Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động Việt Nam những năm gần đây

Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
một số ngành nghề. Không chỉ có vậy mà chất lượng lao động cũng là một vấn đề
đáng quan tâm.
Do sự cấp thiết của việc giải quyết lao động cho lực lượng thanh niên đã và
đang bước vào thị trường lao động, chúng tôi nhóm sinh viên lớp Kinh tế lao động
45B_Khoa Kinh tế lao động và dân số gồm
1. Phạm Thuỳ Châm
2. Trần Thị Thanh Hoa
3. Trần Thị Kim Huệ
4. Nguyễn Thị Phương Hồng
5. Trần Thuỳ Linh A
6. Hoµng ThÞ Liªn
đã quyết định chọn đề tài “Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động Việt
Nam những năm gần đây” làm đề tài nghiên cứu khoa học dưới sự hướng dẫn của
TS Nguyễn Vĩnh Giang. Trong phạm vi một bài nghiên cứu khoa học, với trình độ
của những sinh viên năm thứ ba chắc chắn còn nhiều thiếu sót song nó là kết quả
của quá trình tìm hiểu và nghiên cứu nghiêm túc của chúng tôi trong quá trình học
tập. Do vậy trong phạm vi của đề án nghiên cứu khoa học này chúng tôi chỉ xin
trình bày một số vấn đề sau
I. Cơ sở lý luận của đề tài
II. Thực trạng thị trường lao động Việt Nam
III. Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường lao động Việt Nam trong
thời gian tới
Sau đây là nội dung chi tiết:
5
Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
Phần hai
NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.Thị trường lao động là gì ?
Thị trường lao động là một bộ phận cấu thành của thị trường các yếu tố sản
xuất. Đã có rất nhiều định nghĩa về thị trường lao động tuỳ thuộc vào mục đích và
góc độ nghiên cứu. Dưới góc độ chú trọng về quan hệ cung cầu, giá cả và điều kiện
lao động, từ điển kinh tế học Pengiun và từ điển kinh tế MIT đã định nghĩa: thị
trường lao động là thị trường trong đó tiền công, tiền lương và các đièu kiện được
xác định trên cơ sở quan hệ cung cầu lao động.
Dựa trên quan điểm của Các Mác về hàng hoá sức lao động, Đại từ điển kinh
tế thị trường cho rằng: Thị trường lao động là nơi mua bán sức lao động của người
lao động.
Theo Adam Smith, thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao
động giữa một bên là người mua dịch vụ lao động với một bên là người bán dịch vụ
lao động. Như vậy theo định nghĩa này thì đối tượng để trao đổi trên thị trường
chính là dịch vụ lao động. Cùng quan điểm của Adam Smith, tổ chức lao động
6
Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
quốc tế ILO cho rằng: Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao
động được mua bán thông qua quá trình xác mức độ việc làm và tiền công lao
động.
Theo quan điểm của Đảng đề ra trong đại hội Đảng IX thì: Thị trường lao
động là nơi mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sức
lao động trong một phạm vi nhất định.
Mặc dù còn nhiều điểm khác biệt nhưng các định nghĩa về thị trường lao
động hiện hành vẫn thống nhất với nhau ở những nội dung cơ bản. Do đó ta có thể
nêu lên một định nghĩa khái quát về thị trường lao động như sau: Thị trường lao
động là tập hợp các hoạt động nhằm thực hiện quan hệ trao đổi mua bán dịch vụ lao
động giữa người cần sử dụng lao động với người lao động, trên cơ sở đó giá cả,
điều kiện và các quan hệ hợp đồng được xác định.
Thị trường lao động chỉ có thể hoạt động có hiệu quả chỉ khi các quyền tự do
mua bán sức lao động được đảm bảo bằng luật pháp và hệ thống các chính sách đi
kèm liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ các bên tham gia thị trường. Thị trường
lao động chỉ có thể hình thành khi hội tụ đủ các yếu tố như:
- Có nền kinh tế hàng hoá phát triển theo cơ chế thị trường
- Có định chế pháp luật cho phép tồn tại thị trường lao động : trong đó người
chủ sử dụng lao động có quyền tự do mua sức lao động; còn người lao động có
quyền tự do bán sức lao động của mình
- Người lao động không sở hữu tư liệu sản xuất đủ đảm bảo các nhu cầu tối
thiểu của bản thân và của gia đình.
Chúng ta đã nghe, thậm chí nói rất nhiều về Phát triển thị trường lao động.
Vậy: Thế nào là phát triển thị trường lao động?
Phát triển là việc tăng về quy mô và số lượng, nhưng đối với thị trường lao
động thì phát triên không đơn thuần mang ý nghĩa là làm tăng cung hay cầu lao
7
Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
động mà nó còn bao hàm việc nâng cao chất lượng nguồn lao động, làm tăng hiệu
quả hoạt động của thị trường.
Phát triển thị trường lao động có thể được hiểu là việc hoàn thiện các yếu tố
cấu thành và hệ thống điều hành nhằm đẩy mạnh hoạt động của thị trường lao động
theo hướng có hiệu quả hơn, lành mạnh hơn. Hiện nay phát triển thị trường lao
động đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân quan tâm đến
bởi nó là vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các tầng lớp nhân dân lao
động.
Sau đây chúng tôi xin trình bày về các đặc điểm cơ bản của thị trường lao
động.
2. Các đặc điểm của thị trường lao động
2.1. Hàng hoá trao đổi trên thị trường lao động là sức lao động:
Trên thị trường lao động, hàng hoá được đem ra trao đổi là sức lao động, là
toàn bộ hoặc một phần nguồn lực thể chất hoặc tinh thần được huy động để sản
xuất ra một sản phẩm có giá trị sử dụng nhất định. Đây là loại hàng hoá đặc biệt,
tính đặc biệt của nó thể hiện qua những điểm sau
Thứ nhất: Sức lao động không thể tách rời khỏi chủ thể của nó. Sức lao động
chính là khả năng về thể lực và trí lực của con người, nó là yếu tố tiềm ẩn trong con
người và chỉ được bộc lộ bằng kết quả của lao động tạo ra những sản phẩm có ích.
Trên thị trường lao động, cái được đem ra trao đổi ở đây không phải là người lao
động mà là giá trị sử dụng sức lao động của họ. Do đó hàng hoá sức lao động được
nói đến ở đây rất khác biệt với hàng hoá thông thường vì khi mua hàng hoá thông
thường thì người mua có cả quyền sở hữu và quyền sử dụng nhưng đối với hàng
hoá sức lao động thì khi mua người mua (người sử dụng lao động) chỉ có quyền sử
dụng sức lao động trong phạm vi và điều kiện đã thoả thuận.
8
Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
Thứ hai: Sức lao động luôn đòi hỏi người chủ của nó phải cung cấp những
điều kiện cơ bản để tồn tại và phát triển . Đây là một điều hiển nhiên vì con người
phải tìm mọi cách để duy trì sự sống của mình đồng thời cũng là duy trì sức lao
động. Tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh mà con người sẽ quyết định sử dụng sức lao
động của mình như thế nào, quyết định đầu tư để nâng cao phát triển giá trị sức lao
động của mình ra sao
Thứ ba: Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động không giống với
hàng hoá thông thường . Đối với hàng hoá thông thường, giá trị của nó được xác
định bằng thời gian lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá nhưng đối với
hàng hoá sức lao động thì khó có thể xác định được thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản sinh và duy trì nó. Nó chỉ có thể được tính toán gián tiếp thông qua các
chỉ tiêu chi phí tư liệu sinh hoạt và chi tiêu cần thiết để tái sản xuất mở rộng sức lao
động của người lao động. Đối với hàng hoá thông thường, giá trị của nó được biểu
hiện trong khi tiêu dùng nhưng đối với hàng hóa sức lao động, khi tiêu dùng loại
hàng hóa đó thì nó lại trở thành một yếu tố của quá trình sản xuất.Hơn nữa giá trị
của hàng hoá thông thường giảm đi theo thời gian nhưng hàng hoá sức lao động lại
thay đổi tuỳ thuộc không chỉ vào thời gian mà còn phụ thuộc vào hoàn cảnh và điều
kiện làm việc.
Ngoài tính đặc biệt ra thì hàng hoá sức lao động còn thể hiện tính khác biệt
của nó. Đó là do mỗi người lao động có một trình độ và tay nghề khác nhau, thêm
và đó là điều kiện xã hội(gia đình, giáo dục, phẩm chất làm việc ) và thể chất(tình
trạng sức khoẻ, giới tính, ) của mỗi người lại một khác, nó khác với sự chuẩn hoá
của hàng hoá thông thường. Do vậy mỗi người lao động lại có một khả năng làm
việc khác nhau, nó là điểm rõ nhất thể hiện tính khác biệt của hàng hoá sức lao
động.
9
Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
2.2.Thị trường lao động là một thị trường rất đa dạng và linh hoạt, hoạt động
trên cơ sở của pháp luật.
Như đã nói ở lời mở đầu, thị trường lao động là thị trường được luật pháp
công nhận và hoạt động theo pháp luật. Nếu không có sự điều tiết của luật pháp thì
chắc chắn thị trường này sẽ hoạt động rất lộn xộn và không có hiệu quả. Với các
thể chế pháp luật, các quy định về tiền lương, giờ làm việc, chế độ trợ cấp, chế độ
bảo hiểm, các quy định về thôi việc, ,hành vi của người lao động và người sử
dụng lao động sẽ phải tuân theo luật pháp chứ không thể làm theo ý mình nhằm
mưu lợi cá nhân từ người khác, từ đó sự vận động của thị trường mới có hiệu quả
và đảm bảo được công bằng xã hội. Trên thực tế tồn tại rất nhiều kiểu thị trường
lao động do tác động của nhiều yếu tố, có thị trường tự do nhưng cũng có thị
trường có tổ chức; có thị trường hợp pháp nhưng cũng có thị trường tồn tại bất hợp
pháp; thị trường lao động phổ thông, thị trường lao động trình độ cao,
Như đã nêu trên, thị trường lao động rất linh hoạt, sự linh hoạt được thể hiện
ở khả năng thay đổi cung_cầu lao động nhờ sự di chuyển lao động từ nơi này đến
nơi khác, từ địa phương này đến địa phương khác, từ vùng này đến vùng khác, từ
quốc gia này sang quốc gia khác Tuy nhiên sự đa dạng và linh hoạt của thị trường
lao động vẫn phải chịu sự tác động của nhiều yếu tố Nhà Nước, luật pháp, doanh
nghiệp, người lao động, người sử dụng lao động,

2.3. Giá cả sức lao động và vị thế đàm phán phụ thuộc vào điều kiện kinh tế
và nhiều yếu tố khác
10
Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
Đây là một điều hiển nhiên và khi cung lao động tăng cao hơn so với cầu lao
động thì giá cả sức lao động sẽ giảm xuống, người lao động sẽ yếu thế hơn so với
người sử dụng lao động. Ngược lại khi cung lao động thấp hơn cầu thì giá cả sức
lao động sẽ tăng và người lao động có thể sẽ có vị thế cao hơn trên thị trường. Tuy
nhiên trên thực tế, thông thường các quan hệ giao dịch hay đàm phán trên thị
trường lao động , cán cân thường nghiêng về phía người có nhu cầu sử dụng sức
lao động. Xuất phát điểm của thực tiễn này là do cho đến nay ssó người tìm việc
vẫn nhiều hơn so với số lượng các cơ hội việc làm sẵn có.Thêm vào đó, người lao
động đi tìm việc bao giờ cũng có nguồn lực hạn chế, trong khi đó thì người sử dụng
sức lao động lại là người nắm giữ những các nguồn lực nên họ có thể chủ động
chọn lựa và chờ đợi. Do vậy trên thực tế thì người lao động thường có vị thế yếu
hơn trong đàm phán và thường phải chấp nhận điều kiện và mức lương do người sử
dụng lao động đưa ra.
3. Các yếu tố cấu thành thị trường lao động.
Các yếu tố cấu thành thị trường lao động bao gồm: cung lao đông, cầu lao
động, giá cả sức lao động, cân bằng và cạnh tranh trên thị trường lao động. Trong
đó cung và cầu lao động là hai yếu tố quan trọng nhất có tác động trực tiếp đến giá
cả sức lao động, cân bằng và cạnh tranh trên thị trường lao động. Do vậy trong mục
này chúng tôi xin trình bày về hai yếu tố quan trọng nhất là cung_cầu lao động và
các yếu tố ảnh hưởng
3.1. Cung lao động và các yếu tố ảnh hưởng.
Trong cuộc đời của mình, mỗi cá nhân đều phải đứng trước quyết định sẽ
làm việc hay không làm việc, làm việc cho ai, bao nhiêu thời gian Đó chính là
biểu hiện của cung lao động cá nhân. Xét trên quy mô của toàn xã hội thì tổng hợp
11
Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
của các quyết định cá nhân đó chính làcung lao động xã hội. Như vậy ta có thể định
nghĩa cung lao động xã hội như sau
Cung lao động xã hội là khả năng cung cấp sức lao động của nguồn nhân lực
xã hội. Nó được thể hiện ở số lượng và thời gian của tất cả những người mong
muốn và tham gia lực lượng lao động trên thị trường lao động.
Cung lao động chịu tác động của nhiều yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, chất
lượng cung lao động, và thời gian lao động. Sau đây chúng tôi xin trình bày một vài
yếu tố cơ bản
a. Những yếu tố cơ bản tác động đến số lượng cung lao động
Yếu tố đầu tiên xin đề cập đến là dân số. Đây là yếu tố quyết định có ảnh
hưởng rất lớn đến cung lao động. Xét trên phương diện từng quốc gia thì quy mô
lực lượng lao động phụ thuộc vào quy mô dân số của quốc gia đó. Quy mô dân số
càng lớn thì sẽ tạo ra một nguồn nhân lực lớn sẵn sàng cung cấp sức lao động cho
xã hội.
Tuy nhiên dân số cũng chịu tác động của nhiều yếu tố mà quan trọng nhất là
tốc độ tăng dân số. Tốc độ tăng dân số lại phụ thuộc vào tỷ lệ sinh, chết, di
dân, Do vậy có thể nói đây chính là nguyên nhân sâu xa có tác động đến số lượng
cung lao động. ngoài ra, việc nâng cao hay hạ thấp giới hạn độ tuổi lao động, quy
mô dân số trẻ hay già cũng có tác động trực tiếp đến cung lao động. Giảm giới hạn
độ tuổi lao động và dân số có quy mô trẻ sẽ có tác động làm tăng lực lượng lao
động hiện tại và trong tương lai. Ngược lại việc tăng giới hạn độ tuổi lao động và
dân số có quy mô già sẽ làm giảm lực lượng lao động trong hiện tại và trong tương
lai.
Yếu tố thứ hai là tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong dân số (Tlf). Những
người đủ tuổi lao động trở lên có khả năng lao động có thể thuộc một trong ba
nhóm sau: nhóm có việc làm, nhóm thất nghiệp, và nhóm ngoài lực lượng lao động.
12
Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
Nếu gọi E là số có việc làm, U là số thất nghiệp, LF là quy mô của lực lượng lao
động thì
LF = E + U
Gọi P là dân số đủ tuổi lao động trở lên hay chính là lực lượng lao động tiềm
năng thì ta có
Tlf = Lf/P
Như vậy tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chính là tỷ số giữa Lực lượng lao
động thực tế với Lực lượng lao động tiềm năng.
Các khảo sát thực tế cho thấy một xu hướng là tỷ lệ tham gia lực lượng lao
động của nam giới có xu hướng ngày càng giảm, trong khi đó thì tỷ lệ ấy ở nữ giới
lại ngày càng tăng. Nguyên nhân của hiện tượng trên là do nhận thức về bình đẳng
giới hiện nay ngày càng tiến bộ, phụ nữ có quyền đi làm như nam giới, thứ hai là
do khoa học ngày càng phát triển nên phụ nữ được giải phóng khỏi việc nhà vì
được hỗ trợ bởi máy rửa bát, máy hút bụi,
Làm tăng được tỷ lệ lao động trong dân số là việc rất quan trọng bởi vì nó
giúp làm tăng nguồn lực xã hội.Các yếu tố ảnh hưởng tăng tỷ lệ tham gia vào lực
lượng lao động bao gồm: tăng lương và thu nhập thực tế trên thị trường; sự thay đổi
trong hành vi và nhận thức của con người về bình đẳng giới; do các tiến bộ về khoa
học kĩ thuật trong lĩnh vực sản xuất đồ gia dụng khiến con người làm việc nhà nhẹ
nhàng hơn và tốn ít thời gian hơn; sự xuất hiện của những ngành nghề mới trong xã
hội
Tuy nhiên cũng có rất nhiều yếu tố làm giảm tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao
động. Đó là: Thu nhập thực tế tăng sẽ khiến người lao động muốn nghỉ làm việc
sớm vì đã kiếm đủ tiền cho tương lai; thu nhập không lao động (trúng xổ số, lãi cổ
phiếu, )tăng thì con người cũng không muốn làm việc nữa vì đã có đủ tiền để
sống; các hình thức trợ cấp của xã hội như trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thương
tật, giúp đảm bảo cuộc sống nên người lao động không muốn làm việc nữa, đặc
13
Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt Nam
biệt là khi nếu đi làm thì tiền lương nhận được thấp hơn hay không hơn mức trợ
cấp nhiều.
b. Những yếu tố ảnh hưởng đến cung thời gian làm việc
Trước bất kì quyết định làm việc nào thì việc người lao động quan tâm đến
đầu tiên chính là lợi ích mà họ nhận được. Các nhà kinh tế học thường tiếp phân
tích hành vi đánh đổi giữa làm việc và nghỉ ngơi bằng mô hình “lựa chọn làm
việc_nghỉ ngơi tân cổ điển”. Theo như mô hình này thì mọi cá nhân sẽ tìm cách tối
đa hoá lợi ích bằng cách tiêu dùng hàng hoá và nghỉ ngơi. Muốn mua được hàng
hoá thì ta phải làm việc để kiếm tiền, đó chính là sự đánh đổi thời gian nghỉ ngơi để
được hàng hóa mong muốn hay đó chính là sự đánh đổi giữa làm việc và nghỉ ngơi.
Theo các nhà kinh tế thì sử dụng mô hình này sẽ giúp ta có thể dự đoán được các
quyết định lựa chọn giữa làm việc và nghỉ ngơi của người lao động trước những
điều kiện hay chính sách của Nhà nước.
Gọi C là tiêu dùng hàng hoá, L là thời gian nghỉ ngơi, U là lợi ích thu được
từ sự đánh đổi giữa tiêu dùng và nghỉ ngơi thì U chính là hàm của L và C
U = f(C,L)
Hàm này được đo bằng chỉ số Util(U) là chỉ số đo lường mức độ thoả mãn của
cá nhân. Chỉ số U càng cao thì cá nhân càng hạnh phúc. Như vậy việc mua thêm
hàng hoá hay dành thêm giờ cho nghỉ ngơi đều với mục đích làm tăng lợi ích cá
nhân. Có rất nhiều sự kết hợp khác nhau giữa tiêu dùng và nghỉ ngơi đều cho ta
cùng một mức lợi ích cụ thể. Tập hợp những điểm kết hợp này gọi là đường bàng
quan
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét