Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

230 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: NGUỒN NHÂN LỰC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. KHÁI NIỆM, CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam
từ 15-60, nữ từ 15 đến 55 tuổi) và có khả năng lao động. Nguồn nhân lực
bao gồm cả những người đang tham gia lao động hoặc sẽ tham gia hoạt
động kinh tế xã hội. Như vậy ở đây bao gồm cả những người đang tham gia
lao động hoặc đang trong quá trình học tập, tìm kiếm việc làm….
Theo một cách tiếp cận rộng hơn thì nguồn nhân lực có thể hiểu là
nguồn lực con người, là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, nó là một
bộ phận của dân số có vai trò tạo ra giá trị vật chất, văn hóa, dịch vụ cho xã
hội. Như vậy nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động,
có khả năng lao động không kể đến trạng thái là họ đang có hoặc không
tham gia hoạt động kinh tế xã hội
Còn theo định nghĩa về nguồn nhân lực của Liên Hiệp Quốc: Nguồn
nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức của toàn bộ cuộc sống con
người thực hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong
một cộng đồng
Như vậy theo cách hiểu định nghĩa của Việt nam có khác so với cách
định nghĩa của Liên Hợp Quốc. Chúng ta quy định nguồn nhân lực giới hạn
bởi độ tuổi còn theo cách định nghĩa của Liên Hợp Quốc là cách tiếp cận
không quy định theo độ tuổi
1.1.2. Các thành phần cấu thành nguồn nhân lực
1.1.2.1. Lao động đang tham gia hoạt động kinh tế
Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế (hay còn gọi là dân số
hoạt động kinh tế) là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động, có công ăn việc làm , đang hoạt động trong các ngành kinh tế văn
hoá xã hội .
1.1.2.2. Nguồn nhân lực dự trữ
- Nguồn nhân lực dự trữ là những người nằm trong độ tuổi lao
động nhưng vì lý do nào đó chưa tham gia hoạt động kinh tế. Số người này
đóng vai trò của một nguồn dự trữ về nhân lực cho xã hội. Bao gồm :
• Những người làm công việc nội trợ gia đình,
• Những người đang tham gia học tập bao gồm những người
trong độ tuổi lao động nhưng đang trong thời gian học tập tại
các trường phổ thông, Đại học, Cao đẳng, các trường Trung
học chuyên nghiệp và những người đang trong thời gian tham
gia học nghề,
• Những người đang trong thời gian hoàn thành nghĩa vụ quân
sự
• Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, những người
trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp (có nghề hoặc
không có nghề) đang trong quá trình tìm việc làm.
1.1.3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực:
Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm
những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất. Nó
thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một
khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các
quan hệ xã hội. Các chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi hiện nay bao gồm chỉ
tiêu về sức khoẻ, giáo dục, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật
và chỉ tiêu tổng hợp HDI
1.1.3.1. Chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ:
“ Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm
thần và xã hội, chứ không chỉ là không có bệnh tật hay thương tật gì” (hiến
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chương của tổ chức y tế thế giới ). Như vậy, sức khỏe là chỉ tiêu tổng hợp
chỉ trạng thái thoải mái về thể chất và tinh thấn của con người. Nói đến sức
khỏe không chỉ nói về vấn đê thể lực thể trạng của con người như sức dẻo
dai, thể trạng về bệnh tật…mà sức khỏe ở đây bao gồm cả những yếu tố về
tinh thần, tâm lý của con người. mức độ thoải mái của con người về hoàn
cảnh sống, môi trường lao động và môi trường xã hội. Các yếu tố cấu thành
sức khỏe có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tâm lý và tinh thần con người
tác động đến thể chất con người và ngược lại.
Sức khỏe nguồn nhân lực có tác động rất lớn đến năng suất lao động
của cá nhân đó khi tham gia hoạt động kinh tế cũng như chưa tham gia hoạt
động kinh tế, trong học tập cũng như trong các công việc nội trợ của bộ
phận không tham gia hoạt động kinh tế, sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp đến
khả năng tiếp thu, khă năng sáng tạo trong công việc và trong học tập
Theo Bộ Y tế nước ta quy định sức khỏe có 3 loại
Sức khỏe loại A :Thể lực tốt, không mang bệnh tật gì
Sức khỏe loại B: Trung bình
Loại C : Là loại có thể lực yếu, không có khẳ năng lao động
Tuy nhiên theo khái niệm nguồn nhân lực của chúng ta thì nhóm sức
khỏe yếu và không có khẳ năng lao động không thuộc bộ phận của nguồn
nhân lực
Để đánh giá sức khỏe nước ta hiện nay sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu thể lực chung: Đánh giá đơn thuần về thể lực con người
như chiều cao, cân nặng, sức bền của con người
- Chỉ tiêu thị lực : Chia theo thang điểm 10, qua đó đánh giá về khả
năng nhìn của con người trên mức điểm quy định
- Chỉ tiêu tai mũi họng: Đánh giá khả năng nghe rõ, các loại bệnh tật
về tai, mũi, họng
- Chỉ tiêu đánh giá sức khỏe răng, hàm, mặt
- Chỉ tiêu Nội khoa
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Ngoại khoa
- Thần kinh tâm thần
- Da liễu
1.1.3.2. Chỉ tiêu đánh giá trình độ văn hoá:
Trình độ văn hóa của con người là sự hiểu biết của người đó đối với
những kiến thức phổ thông. Trình độ văn hoá là khả năng về tri thức và kỹ
năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn
giản để duy trì cuộc sống. Trình độ văn hoá được cung cấp qua hệ thống
giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của
mỗi cá nhân
Nói đến trình độ văn hóa của nguồn nhân lực, tức là nói đến trình độ
hiểu biết của người trong độ tuổi lao động về các kiến thức phổ thông về tự
nhiên. Xét về khía cạnh nào đấy, trình độ văn hóa thể hiện mặt bằng dân trí
của một quốc gia.
Các chỉ tiêu đánh giá trình độ văn hóa nguồn nhân lực gồm các chỉ
tiêu định lượng về trình độ văn hóa trung bình của bộ phận dân số trong độ
tuổi lao động. Bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Số người trong độ tuổi lao động biết chữ và chưa biết chữ
- Số năm đi học trung bình dân số từ 15 tuổi trở lên
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ tiểu học
- Số người trong độ tuổi lao động có trung học cơ sở
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ phổ thông
- Số người trong độ tuổi lao động có trình độ Đại học và trên Đại học
Như vậy, trình độ văn hóa của người lao động là một chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Nó là cơ sở kiến thức đầu
tiên để người lao động có khẳ năng nắm bắt được những kiến thức chuyên
môn kỹ thuật phục vu trong quá trình lao động sau này. Nâng cao trình độ
văn hóa có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển nguồn lực con người
của cả quốc gia
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.3.3. Chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật:
Trình độ chuyên môn : Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết và khả
năng thực hành về chuyên môn nào đó. Trình độ chuyên môn của người lao
động thể hiện quá trình được đào tạo bởi hệ thống giáo dục đại học cao
đẳng và trung học chuyên nghiệp trong và ngoài nước. Người có trình độ
chuyên môn là người có khả năng chỉ đạo quản lý trong một lĩnh vực
chuyên môn nhất định nào đó.
Một số chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực:
- Tỷ lệ cán bộ không qua đào tạo
- Tỷ lệ cán bộ Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học
- Tỷ lệ cán bộ trên Đại học
Cũng như trình độ chuyên môn, trình độ kỹ thuật của người lao động
thể hiện hiệu quả làm việc của người lao động. Riêng trình độ kỹ thuật của
người lao động được dùng để chỉ trình độ của bộ phận lao động được đào
tạo từ các trường kỹ thuật, các kiến thức được trang bị riêng về lĩnh vực kỹ
thuật nhất định, vì thế đặc trưng chỉ tiêu phản ánh của trình độ kỹ thuật của
người lao động được sử dụng nhiều nhất chính là chỉ tiêu “bậc thợ”. Ngoài
ra còn một số chỉ tiêu thể hiện về số lượng trung bình những người công
tác riêng về lĩnh vực kỹ thuật như sau:
- Số lượng người lao động có qua đào tạo kỹ thuật và số lượng người
lao động phổ thông
- Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng kỹ thuật
- Trình độ tay nghề theo bậc thợ
Trong thực tế người ta thường gộp chung các chỉ tiêu đánh giá trình
độ chuyên môn và trình độ kỹ thuật của người lao động lại thành trình độ
chuyên môn kỹ thuật (CMKT) để đánh giá kiến thức và kỹ năng cần thiết
nhằm đảm đương chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề
nghiệp. Qua đó các chỉ tiêu đánh giá tổng thể về trình độ CMKT thông
dụng là:
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Thứ nhất:Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với lực lượng lao động
đang làm việc. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khái quát về trình độ CMKT
của quốc gia, của các vùng lãnh thổ.
Phương pháp tính : % số lao động đã qua đào tạo so với tổng số lao
động đang làm việc.
t
lv
đt
=
∑l
lv
đt
x 100
∑l
lv
t
lv
đt
: tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với tổng lao động đang làm việc.
l
lv
đt
: số lao động đang làm việc đã qua đào tạo.
l
lv
: số lao động đang làm việc.
thứ hai, tỷ lệ lao động theo cấp bậc đào tạo được tính toán cho quốc
gia, vùng, ngành kinh tế dùng để xem cơ cấu này có cân đối với nhu cầu
nhân lực của nền kinh tế ở từng giai đoạn phát triển.
là % số lao động có trình độ cmkt theo bậc đào tạo so với tổng số lao
động đang làm việc:
t
lv
đt
ij =
∑l
lv
đt
ij
x 100
∑l
lv
j
t
lv
đt
ij: tỷ lệ lđ đã qua đào tạo bậc i so với tổng lao động đang làm việc
ở vùng j.
l
lv
đt
: số lao động đang làm việc đã qua đào tạo.
l
lv
: số lao động đang làm việc.
i : chỉ số các cấp được đào tạo.
j: chỉ số vùng.
l
lv
đt
ij: số lao động đang làm việc đã đào tạo bậc i ở vùng j.
Trong thực tế, không phải tất cả các chỉ tiêu này đều có đủ cơ sở số
liệu thống kê để tính toán. có những chỉ tiêu chỉ qua tổng điều tra mới có.
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đây là một hạn chế của công tác thống kê nguồn nhân lực. Để công tác
thống kê, quản lý nguồn nhân lực có chất lượng cần sớm ban hành chính
thức hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
1.1.3.4. Sử dụng chỉ tiêu HDI:
Hiện nay thế giới dùng chỉ tiêu HDI ( Human Development Index)
để đánh giá trình độ phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia trên ba
phương diện là mức độ phát triển kinh tế, giáo dục và y tế. Theo giáo trình
kinh tế phát triển ta có HDI được xác định bởi ba chỉ tiêu sau:
- GDP thực tế bình quân đầu người
- Kiến thức ( tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học của các cấp
giáo dục )
- Tuổi thọ bình quân:
Tuy chỉ tiêu HDI không phải là chỉ tiêu phản ánh riêng chất lượng
của nguồn nhân lực một quốc gia. Song đây là chỉ tiêu quan trọng được sử
dụng rộng rãi trên thế giới để đo chất lượng con người nói chung, ưu điểm
của chỉ tiêu HDI là thuận lợi trong việc so sánh quốc tế. Qua đó một phần
phản ánh chất lượng nguồn nhân lực
1.1.3.5. Yếu tố về tinh thần, ý chí, phẩm chất đạo đức của nguồn
nhân lực
Ngoài các chỉ tiêu chúng ta có thể định lượng như trên thì vấn đề
tinh thần, ý chí và phẩm chất đạo đức cũng là một trong những yếu tố để
đánh giá chất lượng một con người mà cụ thể là người lao động. Tuy nhiên
đây là những chỉ tiêu định tính chỉ dùng trong việc sử dụng, đánh giá sức
mạnh bên trong con người. Tinh thần làm việc, phong cách làm việc có ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng công việc đặc biệt là phong cách làm việc.
Một thực tế hiện nay là những người có trình độ hiểu biết cao trường đi
kèm với tinh thần làm việc rất nghiêm túc, phong cách chuyên nghiệp, biết
quý trọng thời gian và chấp hành tốt kỷ luật tập thể. Ngược lại những người
kém hiểu biết thì lại chây ỳ trong công việc, làm việc không nghiêm túc và
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hay vi phạm nội quy lao động. Chính vì thế những chỉ tiêu định tính trên có
ảnh hưởng lớn đến chất lượng người lao động trên phương diện ý thức của
người lao động đối với công việc. Ngoài ra các yếu tố về truyền thống dân
tộc bảo vệ tổ quốc, truyền thống văn hóa của dân tộc cũng là những
phương diện giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về chất lượng nguồn
lực con người
1.1.4. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
1.1.4.1. Biến đổi kinh tế xã hội:
Chất lượng nguồn nhân lực bị chi phối nhiểu bởi các nhân tố kinh tế
xã hội, tăng trưởng là nhân tố quan trọng tác động trên nhiều phương diện.
Trước hết nó trực tiếp cải thiện đời sống của người dân. Qua tăng trưởng và
phát triển kinh tế xã hội, chất lượng cuộc sống mà trước hết là chất lượng
dinh dưỡng được nâng cao hơn, người dân được hưởng tốt hơn các dịch vụ
giáo dục cũng như chăm sóc sức khỏe. Từ việc chất lượng cuộc sống được
nâng cao, các dịch vụ chăm sóc được quan tâm hơn làm cho con người
không những được cải thiện hơn về tình hình sức khỏe và còn nâng cao
được trình độ văn hóa cũng như trình độ chuyên môn kỹ thuật của mình.
Qua đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần vào công cuộc phát
triển con người.
Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế còn làm tăng tiết kiệm, tăng đầu tư
trong nước, qua đó tạo ra được nhiều việc làm mới cho người lao động,
giảm tỷ lệ thất nghiệp và giảm bất bình đẳng xã hội.
Tăng trưởng kinh tế không chỉ là “môi trường” mà còn là động lực
để thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Yêu cầu của phát triển
đặt ra là phải có những con người có thể lực tốt, trình độ văn hóa và chuyên
môn kỹ thuật tốt. chính vì vậy để có thể phát triển nhanh và bền vững thì
yêu cầu tất yếu là phải nâng cao chất lượng nhân tố con người, nhân tố
quyết định tới quá trình sản xuất xã hội
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuy nhiên các biến đổi xã hội cũng có nhiều mặt tiêu cực của nó,
những biến đổi không có lợi đến môi trường sống, môi trường tự nhiên gây
ô nhiễm, làm tăng bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động cũng
như chất lượng cuộc sống người lao động.
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.4.2. Tình trạng dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe
Như ta đã biết, sức khỏe là vốn quý của mỗi con người. Tình trạng
sức khỏe có liên quan trực tiếp tới khả năng lao động cũng như năng suất
của người lao động. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của con
người trong đó chế độ dinh dưỡng cũng như sự phát triển của các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe cho người dân giữ vị trí quan trọng. Ngoài thể trạng từ
lúc được sinh ra là nền móng ban đầu thì chế độ dinh dưỡng trong suốt
quãng đời là nhân tố quyết định đến thể lực. Ăn uống hợp lý, đầy đủ không
chỉ giúp con người ta có sức khỏe tốt mà khả năng phòng ngừa bệnh tật
cũng được nâng lên. Bên cạnh đó dinh dưỡng đảm bảo là điều kiện không
thể thiếu để phát triển trí não, thuận lợi cho học tập cũng như công việc.
Qua đây ta cũng có thể thấy được chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng to lớn
đến chất lượng nguồn nhân lực. Và thực tế trên thế giới hiện nay, với bất cứ
quốc gia nào đều quan tâm tới vấn đề dinh dưỡng và xem như là chiến lược
trọng điểm của cả quốc gia.
Đi đôi với chế độ dinh dưỡng, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người
dân nói chung và người lao động nói riêng cũng đóng vai trò không kém
phần quan trọng. Sức khỏe tốt là trước hết con người phải có thể trạng tốt,
tức là không có bệnh tật gì. Để phòng ngừa được bệnh tật trong khi mỗi
chúng ta phải sống trong điều kiện ô nhiễm ngày càng tăng, thiên tai bệnh
dịch hoành hành thì việc đảm bảo cho người lao động phòng chống được
bệnh tật, phục hồi sức khỏe sau khi chữa trị bệnh là công việc khó khăn. Để
làm được điều này thì trước hết công tác chăm sóc sức khỏe người lao động
phải được quan tâm. Tăng cường bảo vệ bảo hộ lao động khi tham gia sản
xuất, tăng cường công tác khám chữa bệnh cho người lao động và tăng
cường chất lượng hệ thống y tế là nhân tố quan trọng để đảm bảo sức khỏe
cho người dân nói chung và người lao động nói riêng
1.1.4.3. Mức độ phát triển của giáo dục và đào tạo:
Sinh viên: Nguyễn Huy Thi Lớp: Kế hoạch 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét