cũng có thể tiếp nhận máy móc, thiết bị nếu hợp đồng kinh doanh quy định góp vốn
bằng máy móc thiết bị.
Nguồn vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay từ các tổ chức chính phủ và phi chính phủ
được hoàn lại.
Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu , tín dụng
thương mại, tín dụng ngân hàng, vốn huy động qua thị trường chứng khoán, tín
dụng thuê mua.
+)Tín dụng thương mại là tín dụng thường được các doanh nghịệp sử dụng, coi đó
như một nguồn vốn ngắn hạn. Tín dụng thương mại chính là quan hệ mua bán chịu
giữa các doanh nghiệp, mua bán trả chậm hay trả góp.Tín dụng thương mại luôn gắn
với một luồng hàng hóa dịch vụ cụ thể, gắn với một quan hệ thanh toán cụ thể nên
nó chiụ sự tác động của cơ chế thanh toán, của chính sách tín dụng khách hàng mà
doanh nghiệp được hưởng. Tín dụng thương mại là phương thức tài trợ tiện lợi, linh
hoạt trong kinh doanh mà nó còn tạo ra khả năng mở rộng hợp tác kinh doanh một
các lâu bền. Tuy nhiên do đặc điểm của khoản tín dụng thương mại thường có thời
hạn ngắn nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lý một cách khoa học, nó có thể đáp
ứng phần nào vốn lưu động cho doanh nghiệp. Mặt khác, do là nguồn vốn ngắn hạn
nên sử dụng qua nhiều loại hình này dễ gặp phải các rủi ro như: rủi ro về l?i suất, rủi
ro về thanh toán. Trên thực tế, chiếm dụng đến một mức độ nào đó có thể coi là tín
dụng thương mại.
+) Tín dụng ngân hàng: Ðây là khoản vay tại các ngân hàng thương mại. Các ngân
hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn tức thời cho doanh nghiệp, với thời hạn có thể từ
vài ngày tới cả năm với lượng vốn theo nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp. Sự
tài trợ của ngân hàng cho doanh nghiệp được thực hiên theo nhiều phương thức.
Một là cho vay theo từng món. Theo phương thức này khi phát sinh nhu cầu bổ sung
vốn với một lượng nhất định và thời hạn xác định, doanh nghiệp làm đơn xin vay.
Nếu được ngân hàng chấp nhận, doanh nghiẹp sẽ ký khế ước nhận nợ và sử dụng
tiền vay. Việc trả nợ được thực hiện theo các kỳ hạn nợ đ? thoả thuận hoặc trả một
Trang 5
lần vào ngày đáo hạn. Hai là, cho vay luân chuyển. Phương thức này được áp dụng
khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn bổ sung thường xuyên và đáp ứng những điều kiện
nhất định mà ngân hàng đặt ra. Theo phương thức này, doanh nghiệp và ngân hàng
thoả thuận một hạn mức tín dụng cho mọt thời hạn nhất định. Hạn mức tín dụng
được xác định dựa trên nhu cầu vốn bổ sung của doanh nghiệp và mức cho vay tối
đa mà ngân hàng có thể chấp thuận. Căn cứ vào hạn mức tín dụng đ? thoả thuận,
doanh nghiệp có thể nhận tiền vay nhiều lần nhưng tổng các món nợ sẽ không vượt
quá hạn mức đã xác định.
+) Vốn huy động qua thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán huy động
vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể huy động qua thị
trương chứng khoán bằng cách phát hành trái phiếu, đây là công cụ tài chính quan
trọng dễ sử dụng vào mục đích vay dài hạn đáp ứng nhu cấu vốn cho sản xuất kinh
doanh. Việc phát hành trái phiếu cho phép doanh nghiệp có thể thu hút được số vốn
nhàn rỗi trong x? hội để mở rông sản xuất kinh doanh của chính bản thân doanh
nghiệp.
+) Tín dụng thuê mua: Trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, vốn tín
dung thuê mua là một phương thức giúp cho các doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có
được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Ðây là
hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tài sản, máy móc thiết bị. Tín dụng thuê
mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính. Ngoài
ra còn có các loại nguồn vốn khác như huy động vốn điều lệ cho các công ty cổ
phần đang trong quá trình thành lập hoặc là thành lập mới hoàn toàn, hay tăng vốn
điều lệ cho các công ty cổ phần.
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp:
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực sẵn có của doanh nghiệp về lao động vật tư tiền vốn
Kết quả
Trang 6
Hiệu quả =
Chi phí
1.2.1. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn:
Vốn là yếu tố của mọi hoạt động kinh doanh. Vốn là tiền tệ cho sự ra đời của
doanh nghiệp, la cơ sở để doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, tao công ăn
việc làm cho nguòi lao động.
Vốn là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường.
Vốn là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh
nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh vốn
của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi, đảm bảo vốn
của doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển.
Quan niệm về hiệu quả sử dụng vốn lưu động là phạm trù kinh tế:
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
xã hội để đạt được kết quả cao nhất với chi phí nguồn lực thấp nhất. Xuất phát từ
những nguyên lý chung như vậy, trong linh vực vốn kinh doanh định ra hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên hai góc độ:
hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong phạm vi quản lý doanh nghiệp người ta
chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế. Do vậy các nguồn lực kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
kinh doanh nói chung và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng mang
tính thường xuyên và bắt buộc đối với các doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lợi tối đa
Trang 7
nhằm mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở
hữu.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về
khả năng sinh lợi, vòng quay vốn lưu động, tốc độ luân chuyển vốn, vòng quay hàng
tồn kho. Nó chính là quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình kinh doanh hay là
quan hệ giữa toàn bộ kết quả kinh doanh với toàn bộ chi phí của quá trinh kinh
doanh đó được xác định bằng thước đo tiền tệ.
Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với quá trinh sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi nó không những đem lại
hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp và người lao động mà nó còn ảnh hưởng đến
sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội. Chính vì thế các doanh nghiệp
phải luôn tìm ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh
nghiệp:
1.2.2.1. Sức sinh lời của vốn lưu động:
lợi nhuận
Sức sinh lời của vốn lưu động =
vốn lưu động bình quân
Trong đó:
VLĐ đầu kỳ+VLĐ cuối kỳ
Trang 8
VLĐ bình quân=
2
Chỉ tiêu này cho biết:
- Cứ một đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh
thì tạo ra nhiều đồng lợi nhuận.
- Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
1.2.2.2. Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
VLĐ bình quân
Hệ số đảm nhiệm VLĐ=
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết:
Cứ một đồng vốn lưu động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
1.2.2.3. Số vòng quay của vốn lưu động( Hệ số luân chuyển):
Trang 9
Thời gian của một vòng luân chuyển
Thời gian kỳ phân tích
=
Số vòng quay của VLĐ
Thường lấy thời gian của kỳ phân tích là một năm hay 360 ngày.
Chỉ tiêu này cho biết:
Số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được một vòng.
Thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của vốn lưu
động càng lớn và làm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn.
1.2.2.4. Số vòng quay của hàng tồn kho:
Giá vốn hàng bán
Số vòng quay hàng tồn kho =
Hàng tồn kho bình quân
Chỉ tiêu phản ánh số lần mặt hàng tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.
1.2.2.5. Thời gian một vòng quay hàng tồn kho:
360 ngày
Thời gian một vòng quay HTK=
Số vòng quay HTK
1.2.2.6. Khả năng thanh toán ngắn hạn:
Tổng số tài sản LĐ
Hệ số thanh toán ngắn hạn =
Trang 10
Tống số nợ ngắn hạn
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện rõ nét thông qua khả năng
thanh toán, đó là khả năng mà doanh nghiệp trả được các khoản nợ phải
trả khi nợ đến hạn thanh toán.
- Hệ số cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp là cao hay thấp, nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1 thì doanh nghiệp có
dư khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính của
doanh nghiệp là bình thường hoặc khả quan.
1.2.2.7. Tỉ suất thanh toán tức thời:
Tổng số vốn bằng tiền
Tỉ suất thanh toán tức thời=
Tổng số nợ ngắn hạn
- Nếu tỉ suất lớn hơn 0.5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan.
- Nếu tỉ suất nhỏ hơn 0.5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh
toán công nợ và do đó có thể phải bán gấp hàng hoá, sản phẩm để trả nợ
vì không dư tiền thanh toán.
1.2.2.8. Số vòng quay các khoản phải thu:
Tổng số doanh thu bán chịu
Số vòng quay các khoản phải thu=
Bình quân các khoản phải thu
- Chỉ tiêu cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả
của việc đi thu hồi nơ.Nếu các khoản phải thu được thu hồi nhanh thì số
Trang 11
vòng luân chuyển của các khoản phải thu sẽ nâng cao và vốn của công ty
ít bị chiếm dụng.
- Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải thu quá cao sẽ không tốt vì có
thể ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ do phương thức thanh toán
quá chặt chẽ.
1.2.2.9. Thời gian một vòng quay các khoản thu:
Thời gian một vòng quay Thời gian kỳ phân tích
Các khoản phải thu =
Số vòng quay các khoản phải thu
- Chỉ tiêu này cho thấy đẻ thu hồi các khoản phải thu cần một thời gian
là bao nhiêu.
- Nếu số ngày này mà lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho khách
hàng thì việc thu hồicác khoản phải thu là chậm và ngược lại.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng:
1.2.3.1. Nhân tố khách quan:
- Chính sách kinh tế của Đảng và nhà nước: Các chính sách vĩ mô của
nhà nước trong nền kinh tế thị trường là điều tất yếu nhưung chính sách vĩ mô của
nhà nước tác động một phần không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Chẳng hạnh như nhà nước tăng thuế thu nhập của doanh nghiệp, điều này làm trực
tiếp làm suy giảm lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, chính sach cho vay đều có
thể làm tăng hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiẹp. Bên cạnh đó các
quy định của nhà nước về phương hướng định hướng phát triểncủa các ngành kinh
tế đèu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Trang 12
- Tác động của thị trường: Kinh tế thị trường là một sự phát triển chung
của xã hội nhưng trong nó có những mặt trái tồn tại và khi cơ chế thị trường mới
được linh hoạt, nhạy bén bao nhiêu thì mặt trái của nó lài là những thay đổi liên tục
đến chóng mặt. Gía cả của các đồng tiền bị mất giá nghiêm trọng, lạm phát lại vẫn
thường xuyên xảy ra. Đương nhiên vốn của doanh nghiệp bị mất dần.
Chúng ta biết rằng cạnh tranh là quy luật vốn có của nền kinh tế thị
trường. Do vậy, doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản
phẩm có như vậy doanh nghiệp mới có thể thắng trong cạnh tranh, mở rộng tiêu thụ
sản phẩm. Chúng ta biết rằng thị trường tiêu thụ sản phẩm có rác động rất lớn tới
việc hiệu quả sử dụng vốn cua doanh nghiệp. Nếu thị trường ổn định sẽ là tác nhân
tích cực thúc đẩy cho doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng và mở rộng thị trường.
- Tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật: Khi khoa học kỹ thuật phát
triển đến tốc độ đỉnh cao trong thời đại văn minh này như một sự kỳ diệu thị trường
công nghệ biến động không ngừng và chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các
nước là rất lớn. Mặt khác nó đặt doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh gay gắt
ngày càng khốc liệt.
Do đó, để sử dụng vốn có hiệu quả doanh nghiệp phải xem xét đầu tư
vào công nghệ nào và phải tính đến hao mòn vô hình do phát triển không ngừng của
tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Tác động của môi trường tự nhiên: Đó là toàn bộ các yếu tố tự nhiên
tác động đến doanh nghiệp như khí hậu, thời tiết, môi trường. Các điều kiện làm
việc trong môi trường tự nhiên phù hợp sẽ tăng năng suất lao động và từ đó tăng
hiệu quả công việc.
Ngoài ra có một số nhân tố mà người ta thường gọi là nhân tố bất khả
kháng như thiên tai, dịch hoạ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ
đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn.
Trang 13
1.2.3.2. Những nhân tố chủ quan:
- Tác động của chu kỳ sản xuât kinh doanh: Đây là một đặc điểm quan
trọng gắn trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Nếu chu ký ngắn,
doanh nghiệp sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo, mở rộng sản xuất kinh doanh.
Ngựơc lại nếu chu kỳ sản xuất dài doanh nghiệp sẽ chịu một gánh nặng ứ đọng vốn
và lãi phải trả cho các khoản vay.
- Tác động của công nghệ sản phẩm: Sản phẩm của doanh nghiệp là nơi
chứa đựng chi phí và việc tiêu thụ sản phẩm mang lại doanh thu cho doanh nghiệp.
Vị thế của sản phẩm trên thị trường nghĩa là sản phẩm đó mang tính
cạnh tranh hay độc quyền, được người tiêu dùng ưa chuộng hay không sẽ quyết định
tới lượng hàng bán ra và giá cả đơn vị sản phẩm. Chính vì ảnh hưởng tới lượng
hàng hoá bán ra và giá cả của chúng mà sản phẩm ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận và
doanh thu. Từ đó làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn. Dovậy trước khi quyết
định sản phẩm hay ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ
nhu cầu của thị trường và chu kỳ sống của sản phẩm. Có như vậy doanh nghiệp mới
mong thu được lợi nhuận.
- Trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên: Yếu tố con người là yếu tố
quyết định nhất trong việc đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp.
Công nhân sản xuất có tay nghề cao, có kinh nghiệm, có khả năng tiếp
thu công nghệ mới, phát huy được tính sáng tạo trong công việc, có ý thức giữ gìn
và bảo quản tái sản xuất trong quá trình lao động, tiết kiệm trong sản xuất, từ đó
tăng hiệu quả sử dụng vốn.
Trình độ cán bộ quản lý cũng có ảnh hương không nhỏ tới hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp. Có quản lý về mặt nhân sự tốt mới đảm bảo có được
một đội ngũ lao động có năng lực thực hiện nhiệm vụ, sắp xếp lao động hợp lý thì
mới không bị lãng phí lao động. Điều đó giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn. Trình độ quản lý về mặt tài chính là hết sức quan trọng. Trong quá trình
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét