xuất khẩu vì vậy làm giảm sức
cạnh tranh của các doanh nghiệp Trung Quốc trên thị trường quốc tế, điều này chắc chắn
sẽ giảm thặng dư thương mại (vốn là nhân tố quan trọng tạo ra tốc độ tăng trưởng thần
kỳ của Trung Quốc bấy lâu nay) đồng thời khuyến khích việc nhập khẩu hàng từ bên
ngoài vào Trung Quốc vì đồng NDT tăng 2,1% so với đồng USD. Giả sử trong trị giá
711 tỷ USD ngoại tệ dự trữ của Trung Quốc có tới 500 tỷ lưu trữ bằng đồng USD (số còn
lại có thể được lưu trữ bằng vàng, đồng Yen của Nhật, đồng Euro ) thì số tiền mà Trung
Quốc mất không do nâng giá đồng NDT là 10 tỷ USD. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc
không nâng giá đồng NDT đồng thời lại kéo dài cảnh thặng dư hiện nay thì bản thân
Trung Quốc có thể gây ra cảnh lạm phát kéo dài, các ngân hàng thì cho vay bừa bãi và
việc cải tổ các xí nghiệp quốc doanh có thể sẽ bị chậm lại.
b. Tới thế giới
Ngày 1/12/1996, đồng NDT Trung Quốc đã chính thức được Quỹ tiền tệ Quốc tế
(IMF) công nhận là đồng tiền chuyển đổi tự do ở các tài khoản vãng lai, tức có liên quan
đến các khoản thanh toán về mậu dịch hàng hoá - dịch vụ cũng như các khoản lợi nhuận
các công ty nước ngoài chuyển về nước.
Nhìn lại việc duy trì một tỷ giá ổn định NDT/USD của Trung Quốc trong cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực Đông Nam Á từ năm 1997, thì phần nào nhận
thấy Trung Quốc đã giảm bớt tác động của nó tới chính nền kinh tế nước mình và cũng
như nền kinh tế thế giới bằng cách duy trì một cách ổn định giá trị của đồng NDT so với
việc để mặc cho đồng NDT bị phá giá trước làn sóng tấn công của cộc khủng hoảng, kết
hợp với việc giảm thuế đối với các công ty xuất khẩu làm cho hàng hoá giảm xuống theo
giá trị đồng USD. Việc này phần nào làm các đồng tiền châu Á tiếp tục ổn định, đồng
USD giảm chậm chạp so với các đồng tiền Châu Á khác cũng như với đồng tiền mới
xuất hiện là đồng Euro.
Việc tăng giá đồng NDT được coi như sự kiện phục hồi đồng tiền của khu vực
Châu Á. Nếu xét trên góc độ này thì ASEAN là khu vực được hưởng thụ từ động thái
chuyển dịch đồng nội tế của nền kinh tế lớn này. Các đồng Châu Á mạnh lên làm giảm
áp lực tăng lãi suất đối với các quốc gia đồng thời giúp giảm chi phí nhập khẩu cho
những nước này. Những nước có tiềm năng được lợi lớn nhất trong trật tự mới này là
Indonesia, Singapore, Thái Lan và Malaysia. Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ tương quan lợi
thế thương mại thì áp lực tăng giá đối với các đồng tiền ASEAN trở nên mạnh hơn cũng
đồng nghĩa với việc các nước ASEAN sẽ bị thua thiệt trong cạnh tranh xuất khẩu.
Bên cạnh đó việc Trung Quốc nâng giá đồng bản tệ và cải tiến chế độ tỷ giá linh
hoạt hơn cũng là một tín hiệu mừng đối với Mỹ và các nước phương Tây. Nhật Bản thì
đánh giá đây là bước khởi đầu của Trung Quốc trong việc quốc tế hoá đồng NDT và làm
cho hoạt động thương mại bình đẳng hơn.Theo Mỹ và các nước phương Tây việc Trung
Quốc liên tục neo giữ tỷ giá đồng NDT ở mức cố định 1USD = 8,28 NDT trong hơn 10
năm trở lại đây đã khiến cho đồng tiền này được định giá thấp hơn giá trị thực của nó tới
40%, do đó mang lại lợi thế bất bình đẳng to lớn về giá cho hàng xuất khẩu của Trung
Quốc. Điều đó cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng thất nghiệp và thâm hụt cán
cân thương mại ở mức khổng lồ của Mỹ, trong đó thâm hụt với Trung Quốc
chiếm tỷ trọng lớn nhất.
II_ Chính sách tỷ giá hối đoái của Việt Nam
2.1. Chính sách hối đoái của Việt Nam
2.1.1. Giai đoạn trước 1988
Trước thời kỳ đổi mới nền kinh tế Việt Nam mang tính kế hoạch hóa tập trung theo
mô hình của Liên Xô cũ, nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động, các lĩnh vực
kinh tế, xã hội…Trên thị trường, quan hệ cung cầu, các yếu tố ảnh hưởng đến
không được xem xét. Trong giai đoạn này Việt Nam áp dụng chính sách tỷ giá cố
định và đa tỷ giá. Việt Nam hầu như không có mối quan hệ thương mại với các
nước không theo con đường chủ nghĩa xã hội do vậy chủ yếu xác lập tỷ giá giữa
VNĐ và đồng Rúp, còn với các ngoại tệ khác được xác lập không chính thức.
Khi Việt Nam bắt đầu chuyển sang cơ chế thị trường, chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ
giá không những không đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường mà còn kìm
hãm những động lực để phát triển kinh tế, làm cho nền kinh tế sa sút và đi vào suy
thoái. Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cớ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Và theo đó có sự chuyển đổi trong
chính sách tỷ giá hối đoái của nước ta. Quá trình chuyển đổi diễn ra theo nhiều giai
đoạn. Cũng giống như Trung Quốc và một số nước khác, trước hết để cho tỷ giá thả
nổi theo sát những diễn biến của thị trường trong những năm đầu của quá trình
chuyển đổi (1989 – 1992). Sau đó thì nhà nước can thiệp và duy trì tỷ giá xung
quanh một biên độ nhất định.
2.1.2. Thời kỳ tỷ giá được nới lỏng (1989 – 1992)
18/10/1988 Hội đồng Bộ trưởng này là Chính phủ ban hành nghị định 161/HĐBT
về “Điều lệ quản lý ngoại hội” nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền về tiền tệ và phát
triển nền kinh tế quốc dân, góp phần mở rộng quan hệ về kinh tế, chính trị và văn
hoá với nước ngoài. Theo nghị định này Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện thống nhất quản lý Nhà
nước về ngoại hối và kinh doanh ngoại hối. Từ 10/1998 tỷ giá đồng VNĐ với khu
vực ngoại tệ chuyển đổi sẽ được xác lập cho phù hợp với thị trường và dao động
trong biên độ từ 20% - 30% so với tỷ giá thị trường.
15/3/1989 Ngân hàng Nhà nước ra thông tư số 33/NH/TT hướng dẫn thi hành
“Điều lệ quản lý ngoại hối”. Tỷ giá được điều chỉnh từ 3000 VNĐ/USD lên 3900
VNĐ/USD và tỷ giá chính thức cũng đã được điều chỉnh liên tục tăng trong các
năm 1990 – 1992. Chính sự điều chỉnh này giúp cho khả năng xuất khẩu và thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt nam gia tăng mạnh.
Như vậy từ 3/1989 Việt Nam đã áp dụng chế độ 1 tỷ giá, tỷ giá này do Ngân hàng
Nhà nước công bố trên cơ sở đã tổng hợp các yếu tố như lạm phát, cán cân thanh
toán quốc tế, lãi suất…Hay nói một cách khác là Ngân hàng Nhà nước đã dựa vào
quan hệ cung cầu trên thị trường để xác lập tỷ giá. Đây là động thái đánh dấu bước
ngoặt khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà
nước.
Thời gian Tỷ giá chính
thức
Tỷ giá tự do Chênh lệch
Giá trị Tỷ lệ %
1988 3000 5000 2000 66.6
1989 3900 4100 200 5.1
6/1990 5000 5500 500 10
12/1990 6500 700 500 7.69
6/1991 8100 8780 680 8.39
11/1991 14194 14420 226 8.39
6/1992 11138 11380 242 2.42
12/1992 10407 10520 50 0.47
(Báo cáo thống kê, tổng kết từ 1989 – 1999 của Ngân hàng Ngoại Thương Việt
Nam)
16/8/1991 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra quyết định 107/ NĐ – QĐ thành lập 2
trung tâm giao dịch ngoại tệ tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Việc thành lập
2 trung tâm này đã giúp linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo thị
trường. Theo quy định tỷ giá mua vào không được vượt quá 0.5% so với tỷ giá ấn
định tại phiên giao dịch trước.
2.1.3. Thời kỳ tỷ giá cố định (1992 – 1996) (Đây cũng được coi là thời kỳ trước
khủng hoảng tài chính tiền tệ)
Sau cải cách cho đến những năm 1992, tỷ giá được nới lỏng, sự tăng giá mạnh
đồng USD trong thời kỳ này đã đưa đến một số hệ quả không tốt, dẫn đến hiện
tượng Việt Nam nhập siêu liên tục do nhu cầu phát triển trong nước, nhập khẩu các
trang thiết bị… Đây chính là lý do để Việt Nam áp dụng sang chính sách tỷ giá cố
định. Nhà nước đã có những can thiệp vào tỷ giá ngoại tệ, tỷ giá danh nghĩa gần
như là cố định. Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá mỗi ngày và xác định rõ biên
độ dao động chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do. Trong giai
đoạn trước mức chênh lệch còn ở mức cao, song ở giai đoạn này được Ngân hàng
Nhà nước điều chỉnh ở mức chưa đầy 1%
Như vậy sau năm 1992, chính sách tỷ giá hối đoái được chuyển từ thả nổi linh hoạt
có kiểm soát sang chế độ tỷ giá cố định có điều chỉnh. Nhà nước đã can thiệp vào
thị trường ngoại hối bằng cách mua bán ngoại tệ, có các biện pháp tăng cường kiểm
soát ngoại tệ trôi nổi nhằm ổn định tỷ giá.
20/9/1994 thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được thành lập nhằm mục đích hình
thành thị trường mua bán ngoại tệ có tổ chức giữa các Ngân hàng thương mại được
phép kinh doanh ngoại tệ. Thông qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, Nhà nước
sử dụng quỹ điều hòa ngoại tệ với tư cách là người mua, người bán cuối cùng để
can thiệp thị trường một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chính sách tiền tệ, chính
sách tỷ giá của Nhà nước.
12/1992 12/1993 12/1994 12/1995 12/1996
Tỷ giá hối
đoái danh
nghĩa
10720 10841 11004 11021 11040
CPI Việt
Nam
100 105.2 120.3 135.6 141.7
CPI Mỹ 100 102.6 104.9 107.6 109.8
Tỷ giá hối
đoái (PPP)
10720 10992 12294 13510 13834
(Báo cáo thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Như vậy có thể thấy việc duy trì tỷ giá hối đoái cố định quá lâu đã làm cho đồng
VNĐ ngày càng có xu hướng bị đánh giá cao hơn thực tế, đồng VNĐ đã bị lên giá
đối ngoại. Nếu dựa theo phương pháp tính PPP, giả sử lấy 12/1992 là thời điểm
gốc, tính đến 12/1996 tỷ giá hối đoái sẽ là 13834 VNĐ/USD nhưng trên thực tế chỉ
là 11040 VNĐ/USD
Chính việc đồng VNĐ bị đánh giá cao đã gây tổn hại đến năng lực cạnh tranh trong
thương mại quốc tế của hàng hóa - dịch vụ Việt Nam, làm kìm hãm xuất khẩu và
đẩy mạnh nhập khẩu, tạo sức ép lớn với các ngành sản xuất trong nước.
2.3.4. Thời kỳ xảy ra khủng hoảng (1997 – 1998)
Trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng, vào tháng 2/1997 Nhà nước đã điều chỉnh tăng
tỷ giá danh nghĩa để hạn chế số nhập siêu quá lớn. Vào tháng 7/2997 cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ Châu Á nổ ra, có ảnh hưởng đến nền kinh tế của nhiều quốc
gia trong đó có Việt Nam. Một loạt các đồng tiền của các nước bạn hàng bị mất giá
so với USD. Trong chính sách tỷ giá cố định ở thời kỳ trước đồng VNĐ đang bị
định giá cao thì nay lại càng tăng giá hơn.
Để giảm giá đồng VNĐ, nhà nước tiếp tục điều chỉnh tăng giá tỷ giá thêm 3 lần
trong năm 1997, 1998 nhằm khuyến khích xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. Lần
điều chỉnh đầu tiên là vào 13/10/1997, Ngân hàng Nhà nước đã nới lỏng biên độ tỷ
giá mua bán ngoại tệ lên 10% so với tỷ giá chính thức. Biên độ dao động được đưa
lên 10% đã giúp cho tỷ giá biến động một cách linh hoạt hơn, phản ánh đúng mức
hơn những yếu tố thực tế ảnh hưởng tới.
Tháng Tỷ giá chính thức Tỷ giá thị trường tự do
Mua Bán
1/1997 11080 11250 11340
2/1997 11090 11400 11460
3/1997 11101 11620 11650
4/1997 11105 11740 11770
5/1997 11110 11640 11660
6/1997 11119 11640 11660
7/1997 11129 11864 11710
8/1997 11144 11770 11800
9/1997 11164 12770 11800
10/1997 11175 12350 11450
11/1997 11175 12970 13030
12/1997 11175 12850 13000
(Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 1997)
Sang năm 1998 tỷ giá tiếp tục được điều chỉnh tăng lên. Vào tháng 8/1998 tỷ giá
chính thức ở mức 12998 tăng 10% so với đầu năm 1998 và biên độ giao dịch ngoại
tệ thu hẹp xuống chỉ còn là 7%
Tháng Tỷ giá chính thức Tỷ giá thị trường tự do
Mua Bán
1/1998 11175 13115 13197
2/1998 11800 13254 13383
3/1998 11802 13048 13122
4/1998 11806 12987 13010
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét