2.1.2.1. Chào bán trái phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp
52
2.1.2.2. Chào bán trái phiếu riêng lẻ của các tổ chức tín dụng
59
2.1.2.3. Chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty nhà nhà nước
61
2.2. Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về chào bán chứng khoán
riêng lẻ
63
2.2.1. Giải pháp góp phần hoàn thiện về pháp luật chào bán chứng
khoán riêng lẻ
63
2.2.1.1. Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
63
2.2.1.2. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động
chào bán chứng khoán riêng lẻ
66
2.2.2. Một số biện pháp khác
67
2.2.2.1. Đẩy mạnh công tác đào tạo, tuyên truyền kiến thức về
TTCK
68
2.2.2.2. Xây dựng thị trường giao dịch cho chứng khoán chào
bán riêng lẻ
68
KẾT LUẬN
70
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, bất kì quốc gia có nền kinh tế phát triển nào
cũng có 2 kênh huy động vốn quan trọng: kênh huy động vốn gián tiếp thông
qua hệ thống ngân hàng theo nguyên tắc tín dụng và kênh huy động vốn trực
tiếp thông qua TTCK theo nguyên tắc đầu tư. Hiện nay chúng ta không thể
phủ nhận vai trò của TTCK đối với sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc
gia. TTCK phản ánh rõ nét nhất các qui luật của nền kinh tế thị trường.
Người ta ví TTCK như chiếc nhiệt kế đo “nhiệt độ” của nền kinh tế. Sự tăng
trưởng của nền kinh tế được đánh giá qua chỉ số giá chứng khoán của
TTCK. Lịch sử phát triển nền kinh tế thị trường ở các quốc gia phát triển đã
khẳng định TTCK ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình vận hành
nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong hệ thống kinh tế toàn cầu[37,
tr.1]. Đối với Việt Nam, để hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính,
tạo các tiền đề kinh tế quan trọng, đưa đất nước ta đến năm 2020 cơ bản là
một nước công nghiệp như Đại hội Đảng VIII đã đề ra thì việc xây dựng,
phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính trong đó có TTCK là hết sức cần
thiết.
Ra đời và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 28/7/2000, TTCK Việt
Nam đang có những bước tiến vững chắc, nhằm khẳng định vai trò là công
cụ hiệu quả để huy động và phân bổ nguồn vốn trung và dài hạn cho nền
kinh tế. Việc huy động vốn qua TTCK được thực hiện thông qua hoạt động
chào bán chứng khoán dưới 2 hình thức chào bán chứng khoán ra công
chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ. Chào bán chứng khoán là một
trong những hoạt động đầu tiên và quan trọng nhất trong tất cả các hoạt động
diễn ra trên TTCK. Bởi nó không chỉ góp phần huy động vốn, tăng vốn cho
DN mà còn tạo ra hàng hóa cho TTCK, quyết định sự tồn tại của TTCK.
Riêng đối với hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ với các quy định về
điều kiện thủ tục chào bán dễ dàng, đối tượng chào bán rộng đang là phương
thức huy động vốn hữu hiệu của các DN, đặc biệt là DN vừa và nhỏ. Ở nước
ta, với nền kinh tế có hơn 2/3 DN vừa và nhỏ, chưa đáp ứng được điều kiện
để niêm yết trên sàn giao dịch, thì đây là cách huy động vốn hiệu quả nhất.
Đồng thời, việc tiến hành chào bán chứng khoán riêng lẻ sẽ góp phần giúp
các DN đổi mới hình thức quản lý, quản trị DN, nâng cao năng lực cạnh
tranh.
Tuy nhiên, nếu hoạt động chào bán này không được quản lý tốt bằng
pháp luật sẻ có tác động xấu, gây khủng hoảng cho TTCK, gây thiệt hại cho
các nhà đầu tư và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn
hiện nay khi pháp luật chứng khoán đang trong quá trình hoàn thiện. Hoạt
động chào bán chứng khoán riêng lẻ vẫn chưa thực sự được quan tâm và
giám sát đúng mức. Điều này đã gây ra nhiều bất ổn cho TTCK trong thời
gian qua cả về mặt lý luận và thực tiễn như: các vụ việc xâm phạm quyền lợi
của các cổ đông hiện hữu khi chào bán chứng khoán riêng lẻ hay các văn
bản pháp luật ban hành không rõ ràng khiến cho các DN cũng như cơ quan
áp dụng pháp luật lúng túng trong quá trình thực hiện. Điều này đã làm
chậm tiến độ huy động vốn của các DN, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển
kinh tế chung của cả nước. Hay sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản
pháp luật… Vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động chào bán chứng khoán riêng
lẻ của DN diễn ra đúng pháp luật, TTCK vận hành an toàn. Vấn đề nghiên
cứu pháp luật về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc làm cần
thiết. Từ nhận thức đó, tôi chọn đề tài: “Pháp luật về hoạt động chào bán
chứng khoán riêng lẻ và thực trạng tại Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài này, mục đích của tác giả nhằm:
- Phần tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về
hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ trên cơ sở các quy định của pháp
luật chứng khoán và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
- Phân tích đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam trong những năm
qua về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp
luật về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về chào bán chứng khoán
riêng lẻ được quy định trong Luật chứng khoán 2006; Luật chứng khoán
2010; Luật doanh nghiệp 1999, 2005; Luật các tổ chức tín dụng 1997 sửa
đổi bổ sung 2004, 2010; Luật ngân hàng nhà nước 1997 sửa đổi, bổ sung
2004, 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Tìm hiểu thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về chào bán
chứng khoán riêng lẻ trong quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển của hoạt
động chào bán chứng khoán riêng lẻ tại Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về lý luận: Đề tài này nghiên cứu quy định của pháp luật về hoạt
động chào bán chứng khoán riêng lẻ được quy định tại Luật chứng khoán
2006 ; Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung 2010; Luật doanh nghiệp 1999,
2005; Luật các tổ chức tín dụng 1997 sửa đổi bổ sung 2004, 2010; Luật ngân
hàng nhà nước 1997 sửa đổi, bổ sung 2004, 2010 và các văn bản hướng dẫn
thi hành như: Nghị định 01, Nghị định 187/2004/NĐ-CP…
- Về thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng hoạt động chào bán chứng
khoán riêng lẻ. Trên cơ sở đó, tìm ra những vướng mắc, bất cập trong quá
trình áp dụng các quy định của pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ
để đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về
hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đã được đặt ra tác giả
nghiên cứu đề tài trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các
phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa nhằm làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận cơ bản về chào bán chứng khoán riêng lẻ.
- Phương pháp thống kê để thấy được số lượng các đợt chào bán
chứng khoán riêng lẻ trong nền kinh tế.
- Phương pháp so sánh giữa các quy định của pháp luật về hoạt động
chào bán chứng khoán riêng lẻ theo Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ sung
2010 và các văn bản trước đây và các văn bản có liên quan khác.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần lời mở đầu, bảng chữ viết tắt, kết luận, tài liệu tham khảo,
phụ lục, nội dung của đề tài gồm 2 chương:
Chương 1. Tổng quan về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ và
pháp luật chào bán chứng khoán riêng lẻ
Chương 2. Thực trạng pháp luật về hoạt động chào bán chứng khoán
riêng lẻ ở Việt Nam và giải pháp góp phần hoàn thiện.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN
RIÊNG LẺ
VÀ PHÁP LUẬT CHÀO BÁN CHỨNG KHOÁN RIÊNG LẺ
1.1 Khái niệm chứng khoán, khái niệm chào bán chứng khoán và
chào bán chứng khoán riêng lẻ.
• Khái niệm chứng khoán và phân loại chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm chứng khoán
Vào khoảng giữa thế kỷ 15 tại thành phố trung tâm buôn bán của
phương Tây, các thương gia thường tụ tập tại một số khu như quán cà phê để
trao đổi mua bán các loại hàng hoá như nông sản, khoáng sản, tiền tệ và các
chứng từ có giá. Ðiểm đặc biệt ở đây là các thương gia chỉ giao dịch với
nhau bằng lời nói, không có hàng hoá thật. Những cuộc thương lượng này
nhằm thống nhất với nhau các hợp đồng trao đổi mua bán ngay hoặc cho
tương lai. Những cuộc trao đổi này ban đầu chỉ là một nhóm người và sau đó
đông dần cho đến khi nó thực sự thành một khu chợ riêng. Thời gian họp
chợ lúc đầu là hàng tháng, sau đó hàng tuần rồi rút ngắn còn hàng ngày.
Trong các phiên họp chợ tại đây các thương gia thống nhất với nhau các quy
ước cho việc thương lượng và sau này trở thành những quy tắc có giá trị bắt
buộc đối với những ai muốn tham gia thị trường và TTCK hình thành từ đó.
Như vậy, TTCK xuất hiện từ thế kỷ thứ 15. Sự hình thành TTCK cũng đồng
thời với thị trường hối đoái và một số thị trường khác.
Quá trình hình thành và phát triển của thị tường chứng khoán thế giới
đã trải qua những giai đoạn thăng trầm. Thời kỳ huy hoàng vào những năm
1875 đến 1913, TTCK phát triển mạnh cùng với sự tăng trưởng của nền kinh
tế. Hay thời kỳ đen tối nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 và
1987, đã làm cho TTCK thế giới suy sụp nặng nề. Tuy nhiên, TTCK thế giới
vẫn tiếp tục phát triển và trở thành một định chế không thể thiếu trong đời
sống kinh tế của những quốc gia có nền kinh tế phát triển theo định hướng
thị trường và nhất là những nước đang phát triển, đang cần thu hút luồng vốn
lớn dài hạn cho nền kinh tế quốc dân. Cho đến nay, phần lớn các nước trên
Thế giới đã có khoảng trên 160 Sở giao dịch chứng khoán phân tán khắp các
châu lục bao gồm cả các nước trong khu vực Đông Nam Á vào những năm
1960 -1970 vào ở các nước ở Đông Âu như Balan, Hunggari, Séc, Nga, và
Châu Á như Trung Quốc vào những năm 1980 - đầu năm 1990.
Mặc dù ra đời muộn hơn so với các quốc gia khác trên thế giới và
trong khu vực, chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7/2000. Tuy nhiên,
TTCK Việt Nam đang có những bước tiến vững chắc trong quá trình hội
nhập và phát triển, và đang dần khẳng định vai trò là kênh thu hút và dẫn
vốn quan trọng cho nền kinh tế thông qua việc phát hành chứng khoán.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về chứng khoán, tuỳ theo quan điểm
của mỗi chủ thể và pháp luật mỗi quốc gia.
Theo cách hiểu truyền thống: chứng khoán là bằng chứng viết về
quyền tài sản. [3, tr.1] Định nghĩa này được hiểu theo quan điểm chung
chung, dễ gây nhầm lẫn với các loại tài sản khác như các giấy tờ séc, hối
phiếu, lệnh phiếu… và thậm chí cả giấy đòi nợ.
Theo nghĩa nguyên thuỷ nhất, chứng khoán là những chứng thư,
chứng từ thay thế tiền bạc chi tiêu trong các hành trình nhiều ngày trên biển.
[33, tr.270] Định nghĩa này chỉ phù hợp với giai đoạn đầu khi TTCK mới
hình thành, số lượng hàng hoá còn hạn chế.
Theo cách hiểu của các nhà kinh tế học thì, chứng khoán là mọi sản
phẩm tài chính có thể chuyển nhượng được. Hiểu theo cách này, khái niệm
chứng khoán không chỉ có cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phái sinh
mà bao gồm các công cụ trên thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, kỳ
phiếu ngân hàng, các loại thương phiếu, hối phiếu, lệnh phiếu Nếu hiểu
như vậy chúng ta sẽ khó khăn trong việc xác định cấu trúc của thị trường tài
chính. [9, tr.270]
Theo pháp luật chứng khoán Mỹ, khái niệm chứng khoán được hiểu
rất rộng, nó bao hàm cả những lợi ích mà không phải lúc nào mọi người
cũng nghĩ là chứng khoán. Điều 2(a)(1) Luật chứng khoán 1933 cũng như
Điều 3(a)(10) Luật giao dịch chứng khoán 1934 liệt kê các loại chứng
khoán, bao gồm: chứng nhận (note), cổ phiếu, cổ phiếu quỹ (treasury stock),
hợp đồng giao dịch chứng khoán tương lai (security future), trái phiếu, tín
phiếu, chứng nhận nợ, chứng chỉ xác nhận lợi ích hay việc tham gia vào thỏa
thuận chia lợi nhuận, chứng chỉ tín thác cầm cố (collateral-trust certificate),
chứng nhận tiền tổ chức hoặc đăng ký (preorganization certificate or
subscription), cổ phần có thể chuyển nhượng, hợp đồng đầu tư, chứng chỉ tín
thác bỏ phiếu (voting -trust certificate), chứng chỉ ký thác chứng khoán, lợi
ích chưa chia một phần đối với dầu, ga hoặc các quyền về khoáng sản khác
,
các quyền chọn hay đặc quyền về chứng khoán. Một cách khái quát, chứng
khoán là bất kỳ lợi ích, hay công cụ thường được hiểu thông dụng là “chứng
khoán”, hay bất cứ một chứng nhận lợi ích hay sự tham gia, sự bảo đảm, hay
quyền đăng ký, quyền mua “chứng khoán”[34, tr.4]. Luật chứng khoán
Trung Quốc kết hợp cả hai phương pháp trên.[41, tr.210]
Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ
sung 2010 thì: “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.
Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc
dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn
bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán;
c) Hợp đồng góp vốn đầu tư;
d) Các loại chứng khoán khác do bộ tài chính quy định.”
1.1.1.2. Đặc điểm chứng khoán
Chứng khoán là một loại tài sản tài chính có đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, tính thanh khoản (tính lỏng): Tính lỏng của tài sản là khả
năng chuyển tài sản đó ra tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc
vào khoảng thời gian và phí cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc
giảm sút giá trị của tài sản đó do chuyển đổi. Chứng khoán có tính lỏng cao
hơn so với các tài sản khác, thể hiện qua khả năng chuyển nhượng cao trên
thị trường và nói chung các chứng khoán khác nhau có khả năng chuyển
nhượng là khác nhau.
Thứ hai, tính rủi ro: Chứng khoán là các tài sản tài chính mà giá trị
của nó chịu tác động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro
không có hệ thống. Rủi ro có hệ thống hay rủi ro thị trường là loại rủi ro tác
động tới toàn bộ hoặc hầu hết các tài sản. Loại rủi ro này chịu tác động của
các điều kiện kinh tế chung như: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét