Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp nhằm tăng cường khả năng huy động vốn và nâng cao chất lượng tín dụng tại Lienvietbank –Chi nhánh Hà Nội

1.3. Các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM
Dịch vụ ngân hàng đã tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu thị trờng. Nhu cầu thị trờng
laị thờng xuyên thay đổi theo hớng ngày càng cao về chất lợng, đa dạng phong phú về
chủng loại. Đáp ứng sự thay đổi đó, các nghiệp vụ ngân hàng cũng đợc cải tiến và tăng
lên tơng ứng về số lợng và chất lợng. Về cơ bản các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM bao
gồm: nghiệp vụ tài sản nợ, nghiệp vụ tài sản có và nghiệp vụ trung gian.
1.3.1. Nghiệp vụ tài sản nợ
Đây là nhóm các nghiệp vụ nhằm tạo lập nguồn vốn cho nhân hàng. Là một đơn
vị kinh doanh tiền tệ, nguồn vốn của ngân hàng là yếu tố quyết định tới quy mô hoạt
động, uy tín và sức cạch tranh của ngân hàng trên thị trờng.
+ Trớc hết, để có thể thành lập và đi vào hoạt động, chủ ngân hàng phải tạo lập
vốn tự có. Cách thức tạo lập nguồn vốn này tuỳ thuộc đó là loại hình ngân hàng nào.
- Đối với ngân hàng quốc doanh, vốn ban đầu do Nhà nớc cấp, quy mô các ngân
hàng này thờng khá lớn.
- Các ngân hàng cổ phần: vốn ban đầu do các cổ đông đóng góp bằng việc mua
cổ phiếu.
- Các ngân hàng liên doanh tạo lập vốn bằng việc góp vốn của các bên liên
doanh.
- Đối với các Chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, vốn điều lệ là do ngân hàng mẹ
cung cấp.
Trong quá trình hoạt động, NHTM thờng xuyên sử dụng các biện pháp nghiệp vụ
để bảo toàn vốn và không ngừng nâng cao quy mô, chất lợng vốn tự có bằng cách trích
lập quỹ nh: quỹ dự trữ, quỹ bảo toàn vốn từ lợi nhuận thu đ ợc. Một số ngân hàng còn
nâng mức vốn tự có bằng các nghiệp vụ nh: phát hành thêm cổ phiếu, huy động vốn liên
doanh có vậy, ngân hàng mới mở rộng đ ợc quy mô hoạt động của mình và nâng cao
uy tín, khả năng cạnh tranh của mình trên thị trờng.
+ Nghiệp vụ huy động vốn: NHTM đợc coi là tổ chức kinh doanh tiền gửi, điều đó
cho thấy nghiệp vụ huy động tiền gửi quan trọng tới mức nào trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trờng, có một số lợng vốn rất lớn của khách
hàng gửi tiền vào ngân hàng với các mục đích cơ bản nh: lu giữ tiền tệ an toàn, kiếm lãi
từ khoản tiền nhàn rỗi
Thông qua hoạt động nghiệp vụ, ngân hàng đáp ứng đợc nhu cầu của các khách
hàng bằng cách đa ra nhiều loại hình tiền gửi: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, tiền
gửi không kỳ hạn nguồn vốn huy động d ới hình thức tiền gửi thờng chiếm tỷ lệ lớn
trong tổng nguồn vốn mà ngân hàng dùng vào kinh doanh ( thờng chiếm từ 70 - 80% ).
Ngân hàng cũng huy động vốn dới hình thức phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi
nhằm mở rộng nguồn vốn, đáp ứng các nhu cầu tín dụng ngày càng đa dạng hoá các
khách hàng.
+ Nguồn vốn vay: Khi tạm thời thiếu vốn, NHTM có thể đi vay từ ngân hàng Nhà
nớc, hoặc từ các tổ chức tín dụng, các NHTM khác. Trên thực tế, trong quá trình hoạt
động, quan hệ vay mợn giữa các ngân hàng thờng xuyên xảy ra với thời hạn ngắn do
nguồn vốn và sử dụng vốn của mỗi ngân hàng biến động liên tục, lúc thừa lúc thiếu.
Trên cơ sở nguồn vốn tạo lập đợc, sau khi đã trích dự trữ theo quy định, ngân hàng
sử dụng nguồn này để cho vay, đầu t và thực hiện các dịch vụ khác. Các hoạt động này
đợc thể hiện ở nhóm tài sản có của ngân hàng.
1.3.2. Nghiệp vụ tài sản có
+ Nghiệp vụ ngân quỹ: là các hoạt động tạo lập, quản lý, sử dụng các khoản tiền
dự trữ để đáp ứng các yêu cầu quản lý kinh doanh của ngân hàng.
Để đáp ứng nhu cầu rút tiền, nhu cầu thanh toán của khách hàng và cũng là chính
bản thân ngân hàng, mỗi ngân hàng điều phải giữ một khoản tiền mặt nhất định tại quỹ,
tại tài khoản tiền gửi thanh toán ở ngân hàng Nhà nớc và các ngân hàng khác. Khoản dự
trữ này không trực tiếp nhng sinh lời cho ngân hàng nó rất cần thiết. Nó đảm bảo đáp
ứng kịp thời, đẩy đủ nhu cầu thanh toán chi trả cho khách hàng, điều có liên quan trực
tiếp tới uy tín của mỗi ngân hàng.
+ Nghiệp vụ tín dụng: là việc NHTM cho khách hàng vay một số tiền để họ sử
dụng trong một khoản tiền nhất định, khi hết hạn khách hàng sẽ phải trả tiền cho ngân
hàng một khoản tiền lớn hơn khoản vay ban đầu bao gồm cả gốc và lãi.
+ Nghiệp vụ đầu t: ngân hàng thực hiện đầu t vào chứng khoán Nhà nớc, chứng
khoán công ty hoặc có thể đầu t trực tiếp. Nhìn chung hoạt động đầu t luôn có khả năng
sinh lời cao và chứa đựng nhiều rủi ro. Do đó, để đảm bảo an toàn của hệ thống ngân
hàng hầu hết các nớc đều quy định: NHTM chỉ đợc sử dụng vốn tự có dể hùn vốn và
tổng các khoản đầu t không đợc vợt quá tỷ lệ quy định.
1.3.3. Nhóm nghiệp vụ trung gian
Ngoài hai nghiệp vụ cơ bản nói trên, trong quá trình hoàn hiện chức năng và vai trò
của mình, các NHTM còn đợc thực hiện một số các nghiệp vụ khác của một trung gian
tài chính nh:
- Nghiệp vụ bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết trả thay cho khách hàng trong tr-
ờng hợp khách hàng không có khả năng thanh toán.
- Nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt: thu hộ, chi hộ, chuyển tiền, thanh
toán theo L/C
- Thanh toán ngoại hối, vàng bạc đá quý
- Nhận uỷ thác, ký gửi, t vấn tài chính
II. hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng của
NHTM.
1. Hoạt động huy động vốn.
1.1. Sự cần thiết của công tác huy động vốn ở ngân hàng.
Đối với ngân hàng : Đây là nghiệp vụ khởi đầu tạo điều kiện cho sự hoạt động của
ngân hàng. Về sau khi NHTM đã hình thành ổn định, các nghiệp vụ của nó đợc xen kẽ
lẫn nhau trong suốt quá trình hoạt động.
Huy động các nguồn vốn khác nhau ( tài sản nợ ) trong xã hội để hoạt động là hoạt
động quan trọng nhất của các NHTM. ở các nớc công nghiệp, với sự phát triển nhanh
của các thị trờng tài chính, đã có rất nhiều loại tài sản có lợi tức ổn định và thanh toán
cao, tài sản nợ rất đa dạng làm cho việc tìm kiếm vốn hoạt động của NHTM trở thành sự
cạnh tranh khốc liệt, trớc mắt các ngân hàng ở các nớc phát triển luôn luôn xuất hiện vấn
đề làm thế nào để có đủ vốn cho vốn đầu t giữa môi trờng cạnh tranh gay gắt. NHTM
phải cạnh tranh với những ngân hàng khác, với các tổ chức tài chính khác, với các nghiệp
vụ thị trờng trực tiếp và với bất cứ tổ chức nào khác muốn thu hút một khối lợng vốn nào
đó.
Ngoài ra nếu có một cơ cấu nguồn vốn phù hợp sẽ giúp cho ngân hàng giảm đợc
rủi ro, tăng khả năng kinh doanh , hoạt động có hiệu quả .Hơn nữa , một ngân hàng có tỷ
lệ an toàn vốn cao sẽ làm tăng uy tín của mình , có khả năng cạnh tranh lớn.
Còn đối với khách hàng, huy động vốn của ngân hàng giúp cho khách hàng thực
hiện tiết kiệm , sử dụng đợc vốn nhàn rỗi, vừa an toàn vừa sinh lời. Đối với xã hội , huy
động vốn giúp cho nền kinh tế tập trung đợc một lợng vốn lớn để thực hiện đầu t lớn vào
những lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, góp phần vào việc phát triển cơ sở hạ tầng
1.2. Các nguồn vốn của ngân hàng.
Nguồn vốn của một NHTM bao gồm vốn tự có của chủ sở hữu, vốn huy động, vốn
vay ngân hàng Nhà nớc và các tổ chức tín dụng, ở các nớc đang phát triển còn có nguồn
vốn uỷ thác đầu t. Vốn tự có là nguồn vốn khởi tạo để cho ra đời một NHTM, tuy chiếm
tỷ trọng nhỏ nhng có vai trò quyết định quy mô, tầm vóc và uy tín của ngân hàng.
NHTM thực hiện việc đi vay để cho vay bằng việc huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân,
đi vay ngân hàng khác ( ngân hàng Nhà nớc và các tổ chức tín dụng ) hoặc nhận vốn uỷ
thác đầu t từ Chính phủ, các tổ chức ở nớc ngoài.
a/ Vốn tự có NHTM: là nguồn vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, đợc tạo ra bằng
cách bán cổ phần hoặc từ lợi nhuận giữ lại. Nó cũng có thể bao gồm loại vốn mà ngân
hàng đợc phép sử dụng lâu dài theo pháp luật riêng của từng nớc. Đối với các NHTM
thuộc sở hữu Nhà nớc thì chỉ có một cổ đông duy nhất. Đó chính là Nhà nớc.
* Cơ cấu vốn tự có: vốn tự có ngân hàng gồm hai phần : vốn tự có cơ bản và vốn tự
bổ xung
Vốn tự có cơ bản: Gồm cổ phần thờng, thặng d vốn, lợi tức không chia, cổ phần u
đãi vĩnh viễn, khoản dự trữ thiệt hại cho vay.
Bất kể ngân hàng nào khi thành lập đều phải có một mức vốn tự có cơ bản ít nhất là
ngang bằng vốn pháp định. Theo luật công ty ở các nớc cũng nh ở Việt nam đều có điều
khoản quy định một mức vốn tối thiểu cho mỗi loại hình cho công ty mới thanh lập theo
từng ngành nghề riêng biệt gọi là vốn pháp định. Mặt khác luật công ty cũng quy định về
điều lệ hoạt động của các công ty do các cổ đông sáng lập, trong đó chấp hành vốn điều
lệ của công ty do cổ đông sáng lập ấn định, với điều kiện mức vốn này ít nhất bằng vốn
pháp định quy định cho mỗi loại hình công ty.
Nh vậy chung ta thấy vốn cổ phần của một ngân hàng khi mới thành lập có thể
bằng vốn điều lệ ngân hàng ( trờng hợp bán đợc hết cổ phần ). Nhng phải ít nhất bằng
vốn pháp định thì ngân hàng đó mới đợc cấp giấy phép hoạt động.
Thặng d vốn là chênh lệnh do xác định giá trị tài sản cố định của ngân hàng so với
mua sắm ban đầu.
Lợi nhuận không chia: là phần lợi tức hàng năm theo quyết định của đại hội cổ
đông giữ lại bổ xung thêm vốn tự có ngân hàng.
Cổ phần u đãi vĩnh viễn: là loại chứng khoán, có lãi suất cố định cho ngời sở hữu,
ngời giữ cổ phiếu u đãi không có quyền biểu quyết hoạt động ngân hàng. Ngân hàng
phát hành cổ phần u đãi phải trả lợi tức cho cổ phiếu từ lợi nhuận của ngân hàng, không
phải từ chi phí mà còn từ lợi nhuận sau thuế, Trờng hợp ngân hàng không có lợi nhuận
để trả lãi cho cổ phiếu u đãi, ngời giữ cổ phiếu u đãi không có quyền buộc ngân hàng
phá sản. Tuy nhiên, sau một năm nếu không buộc trả lãi cổ đông u đãi có quyền chuyển
đổi cổ phiếu u đãi sang cổ phiếu thờng.
Khi có yêu cầu tăng vốn tự có, ngân hàng thờng phát hành cổ phiếu u đãi, tuy phải
chi phí vốn cao ( lợi tức sau thuế ) nhng không làm giảm sút quyền lợi của cổ đông. Ng-
ời mua cổ phiếu u đãi có thu nhập ổn định theo lãi suất cố định, không nh cổ phần thờng
phụ thuộc vào lợi nhuận hàng năm của ngân hàng.
Khoản dự trữ thiệt hại cho vay: Xuất phát từ cho vay bao giờ cũng xảy ra rủi ro và
mất mát, do vậy các ngân hàng đều duy trì dự trữ cho các khoản tổn thất. Các NHTM đ-
ợc phép trích lập quỹ dự trữ đặc biệt này từ các khoản thu nhập trớc thuế. Cũng có quốc
gia quy định trích lập quỹ này từ lợi nhuận sau thuế theo một tỷ lệ nhất định.
- Vốn tự có bổ xung: Bao gồm cổ phần u đãi thời hạn, giấy nợ và tín phiếu vốn.
Cổ phiếu u đãi có thời hạn là loại chứng khoán nh đã trình bày trên, nhng có thời
hạn ít nhất 7 năm.
Tín phiếu vốn và giấy nợ cũng là những công cụ gọi vốn có lãi suất cố định, nhng
có thời hạn đáo hạn trên 7 năm. Chúng đợc ngân hàng lập kế hoạch trả nợ theo thứ tự
từng loại hoặc đợc trả góp hàng năm là phải bằng nhau. Do các công cụ này có thời hạn
đáo hạn nên đến kỳ hạn đáo hạn ngời giữ nó sẽ hoàn trả lại cho ngân hàng làm lợng vốn
tự có của ngân hàng giảm xuống.
b/ Nguồn vốn huy động
Có nhiều cách phân loại kết cấu vốn huy động, ở đây chỉ đa ra 2 cách phân loại kết
cấu vốn huy động.

Kết cấu vốn huy động phân theo hình thức huy động:
Tiền gửi ( hay còn gọi là tiền ký thác ) của khách hàng thông thờng đợc xem là số
tiền gửi vào tài khoản của họ ở ngân hàng. Thông thờng ở các nớc thì khách hàng xin
mở tài khoản là nhằm hởng các tiện ích mà ngân hàng có thể cung cấp cho họ. Khách
hàng cũng thờng gửi tiền để lấy lãi, nh gửi tiền vào sổ tiết kiệm, tài khoản có kỳ hạn. tr-
ờng hợp này khách hàng không đợc quyền sử dụng các dịch vụ của ngân hàng chẳng
hạn nh séc để thanh toán Do đó ng ời gửi tiền cảm thấy việc ngân hàng tuỳ nghi sử
dụng số d của tiền gửi là chính đáng.
- Tiền gửi không kỳ hạn: đây là loại tiền do khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm
mục đích giao dịch với nhau. Trên thực tế ngời gửi tiền chỉ muốn đổi hình thức
tiền tệ khác thuận tiện hơn cho họ, ngời gửi có thể sử dụng tiền vào bất cứ lúc
nào khi họ muốn, tiền gửi không kỳ hạn thờng không đợc trả lãi và khách hàng
co thể đợc hởng các dịch vụ miễn phí. Khách hàng phát hành séc hoặc các
chứng từ thanh toán khác do ngân hàng quy định. Loại tài khoản này thờng tạo
cho ngân hàng nhiều việc phải làm, do đó lý do tại sao ngân hàng ít khi trả lãi
cho loại tiền gửi này.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền có ấn định cụ thể thời gian đáo hạn, khách
hàng gửi vào NHTM với mục đích vừa thu lãi để dành chi dùng, mua sắm tài
sản về sau, hoặc cho nhu cầu chi tiêu dự định trong tơng lai. Ngơì gửi tiền đợc
hởng lãi suất nhất định khi tới hạn rút tiền.Để quản lý các loại tiền gửi có kỳ
hạn, các NHTM sử dụng tài khoản tiền gửi có ký hạn. Thực ra các tài khoản
tiền gửi có kỳ hạn không phải là những ký thác theo nghĩa của pháp lý mà nó
có dạng nh là một khoản tiền vay của ngân hàng nhng lại không thể hiện bằng
một phiếu khoán. Về nguyên tác khoản tiền gửi, ngân hàng có thể cho vay
bằng cách cho ngời gửi tiền vay trong thời hạn số tiền đã ký thác với lãi suất
không lớn hơn lãi suất ngân hàng trả cho tài khoản tiền gửi có kỳ hạn. Tài
khoản tiền gửi có kỳ hạn nhìn chung không đợc phát hành séc.
- Tiền gửi có kỳ hạn báo trớc ( ký thác có báo trớc ): là loại ký thác có quy định
ngày đáo hạn nhng có thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng khi cần rút
tiền phải báo trớc ( từ 8 15 ngày ).
Xét về mặt kinh tế việc thông báo nhằm mục đích giúp ngân hàng chuẩn bị số
tiền đủ thanh toán, thì nó là một tài khoản tiền gửi ( ký thác ).
Xét về mặt pháp lý, ký thác có báo trớc cho phép khách hàng phát hành séc, do
đó nó giống nh một tài khoản tiền vay của ngân hàng. Ký thác có báo trớc đợc trả lãi nh-
ng thấp hơn lãi trả cho tiền gửi có kỳ hạn.
Nhiều ngân hàng đã kết hợp hai loại tiền gửi có kỳ hạn và ký thác có báo trớc để
thành tiền gửi có kỳ hạn nhng khi cần có thể rút tiền trớc, miễn là phải báo trớc cho ngân
hàng một thời gian theo qui định, tuỳ số tiền lớn hay nhỏ.
- Tiền gửi tiết kiệm: tiền gửi tiết kiệm thờng là tiền gửi của dân c do cha co nhu
cầu sử dụng ngay gửi vào ngân hàng. Ngân hàng thờng trả lãi cho tiền gửi tiết
kiệm cao hơn lãi suất tiền gửi, ngời gửi tiền đợc ngân hàng cấp một sổ tiết kiệm
phục vụ cho việc ghi chép gửi và rút tiền. Tiền gửi tiết kiệm không đợc phát
hành séc. Việc điều hành các tài khoản tiền gửi tiết kiệm tại phần lớn các nớc
đợc quy định:
Sổ tiết kiệm chỉ đợc mở cho các thể nhân, chỉ mở cho mỗi ngời một sổ. Khi gửi
ngời gửi phải cam đoạn cha mở tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng khác.
Số d tối đa của sổ tiết kiệm đợc quy định cho từng thời kỳ.
Chỉ có chủ tài khoản mới đợc rút tiền, không đợc sử dụng séc.
ở Việt nam tiết kiệm gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ
hạn : tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có xác định thời gian đáo hạn . Khi đáo hạn,
ngời gửi không đến rút ngân hàng có thể tự động đợc chuyển sang một kỳ hạn mới, lãi
đợc tính khi đáo hạn. Tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn có thể có lãi suất thấp
hơn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, đợc rút tiền theo ý muốn , lãi đợc tính hàng tháng nhng
chỉ đợc nhập lãi vào gốc theo quý.
- Chứng chỉ tiền gửi ( Certificates of deposits CDs ) do ngân hàng phát hành ghi
rõ thời gian đáo hạn và số lợng tiền gửi, lãi luất ( cố định hoặc giao động ) tuỳ sự
lựa chọn của khách hàng. Chứng chỉ tiền gửi nếu ghi tên ngời gửi gọi là tiền gửi
vô danh là loại có thể chuyển nhợng đợc và đợc bán trên thị trờng thứ cấp trớc
ngày đáo hạn .


Kết cấu vốn huy động phân theo thời gian
Kết cấu huy động vốn phân theo thời gian chia vốn huy động thành vốn huy
động ngắn hạn và vốn huy trung - dài hạn. Mục đích của sự phần chia này nhằm kế
hoạch hoá cho công tắc đầu t, cho vay, đồng thời cũng giúp ngân hàng tính toán thời
gian ngời gửi rút tiền để chuẩn bị khả năng thanh toán một chác chủ động.
- Vốn huy động ngắn hạn : bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn và các
khoản tiền gửi có kỳ hạn dới 1 năm. NHTM dùng các khoản vốn huy động
ngắn hạn chủ yếu cho vay ngắn hạn. Nếu có sử dụng vốn ngắn hạn vào đầu t
trung, dài hạn cũng chỉ sử dụng tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn ngắn hạn bởi việc
dùng vốn ngắn hạn đầu t trung, dài hạn rất nguy hiểm khi có những dòng tiền
rút ra. Nếu ngân hàng không có đủ khả năng chi trả sẽ bị vỡ nợ; để cố gắng lo
đủ khả năng chi trả, NHTM cũng sẽ gặp rủi ro lớn do phải bán các chứng
khoản nợ chắc chắn sẽ gây thiệt hại về tài chính và uy tín của ngân hàng .
- Vốn huy động trung, dài hạn là những khoản tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở
lên. ngân hàng thờng phải trả lãi cho ngời gửi tiền trung, dài hạn cao hơn so với
tiền gửi vốn ngắn hạn nhng với tính chất tơng đối ổn định hơn, thời gian đáo
hạn dài hơn và kế hoạch trả nợ xác định hơn, giúp doanh nghiệp có vốn mở
rộng cho kinh doanh, cải tiến kỹ thuật đầu t mới


Tính chất của nguồn vốn huy động
Nguồn vốn huy động là nguồn vốn có tính chất giao động và luôn biến đổi. Nó
phụ thuộc vào mức thu nhập của dân chúng, tâm lý muốn giữ tiền hay tài sản hiện vật
của công chúng, phụ thuộc và lãi suất thị trờng đặc biệt là lãi suất do các NHTM đa ra
trong việc cạnh tranh nguồn tiền gửi. Loại tiền gửi không kỳ hạn thờng biến động nhiều
nhất, do vậy khó có thể kế hoạch và sử dụng đợc nguồn này để cho vay dài hạn, NHTM
thờng chỉ sử dụng vào việc lập các dự trữ sơ cấp để bổ sung cho dự trữ ngân quỹ hoặc
cho vay ngắn hạn. Loại tiền gửi có kỳ hạn là loại nguồn vốn ngân hàng có thể kế hoạch
việc sử dụng, thông thờng ngân hàng sử dụng vào việc cho vay ngắn hạn. Loại nguồn
vốn huy động có kỳ hạn dài một năm trở lên có thể đợc ngân hàng sử dụng để cho vay
trung và dài hạn.
c/ Nguồn vốn đi vay.


Vay từ ngân hàng Nhà nớc dới hình thức chiết khấu.
Trong những điều kiện nhất điịnh, để đáp ứng đợc nhu cầu thanh khoản cần bổ
sung vốn dự trữ ngân quỹ, khi các khoản tín dụng cha tới kỳ đáo hạn và việc giữ các tài
sản có của ngân hàng là có lợi hơn nếu đem bán lại cho NHTM. Vay vốn từ ngân hàng
Nhà nớc dới các hình thức chiết khấu để bù đáp sự thiếu hụt tạm thời. Thờng các
NHTM vay chiết khấu từ ngân hàng Nhà nớc phải sử dụng các công cụ vay mợn là: Th-
ơng phiếu, chứng khoản của Chính phủ Những chứng khoán đ ợc ngân hàng Nhà nớc
chấp nhận thế chấp tiền vay là lọai có chất lợng cao; thời gian đáo hạn ngắn; đợc giao
dịch ở Sở chứng khoán. Mức lãi suất chiết khấu phụ thuộc vào chính sách quản lý vĩ mô
về cung ứng tiền tệ của ngân hàng Nhà nớc. Trong những giai đoạn thắt chặt tiền tệ thì
việc vay chiết khấu từ ngân hàng Nhà nớc là cực kỳ khó khăn, lãi suất chiết khấu cao,
thậm chí có thể bị từ chối không đợc vay.


Vay từ các nguồn khác
Khi điều kiện khó khăn tài chính nhất thời, các NHTM cũng có thể đi vay từ các
NHTM khác dới hình thức thế chấp, hoặc tín chấp thời hạn ngắn ( một ngày, một vài
tuần ) với lãi suất thoả thuận giữa hai NHTM với nhau. Những món vay này thông th -
ờng là bổ sung dự trữ bắt buộc hoặc thiếu hụt thanh toán.
Tính chất của các khoản vốn vay này là có kỳ hạn nhất định, thông thờng là thời
gian ngắn, nó đợc coi nh là các biện pháp bổ sung thiếu hụt tài chính tạm thời cho
NHTM có tính thời điểm. Song cũng có NHTM coi việc bổ sung bằng vốn vay thay cho

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét