Hình 1.1 Sơ đồ quá trình sản xuất giầy vải
Nguyên liệu
Nguyên liệu
Bôi dính vải keo
Cắt các chi tiết
May ráp
Mũ giầy
Cao su, hóa chất
Sơ luyện cân nhẹ
Hỗn luyện ra tấm
Ra hình
Bán thành phẩm cao su
Gò
Lưu hóa giầy
Hoàn tất
Lưu kho xuất hàng
5
5
6
6
+ Quá trình bồi vải: Nguyên vật liệu đầu vào của quá trình bồi vải là vải
bạt, vải lót, visa, mutxốp, cao suflo, keo xăng keo talex có pha thêm PVA,
xút
+ Quá trình chặt: được thực hiện trên các thiết bị cắt đập thủy lực, máy
lạng, máy cuốn chéo, máy cắt viền,máy kim khâu và nguyên vật liệu đầu
vào của quá trình này là vải đã được bồi và vải đã tráng keo, pho cao su đã
tráng.
+ Quá trình may mũ giày được thực hiện bởi công nhân qua các thao tác
trên máy may một kim, hai kim, nền trụ đính chỉ Nguyên vật liệu đầu vào
của quá trình này là các chi tiết của mũ giầy.
+ Quá trình gò: Nguyên vật liệu đầu vào của quá trình này là mũ giầy đã
bao hoàn chỉnh, mũ đã in
+ Quá trình lưu hóa giầy (quá trình hấp giầy) giầy sấy đã được treo trên
giá ở xe lưu hóa đầy vào lò lưu hóa sau khi đã được phủ vải.
+ Quá trình đóng gói: Đây là giai đoạn cuối cùng để hoàn thành sản
phẩm. Sau đó sản phẩm được lưu kho để xuất hàng. Trên đây là quá trình sản
xuất sản phẩm hoàn chỉnh của công ty và chất lượng sản phẩm cuối cùng đem
ra tiêu thụ trên thị trường chịu ảnh hưởng của tất cả các giai đoạn của quá
trình đó.
Ngoài các quá trình này, chất lượng còn phụ thuộc vào các quá trình phụ
khác như quá trình thiết kế, quá trình nghiên cứu thị trường, các dịch vụ hỗ
trợ sản xuất cung ứng đầu vào, đầu ra
7
7
1.4. Tổ chức bộ máy của doanh nghiệp.
Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty cổ phần Long Sơn
Giám đốc
Phó giám đốc kinh doanh
Phòng tài chính kế toán
Phó giám đốc kỹ thuật
Phó giám đốc tổ chức doanh
Phòng tổ chức
Phòng kỹ thuật công nghệ KCS
Phòng tiêu thụ nội địa
Phòng kinh doanh
Phòng mẫu
Phòng xuất nhập khẩu
8
8
Công ty áp dụng cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến chức năng:
mô hình này người ta kết hợp hai loại cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng
để tận dụng ưu điểm và khắc phục nhược điểm của hai loại này. Với kiểu trực
tuyến thì mỗi cấp dưới chỉ chịu sự quản lý trực tiếp và nhận mệnh l ệnh từ
một cấp trên nên đạt được sự thống nhất trong mệnh lệnh nhưng lại có nhược
điểm là mọi gánh nặng đều tập trung vào nhà quản lý cấp cao, đòi hỏi người
quản lý cấp cao phải có hiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực chuyên môn khác
nhau. Còn với kiểu chức năng thì có sự chuyên môn hóa trong quản lý nên
chất lượng mỗi loại quyết định tăng lên nhưng lại có nhược điểm là mỗi
người quản lý cấp dưới phải nhận mệnh lệnh từ nhiều cấp trên nên không có
sự thống nhất giữa các quyết định. Vậy nên người ta kết hợp giữa hai kiểu
trực tuyến chức năng để tận dụng những ưu điểm của hai cơ cấu đó.
Từ giám đốc xuống các phó giám đốc là quản lý theo kiểu trực tuyến và
từ các phó giám đốc xuống các ban là quản lý theo kiểu chức năng.
Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban.
(+) Giám đốc: là người có quyền điều hành cao nhất trong công ty. Giám
đốc chỉ đạo mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn công ty, từ việc xây
dựng chiến lược, tổ chức thực hiện đến việc kiểm tra, đánh giá điều chỉnh và
lựa chọn các phương án và huy động các nguồn lực để tổ chức thực hiện.
Giám đốc trực tiếp chỉ đạo các bộ phận sau:
+ Phòng tài chính kế toán
+ Phòng tổ chức
(+) Phó giám đốc kinh doanh:
Phó giám đốc là người uỷ quyền đầy đủ để điều hành công ty khi giám
đốc đi vắng. Trình, báo cáo các phương án hoạt động để giám đốc phê duyệt.
Phó giám đốc kinh doanh trực tiếp chỉ đạo các bộ phận sau:
+ Phòng tiêu thụ nội địa
+ Phòng kinh doanh
9
9
(+) Phó giám đốc kỹ thuật
Phó giám đốc kỹ thuật có trách nhiệm chỉ đạo nghiên cứu, giám sát quá
trình sản xuất kinh doanh, các quy trình công nghệ, chịu trách nhiệm trước
giám đốc công ty về hệ thống quản lý chất lượng và công tác kỹ thuật của
toàn công ty xây dựng chương trình kế hoạch với giám đốc để chỉ đạo thực
hiện, phụ trách công tác sản xuất kế hoạch vật tư, an toàn lao động.
(+) Phó giám đốc sản xuất:
- Chịu trách nhiệm trước giám đốc về chỉ lệnh sản xuất mẫu, các hoạt
động xuất nhập khẩu, được uỷ nhiệm ký và chịu trách nhiệm trước giám đốc
về các hợp đồng chứng từ xuất nhập khẩu giầy các loại.
- Phó giám đốc sản xuất trực tiếp chỉ đạo các bộ phận sau:
+ Phòng mẫu
+ Phòng xuất nhập khẩu
(+) Phòng tài chính kế toán:
Là phòng quản lý hạch toán kinh doanh và quản lý tài chính, hạch toán
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và phân tích hoạt động. Quản lý vốn,
thanh toán các khoản đối với nhà nước, với các công nhan viên và các đơn vị
khác. Thực hiện chế độ kế toán thống kê, báo cáo cho giám đốc.
(+) Phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh chịu sự quản lý trực tiếp của phó giám đốc kinh
doanh. Lập danh mục các chủng loại nguyên vật liệu đầu vào trên cơ sở đó
xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm cho công ty.
10
10
11
11
Phần II. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA CÔNG TY
* Nhận xét chung.
Thời gian gần đây, công ty thường xuyên tổ chức công tác chế thử và cải
thiện mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của khách hàng, chú trọng việc nâng
cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh. Không
ngừng tìm tòi nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, từng bước mở rộng
thị trường, tăng thị phân. Nhờ đó mà công ty đã đạt được những kết quả đáng
ghi nhận.
- Chất lượng và số lượng sản phẩm của công ty ngày một tăng và có vị
trí trên thị trường.
- Thị trường của công ty ngày càng mở rộng ra nhiều nước và nhiều khu
vực trên thế giới.
- Lợi nhuận tăng lên.
- Số lao động tăng lên qua các năm, giải quyết vấn đề việc làm cho
người lao động.
- Thu nhập của người lao động trong công ty tăng lên, đời sống được cải
thiện.
Tuy nhiên, công ty chưa khai thác được thị trường nước ngoài một cách
triệt để. Còn nguyên vật liệu của công ty thì hầu hết nhập ở nước ngoài.
2.1. Tình hình tiêu thụ, sản phẩm và công tác Marketing
2.1.1. Tình hình tiêu thụ sản phẩm.
Hiện nay công ty đã đưa ra thị trường rất nhiều sản phẩm với mẫu mã đa
dạng, phong phú. Các sản phẩm chủ yếu của công ty đã đáp ứng được phần
nào nhu cầu của khách hàng.
12
12
13
13
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của các sản phẩm chủ yếu
Sản phẩm Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
Giầy da 7.389 8.172 8.838
Giầy vải 5.713 6.425 7.221
Giầy thể thao 12.852 13.995 15.241
(Đơn vị: triệu đồng)
Sản lượng các mặt hàng đều tăng so với năm trước, năm 2004 sản phẩm
giầy da đem lại doanh thu cho công ty là 7.389 triệu đồng đến năm 2005 con
số này là 8.172 triệu đồng tăng gần 1 tỷ đồng (tăng 10,6%). Sang năm 2006
tăng 666 triệu đồng (tăng 8,1%). Với mặt hàng giầy vải cũng tăng qua các
năm. Năm 2006 là 7.221 triệu đồng tăng 796 triệu đồng (tăng 12,4%) so với
năm 2005. Đặc biệt là giầy thể thao tăng rất nhanh qua các năm. Mỗi năm tăng
bình quân hơn 1 tỷ đồng. Sự tăng trưởng này chứng tỏ các sản phẩm của công
ty ngày càng được khách hàng chấp nhận .
Bảng 2.2 Tình hình tiêu thụ trong nước của công ty
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
- Doanh thu bán
hàng nội địa
Triệu đồng 5.480 9.421 31.578
- Tỏng sản lượng
tiêu thụ nội địa
Đôi 91.151 325.367 588.020
- Tổng doanh thu Triệu đồng 11.965 25.368 53.272
- DT nội địa/Tổng
doanh thu
% 45,8 37,1 59,2
Qua bảng số liệu ta thấy, doanh thu tiêu thụ nội địa tăng rất nhanh qua các
năm. Năm 2004, doanh thu nội địa là 5.480 triệu đồng, đến năm 2005, con số
này đã là 9.412 triệu đồng, tăng 3941 triệu đồng. Tỷ lệ doanh thu nội địa/Tổng
doanh thu của năm 2004 là 45,8%. Đến năm 2006, con số này là 59,2%. Điều
này chứng tỏ thị trường nội địa đã chiếm phần lớn trong tổng thị phần hàng
hóa của công ty.
Bảng 2.3 Tình hình xuất khẩu của công ty
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét