Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

LUẬN VĂN Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh Ngân hàng Công thương khu vực



cầu chi tiêu của con người là vô hạn và thường xuyên, vì vậy số lượng các món vay tiêu dùng
lớn, nhờ đó ngân hàng thu được lợi nhuận đáng kể từ hoạt động tín dụng này.
1.2.3.2.Chi phí quản lý món vay
Đối với mỗi món vay, ngân hàng đều phải bỏ chi phí để thẩm định; giải ngân; kiểm tra
giám sát khoản vay, thu nợ…Vì quy mô món vay tiêu dùng nhỏ nên chi phí quản lý trên một
đồng cho vay lớn hơn so với món vay kinh doanh.
1.2.3.3.Tính chu kỳ
Nhu cầu chi tiêu của người dân phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng
trưởng, sản xuất mở rộng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập của người dân tăng, đời sống của
họ được cải thiện, nhu cầu mua sắm hàng hoá dịch vụ nhờ đó tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi
cho ngân hàng phát triển hoạt động CVTD. Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất trì
trệ, thu nhập và mức sống dân cư giảm sút, nhu cầu tiêu dùng cũng giảm theo, dẫn đến tín
dụng tiêu dùng bị thu hẹp. Như vậy, CVTD phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ của nền kinh tế.
1.2.3.4. Độ rủi ro
Khi cho vay phục vụ mục đích tiêu dùng, ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro dẫn
đến nguy cơ mất vốn lớn.
*Rủi ro do thông tin không cân xứng: Các cá nhân dễ dàng giữ kín các thông tin cần
thiết cho việc thẩm định như triển vọng công việc hay tình hình sức khoẻ. Trong khi đó các
hãng kinh doanh phải gửi kèm theo đơn xin vay các giấy tờ chứng nhận về tài chính đã được
kiểm toán. Do đó chất lượng thông tin của các món vay tiêu dùng thường không cao và
thường gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đánh giá xét duyệt cho vay hơn là các món
vay thương mại và công nghiệp.
*Rủi ro đạo đức: xảy ra khi khách hàng đã sử dụng vốn vay từ ngân hàng để chi tiêu
nhưng không trả tiền cho ngân hàng.
*Rủi ro do khách hàng mất khả năng thanh toán: xảy ra trong trường hợp khách hàng
có những biến động lớn về thu nhập hoặc gặp vấn đề về sức khoẻ, ảnh hưởng xấu đến khả
năng trả nợ. Khi đó việc thu hồi nợ của ngân hàng sẽ rất khó khăn.


Ngoài ra do lãi suất CVTD là cố định nên khi chi phí huy động vốn tăng, ngân hàng sẽ
gặp rủi ro vì nguồn lợi nhuận từ dịch vụ này bị giảm sút.
1.2.3.5. Độ nhạy cảm với lãi suất
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng ít co giãn với lãi suất. Thông thường, người đi
vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu.
1.2.3.6.Lãi suất cho vay
Khoản mục CVTD thường có chi phí lớn nhất và rủi ro cao nhất trong danh mục cho
vay của ngân hàng. Lãi suất CVTD phải bao hàm cả một phần bù rủi ro đồng thời phải đủ để
bù đắp chi phí quản lý của ngân hàng. Vì vậy, lãi suất đối với các khoản vay tiêu dùng thường
cao và cứng nhắc.
Ngân hàng có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định mức lãi suất thực
tế đối với cho vay phục vụ tiêu dùng. Song phần lớn lãi suất được xác định dựa trên lãi suất
cơ bản cộng phần lợi nhuận cận biên và phần bù đắp rủi ro.
Lãi suất
cho vay
tiêu
dùng
=
Chi phí
huy
động
vốn
+
Chi phí
hoạt
động
khác
+
Rủi ro
tổn thất
dự kiến
+
Phần bù kỳ
hạn với các
khoản
cho vay dài
hạn
+
Lợi
nhuận
cận biên

1.2.4. Đối tượng cho vay tiêu dùng
Đối tượng được ngân hàng cung ứng dịch vụ CVTD là các cá nhân, hộ gia đình có nhu
cầu chi tiêu nhưng chưa có đủ tích luỹ để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng đó.

1.2.5.Phân loại cho vay tiêu dùng
1.2.5.1.Căn cứ theo mục đích vay
*CVTD cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hay
cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.


(1)
(4)
(5)
(6)
(3)
(2)
*CVTD phi cư trú: là các khoản cho vay tài trợ cho mua sắm phương tiện đi lại, đồ
dùng gia đình, chi phí học hành, y tế, giải trí và du lịch
1.2.5.2.Căn cứ theo phương thức tài trợ
*CVTD gián tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh
do những công ty bán lẻ bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng. Hình thức này
ngân hàng cho vay thông qua các công ty bán lẻ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.


Sơ đồ 1: CVTD gián tiếp






(1): Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân
hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối
đa và loại tài sản bán chịu…
(2): Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hóa. Thông
thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản.
(3): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4): Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng.
(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
(6): Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.
CVTD gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức sau:
- Tài trợ truy đòi toàn bộ: theo phương thức này khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà
người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các
khoản nợ nếu khi đến hạn, người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.
NGÂN HÀNG
NGƯỜI TIÊU DÙNG
CÔNG TY BÁN LẺ


- Tài trợ truy đòi hạn chế: theo phương thức này, trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với
các khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực
nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thỏa thuận giữa ngân hàng với công ty bán
lẻ. Các thỏa thuận thường gặp trong trường hợp truy đòi hạn chế là:
+ Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ trong trường hợp
người mua chịu không đủ tiền để trả trước một số tiền nhất định khi mua chịu hoặc không đủ
các tiêu chuẩn tín dụng do ngân hàng đề ra.
+ Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán chịu cho đến khi
ngân hàng thu hồi được một số lượng các khoản nợ nhất định đúng hạn.
+ Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn theo một tỷ lệ
nhất định so với tổng dư nợ trong một thời hạn nhất định.
+ Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn trong phạm vi
số tiền dự phòng ký gửi tại ngân hàng. Thường số tiền dự phòng được trích từ chênh lệch giữa
chi phí tài trợ mà công ty bán lẻ tính cho người mua chịu và chi phí tài trợ mà ngân hàng tính
cho công ty bán lẻ. Số tiền dự phòng ký gửi tại ngân hàng có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân
hàng khi người mua chịu không trả nợ hoặc trả nợ trước hạn. Đây là trường hợp được các
ngân hàng áp dụng phổ biến nhất.
- Tài trợ miễn truy đòi: theo phương thức này sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng,
công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc chúng có được hoàn trả hay không.
Phương thức này chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng nên cho phí tài trợ thường được ngân
hàng tính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua cũng được kén
chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ có những công ty bán lẻ rất được ngân hàng tin cậy mới được áp
dụng phương thức này.
Ưu điểm của phương thức CVTD gián tiếp là cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh
số CVTD; giảm chi phí trong cho vay; mở rộng hoạt động ngân hàng và quan hệ với khách
hàng, trong trường hợp các công ty bán lẻ hoạt động tốt, CVTD gián tiếp an toàn hơn CVTD
trực tiếp.


(4)
(3)
(2)
(5) (1)
Tuy nhiên nhược điểm của phương thức gián tiếp là ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc
với người tiêu dùng đã được bán chịu do đó không đánh giá được khả năng trả nợ của họ;
hoạt động bán chịu của nhà cung cấp thiếu sự kiểm soát của ngân hàng; ngoài ra kỹ thuật
nghiệp vụ CVTD gián tiếp cũng khá phức tạp.
*CVTD trực tiếp: là hình thức cho vay trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách
hàng để tiến hành cho vay và thu nợ.

Sơ đồ 2: CVTD trực tiếp







(1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay.
(2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ.
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
Phương thức trực tiếp có một số ưu điểm so với phương thức gián tiếp. Sử dụng
phương thức này, ngân hàng có thể tận dụng các sở trường của nhân viên tín dụng - những
người được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng. Do đó, các
quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp
chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ. Hình thức này cũng linh hoạt hơn và cho
phép ngân hàng thắt chặt mối quan hệ tín dụng với các khách hàng có quan hệ trực tiếp với
ngân hàng.
1.2.5.3.Căn cứ theo hình thức bảo đảm tiền vay
NGƯỜI TIÊU DÙNG
CÔNG TY BÁN LẺ
NGÂN HÀNG


*Cho vay có tài sản đảm bảo: là hình thức mà khoản vay của khách hàng được bảo
đảm bằng tài sản cầm cố thế chấp. Giá trị tài sản đảm bảo là cơ sở để ngân hàng xác định số
tiền cho vay. Trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán ngân hàng sẽ phát
mại tài sản để thu hồi nợ.
*Cho vay không có tài sản đảm bảo: là hình thức ngân hàng cho vay dựa trên uy tín và
khả năng tài chính của khách hàng mà không yêu cầu khách hàng phải thế chấp hay cầm cố
tài sản.
1.2.5.4.Căn cứ theo thời hạn vay
*Cho vay ngắn hạn: đối với các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống.
*Cho vay trung hạn: đối với các khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
*Cho vay dài hạn: đối với các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng.
1.2.5.5.Căn cứ theo phương thức hoàn trả
*CVTD trả góp: là hình thức CVTD trong đó người đi vay trả nợ (gồm cả gốc và lãi)
cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Hình thức này
thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc trong trường hợp thu nhập của
người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết số nợ vay trong một lần.
Đối với loại CVTD này, các ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề cơ bản, có tính
nguyên tắc sau:
- Loại tài sản được tài trợ
Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng
nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, ngân hàng
thường chú ý đến điều này, nên thường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản
có thời hạn sử dụng lâu bền hay có giá trị lớn bởi với những loại tài sản này, người tiêu dùng
sẽ được hưởng những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài.
- Số tiền phải trả trước
Ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản
cần mua sắm. Số tiền trả trước cần phải đủ lớn để làm cho người đi vay nghĩ rằng họ là chủ sở
hữu tài sản, đồng thời hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Số tiền trả trước phụ thuộc vào loại tài


sản, thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng, môi trường kinh tế và năng lực tài chính
của người đi vay.
- Chi phí tài trợ
Đây là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc sử dụng vốn, bao gồm
lãi vay và các chi phí có liên quan. Chi phí tài trợ phải trang trải được chi phí vốn tài trợ, chi
phí hoạt động, rủi ro, đồng thời mang lại một phần lợi nhuận thỏa đáng cho ngân hàng.
- Điều khoản thanh toán
Khi xác định điều khoản thanh toán liên quan đến việc thanh toán nợ của khách hàng,
ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề như số tiền thanh toán, giá trị tài sản tài trợ, kỳ hạn
trả nợ, thời hạn trả nợ.
- Vấn đề phân bổ lãi cho vay theo thời gian
Khi sử dụng phương pháp gộp để tính lãi, ngân hàng thường tiến hành phân bổ lại phần
lãi cho vay đã được tính. Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định kỳ gắn liền với các kỳ
thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện theo quý hay năm tài chính. Tuy nhiên việc phân
bổ lãi theo năm tài chính thường được các ngân hàng áp dụng nhiều hơn. Các phương pháp
phổ biến dùng để phân bổ lãi cho vay bao gồm phương pháp đường thẳng. phương pháp tỷ
suất lợi tức hiệu dụng và phương pháp lãi.
- Vấn đề trả nợ trước hạn
Người đi vay có thể thanh toán tiền vay trước hạn. Trường hợp này ngân hàng phải
tính toán lại thời hạn trả nợ và số tiền lãi phải trả.
*CVTD phi trả góp: theo phương thức này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho
ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản CVTD phi trả góp chỉ được cấp cho
các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài, nhằm đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời
của khách hàng.
*CVTD tuần hoàn: là các CVTD trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ
tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương
thức này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu


nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ
nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
1.2.6.Vai trò của cho vay tiêu dùng
Hoạt động CVTD không chỉ mang lại lợi ích cho ngân hàng mà còn mang lại lợi ích
cho người sản xuất cũng như toàn nền kinh tế - xã hội.
*Đối với ngân hàng:
CVTD là loại hình tín dụng mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng bởi các
món vay tiêu dùng thường được định giá cao hơn so với các món vay kinh doanh. Đây cũng là
một cách để ngân hàng đa dạng hoá đầu tư, nhờ đó phân tán được rủi ro. Cung ứng dịch vụ
này cũng giúp ngân hàng mở rộng, thắt chặt mối quan hệ với khách hàng, khai thác tiềm năng
cũng như lòng trung thành từ khách hàng, từ đó có thể thu hút được nguồn vốn từ các khách
hàng đi vay này khi họ có tiền nhàn rỗi. CVTD cũng góp phần làm phong phú thêm danh mục
dịch vụ của ngân hàng, tăng khả năng cạnh tranh, quảng bá hình ảnh, nâng cao uy tín của
ngân hàng trên thị trường.
*Đối với khách hàng
CVTD có ý nghĩa rất lớn đối với các khách hàng. Nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân
và hộ gia đình là rất lớn và thường xuyên nhưng không phải lúc nào họ cũng có đủ nguồn lực
tài chính để đáp ứng các nhu cầu đó. Nhờ CVTD, họ được hưởng các tiện ích, được sử dụng
các hàng hoá và dịch vụ mình mong muốn trước khi tích luỹ đủ tiền. Khi đáp ứng đủ các điều
kiện để được cấp tín dụng tiêu dùng, người đi vay có thể mua sắm các hàng hoá, nhất là các
bất động sản ngay ở thời điểm hiện tại khi giá cả của chúng đang giảm, hoặc có thể đi du lịch
đúng thời gian. Đặc biệt, trong các trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế, giáo
dục ,vai trò CVTD lại càng to lớn và rõ nét.
*Đối với nhà sản xuất
CVTD bổ sung số tiền còn thiếu giúp người tiêu dùng có đủ khả năng tài chính để
hưởng thụ giá trị hàng hoá, dịch vụ, từ đó đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Giải quyết được bế tắc
giữa các khâu sản xuất và lưu thông hàng hoá, nhà sản xuất bán được nhiều sản phẩm hơn,


quay vòng vốn nhanh hơn, trên cơ sở đó có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất. Như vậy
CVTD góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường thu nhập cho các cơ sở sản xuất.
*Đối với nền kinh tế xã hội
CVTD là đòn bẩy kích cầu hàng hoá dịch vụ, mở rộng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Nhờ đó, các cơ hội việc làm được tạo ra nhiều hơn, tỷ lệ thất nghiệp cũng như các tệ
nạn xã hội giảm, đồng thời thu nhập của người dân tăng lên. Dịch vụ này của ngân hàng thoả
mãn tốt nhất các nhu cầu của người tiêu dùng, do đó góp phần nâng cao chất lượng đời sống
vật chất cũng như tinh thần của họ. Rõ ràng, TDTD không chỉ có vai trò quan trọng đối với
các chủ thể như người tiêu dùng, ngân hàng thương mại, nhà sản xuất mà còn có ý nghĩa vĩ
mô đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của
mỗi quốc gia.
1.2.7.Hệ thống đánh giá tín dụng tiêu dùng
Hoạt động CVTD của ngân hàng liên quan đến một số lượng lớn khách hàng, mỗi khách
hàng thông thường chỉ vay một số tiền nhỏ so với tổng doanh số cho vay. Để cân bằng giữa tổn
thất và cơ hội cho vay trong TDTD, ngân hàng phải có một cơ chế kiểm soát an toàn và hiệu quả
đối với việc ra quyết định cho vay. Các ngân hàng thường thiết lập một hệ thống đánh giá tín
dụng bao gồm phân tích tín dụng mang tính phán đoán và phân tích tín dụng mang tính thống kê.
 Phân tích tín dụng mang tính phán đoán
Hệ thống phân tích này phụ thuộc vào kinh nghiệm và hiểu biết của cán bộ CVTD khi
đánh giá khả năng và thiện chí trả nợ của khách hàng. Dựa trên hồ sơ tín dụng và qua tiếp xúc
trực tiếp với khách hàng, nhân viên tín dụng sẽ đánh giá lịch sử tín dụng và mức độ đáng tin
cậy thông qua tuối tác, độ dài và tính ổn định của công việc, thời gian cư trú và loại hình nơi
cư trú, sự trung thực ở ngoại hình, và một số yếu tố khác. Thu nhập- nguồn trả nợ thứ nhất đối
với khoản vay tiêu dùng và tài sản đảm bảo- nguồn trả nợ thứ hai là hai yếu tố được xem xét
kỹ lưỡng nhất. Hình thức đánh giá tín dụng này mang nhiều tính chủ quan, nó đòi hỏi cán bộ
tín dụng phải có kinh nghiệm phân tích, trình độ thẩm định và luôn khách quan trong công
việc.
 Phân tích tín dụng mang tính thống kê


Phân tích TDTD mang tính thống kê hay còn gọi là phương pháp chấm điểm tín dụng
đánh giá khách hàng trên một loạt các tiêu chí thông qua điểm số tương ứng với mỗi tiêu chí.
Phương pháp này dựa trên cơ sở kết quả thống kê trong quá khứ để đưa ra các tiêu thức, tầm
quan trọng của các tiêu thức và mức điểm có thể chấp nhận được. Nhờ có hệ thống tín dụng,
việc phân tích nhiều yếu tố được đơn giản hóa thành một yếu tố là điểm tín dụng của khách
hàng.

Các ngân hàng có thể đưa ra thang điểm tín dụng như sau:
Bảng 1: Thang điểm tín dụng
Chỉ tiêu
Tiền án tiền
sự
Không

Chỉ vi phạm
luật giao
thông

Có, ngoài vi phạm
luật giao thông, từ
20 năm trở về trước

Có, ngoài vi phạm
luật giao thông,
trong vòng 20 năm
20 15 0 -15
Tuổi
< 18
-15
18-25
0
25-55
20
> 55
10
Trình độ học
vấn
Trên đại học
20
Đại học

15
Trung học

5
Dưới trung học

-5
Nghề nghiệp
Chuyên
môn
25
Thư ký

15
Kinh doanh

10
Nghỉ hưu

0
Thời gian
công tác
<6 tháng
5
6 tháng-1năm
10

1- 5 năm
15
> 5 năm
20

Thời gian <6 tháng 6 tháng- 1-5 năm > 5 năm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét