Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm giấy của Công ty Cổ phần sản xuất và thương mại P.P

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những khó khăn và hạn chế. Vì vậy trong quá
trình thực tập ở công ty tôi đã quyết định chọn đề tài “Thúc đẩy xuất khẩu sản
phẩm giấy của công ty cổ phần sản xuất và thương mại P.P” làm chuyên đề
thực tập tốt nghiệp. Mục đích của đề tài là đánh giá thực trạng của hoạt động
xuất khẩu giấy của công ty cổ phần P.P, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thúc
đẩy sản phẩm giấy của công ty.
Qua một thời gian ngắn thực tập tại công ty cổ phần sản xuất và thương mại
P.P, với sự giúp đỡ và hướng dẫn của GS.TS Hoàng Đức Thân và các cán bộ,
nhân viên công ty tôi đã hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này. Tôi xin
chân thành cảm ơn GS.TS Hoàng Đức Thân và công ty cổ phần sản xuất và
thương mại P.P đã tận tình hướng dẫn và cung cấp những tài liệu quý báu giúp
tôi hoàn thành chuyên đề này.
Chương I: Những vấn đề cơ bản về xuất khẩu giấy ở Việt
Nam
1.1. Tầm quan trọng của xuất khẩu giấy ở Việt Nam:
1.1.1. Khái niệm và các phương thức xuất khẩu hàng hóa:
1.1.1.1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa:
Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động kinh doanh thu doanh lợi bằng cách bán
hàng hóa ra thị trường nước ngoài và hàng hóa ấy phải di chuyển ra khỏi biên
giới của một quốc gia. Hàng hóa xuất khẩu rất đa dạng: hàng công nghiệp, hàng
nông nghiệp, hàng tiêu dùng, kiến thức khoa học kỹ thuật (phát minh sáng chế,
bí mật sản xuất ), các dịch vụ (tư vấn kỹ thuật, sửa chữa, dịch vụ vận tải, giao
nhận, bảo hiểm, ngân hàng, dịch vụ du lịch, thông tin quảng cáo
• Các đặc điểm cơ bản của hoạt động xuất khẩu:
+ Các bên chủ thể có quốc tịch khác nhau: khách hàng nước ngoài có sự
khác biệt với khách hàng trong nước về ngôn ngữ, lối sống, thói quen tiêu dùng,
điều kiện sống, phong tục tập quán Vì vậy, hàng hóa xuất khẩu có sự khác biệt
so với hàng tiêu dùng ở trong nước. Những hàng hóa xuất khẩu phải đáp ứng
được nhu cầu của người tiêu dùng ở nước nhập khẩu, chất lượng của hàng hóa
phải đáp ứng được các thông số về tiêu dùng, kỹ thuật và môi trường và đạt được
tính cạnh tranh cao ở nước nhập khẩu.
+ Hàng hoá - đối tượng của xuất khẩu thường được lưu chuyển qua biên
giới quốc gia: quãng đường hàng hoá được vận chuyển đến tay người tiêu dùng
thường rất xa và phải sử dụng đường biển hoặc đường không, phải nộp thuế xuất
nhập khẩu và các thủ tục khác Nên giá thành hàng hoá xuất khẩu ở thị trường
nước ngoài thường cao hơn giá thành ở trong nước.
+ Thị trường xuất khẩu là tập hợp người mua và người bán có quốc tịch
khác nhau tác động với nhau để xác định giá cả, số lượng hàng hóa mua bán,
chất lượng hàng hóa và các điều kiện mua bán khác theo hợp đồng. Thị trường
xuất khẩu hàng hóa bao hàm cả thị trường xuất khẩu hàng hóa trực tiếp (nước
tiêu thụ cuối cùng) và thị trường xuất khẩu hàng hóa gián tiếp (xuất khẩu qua
trung gian). Chẳng hạn một nước nào đó tạm nhập tái xuất hàng hóa của Việt
Nam hoặc nhập hàng hóa của Việt Nam rồi đem xuất khẩu sang thị trường khác
cũng được coi là thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Cần nhấn mạnh
rằng thị trường xuất khẩu hàng hóa không chỉ giới hạn ở những thị trường nước
ngoài, thị trường trong nước trong nhiều trường hợp là thị trường xuất khẩu hàng
hóa tại chỗ.
+ Đồng tiền thanh toán là ngoại tệ với một hoặc cả hai bên: Trong hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu, khi ký kết các hợp đồng thì các bên cần phải
thoả thuận rõ sẽ dùng đồng tiền của nước nào để thanh toán nhằm tránh các tranh
chấp có thể xảy ra khi tỷ giá hối đoái của các đồng tiền thay đổi. Trong kinh
doanh xuất nhập khẩu chủ yếu là thanh toán bằng ngoại tệ mạnh.
+ Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh mua bán ở phạm vi quốc tế, không
phải những hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả 1 hệ thống quan hệ mua bán trong
2 nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài.
+ Xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại có thể đem lại hiệu quả kinh tế
cao, nhiều mặt hàng ở thị trường trong nước có thể đang dư thừa, giá rẻ nhưng ở
thị trường nước ngoài lại khan hiếm và giá cao. Do đó, khi xuất khẩu các mặt
hàng đó doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận rất cao. Nhưng bên cạnh đó,
doanh nghiệp cũng có thể phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề do hoạt động
xuất khẩu mang lại như nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên
ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia xuất khẩu không thể dễ dàng khống
chế được.
+ Các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như: Thanh toán, ký kết
hợp đồng, thủ tục hải quan, vận chuyển đều rất phức tạp và chứa đựng nhiều
rủi ro.
1.1.1.2. Các phương thức xuất khẩu hàng hóa:
a. Xuất khẩu trực tiếp:
Xuất khẩu trực tiếp là một phương thức giao dịch thương mại, trong đó người
bán (người xuất khẩu) và người mua (người nhập khẩu) quan hệ trực tiếp với
nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng
hóa, giá cả và các điều kiện giao dịch khác.
Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp là:
- Cho phép người xuất khẩu nắm bắt được nhu cầu của thị trường về số
lượng, chất lượng, giá cả để người bán thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị
trường.
- Giúp cho người bán không bị chia sẻ lợi nhuận.
- Giúp xây dựng chiến lược tiếp thị quốc tế phù hợp.
Nhược điểm của xuất khẩu trực tiếp:
- Chi phí tiếp thị thị trường nước ngoài cao cho nên những doanh nghiệp có
quy mô nhỏ, vốn ít thì nên xuất nhập khẩu ủy thác có lợi hơn.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp đòi hỏi có những cán bộ nghiệp vụ
kinh doanh xuất nhập khẩu giỏi: Giỏi về giao dịch đàm phán, am hiểu và
có kinh nghiệm buôn bán quốc tế đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán quốc tế
thông thạo, có như vậy mới bảo đảm kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp
có hiệu quả. Đây vừa là yêu cầu để đảm bảo hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu trực tiếp, vừa thể hiện điểm yếu của đa số các doanh nghiệp
vừa và nhỏ của Việt Nam khi tiếp cận với thị trường thế giới.
Cách thức tiến hành xuất khẩu trực tiếp:
Để tiến hành, nhà kinh doanh cần phải thực hiện các công việc sau:
- Nghiên cứu thị trường và thương nhân.
- Đánh giá hiệu quả thương vụ kinh doanh thông qua việc xác định tỷ giá
xuất khẩu. Chỉ thực hiện kinh doanh khi tỷ giá xuất khẩu nhỏ hơn tỷ giá
hối đoái.
- Tổ chức giao địch đàm phán hoặc thông qua gởi các thư giao dịch thương
mại hỏi hàng, báo giá, hoàn giá, đặt hàng… hoặc hai bên mua bán trực
tiếp gặp mặt nhau đàm phán giao dịch.
- Ký kết hợp đồng kinh doanh xuất khẩu.
- Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu đã ký kết.
b. Xuất khẩu qua trung gian:
Xuất khẩu qua trung gian là hình thức xuất khẩu được thực hiện nhờ sự giúp
đỡ của trung gian thứ ba. Người thứ ba này được hưởng một khoản tiền nhất
định. Người trung gian phổ biến trong giao dịch quốc tế là các đại lý và người
môi giới:
- Đại lý: là thương nhân, họ tiến hành hoạt động xuất khẩu theo sự ủy thác
của người ủy thác, thù lao được hưởng là khoản tiền hoa hồng được tính trên
doanh số hoặc khối lượng công việc thực hiện được. Quan hệ giữa người ủy
thác với người đại lý thể hiện hợp đồng đại lý.
- Người môi giới: Là thương nhân trung gian giữa bên mua và bên bán, được
bên mua hoặc bên bán ủy thác tiến hành bán hoặc mua hàng hóa hay dịch vụ.
Khi tiến hành nghiệp vụ môi giới, người môi giới không đứng tên của chính
mình, mà đứng tên của người ủy thác, không chiếm hữu hàng hóa và không chịu
trách nhiệm cá nhân trước người ủy thác về việc khách hàng không thực hiện
hợp đồng. Quan hệ giữa người ủy thác với người môi giới dựa trên ủy thác từng
lần, chứ không dựa vào hợp đồng.
Ưu điểm của xuất khẩu qua trung gian:
- Người trung gian thường là những người am hiểu thị trường xâm nhập,
pháp luật và tập quán buôn bán của địa phương, họ có khả năng đẩy mạnh
buôn bán và tránh bớt rủi ro cho người ủy thác.
- Những người trung gian, nhất là các đại lý thường có cơ sở vật chất nhất
định, do đó khi sử dụng họ, người ủy thác đỡ phải đầu tư trực tiếp ra nước
tiêu thụ hàng.
- Nhờ dịch vụ của trung gian trong việc lựa chọn phân loại, đóng gói, người
ủy thác có thể giảm bớt chi phí vận tải.
Nhược điểm của xuất khẩu qua trung gian:
- Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu mất sự liên hệ trực tiếp với thị trường.
- Vốn hay bị bên nhận đại lý chiếm dụng.
- Công ty phải đáp ứng những yêu sách của đại lý và môi giới.
- Lợi nhuận bị chia sẻ.
- Do những lợi hại nêu trên, trung gian chỉ được sử dụng trong những
trường hợp thật cần thiết như:
- Khi thâm nhập vào thị trường mới.
- Khi mới đưa vào thị trường một mặt hàng mới.
- Khi tập quán đòi hỏi phải bán hàng qua trung gian.
- Khi mặt hàng đỏi hỏi sự chăm sóc đặc biệt. Ví dụ: Hàng tươi sống…
c. Xuất nhập khẩu đối lưu:
Buôn bán đối lưu (Counter – Trade) hay còn gọi là hình thức xuất khẩu liên
kết là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu,
người bán hàng đồng thời là người mua, lượng hàng trao đổi với nhau, có giá trị
tương đương. Ở đây mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu ngoại tệ, mà
thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương.
d. Kinh doanh tái xuất:
Tái xuất khẩu là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước khác,
những hàng hóa đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua rẻ hàng hóa ở nước
này bán đắt hàng hóa ở nước khác và thu số ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ban đầu.
Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước tham gia: nước xuất khẩu, nước tái xuất
khẩu và nước nhập khẩu.
1.1.2. Vai trò của xuất khẩu giấy của Việt Nam:
Vai trò của xuất khẩu nói chung trong nền kinh tế hội nhập ngày càng được
khẳng định đối với Việt Nam:
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu: Để phục vụ cho sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, cần phải có một nguồn vốn
lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại. Nguồn vốn ngoại
tệ chủ yếu từ các nguồn: xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, vay vốn, viện trợ,
thu từ hoạt động du lịch, các dịch vụ có thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động
Xuất khẩu là nguồn vốn chủ yếu để nhập khẩu.
- Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển. Xuất
khẩu không chỉ tác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho
việc gia tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác.
Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, giúp cho sản xuất
ổn định và kinh tế phát triển. Vì có nhiều thị trường nên có thể phân tán
rủi ro do cạnh tranh. Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp
đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Thông qua
cạnh tranh trong xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải
tiến sản xuất, tìm ra những cách thức kinh doanh sao cho có hiệu quả,
giảm chi phí và tăng năng suất.
- Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người
dân. Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ
đó có tác động làm tăng tiêu dùng nội địa, đó là nhân tố kích thích nền
kinh tế tăng trưởng. Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong
nền kinh tế, nhất là trong ngành sản xuất cho hàng hoá xuất khẩu, xuất
khẩu làm gia tăng đầu tư trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu và đây
là nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng.
Theo ông Alain Chevalier, cố vấn cao cấp thương mại quốc tế, hoạt động
xuất khẩu của Việt Nam khá năng động trong những năm qua. Từ một nước
nhập khẩu Việt Nam trở thành quốc gia đứng hàng đầu về xuất khẩu gạo, cà phê,
hạt tiêu, hạt điều Kim ngạch xuất khẩu đạt 9,2 tỷ USD năm 1997 tăng lên hơn
39,6 tỷ USD năm 2006 (tăng 22,1% so với năm 2005).
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1997 - 2006
Kim ngạch xuất khẩu (tỷ USD)
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
Kim ngạch xuất khẩu (tỷ
USD)
Các chuyên gia kinh tế lý giải mức tăng trưởng kinh tế trung bình 7-8%/năm
trong những năm qua ở Việt Nam có sự đóng góp quan trọng của xuất khẩu.
Xuất khẩu tăng mạnh còn trực tiếp tiếp sức cho sản xuất trong nước tăng trưởng,
mở rộng quy mô thị trường và tạo thêm nhiều việc làm mới. Hơn thế, thành tích
xuất khẩu còn là lực đẩy mạnh mẽ, có tính quyết định góp phần đẩy nhanh tốc độ
hội nhập của nền kinh tế nước ta. Trong 10 năm qua, Việt Nam đã tham gia các
thể chế kinh tế khu vực và quốc tế như AFTA, APEC, ký Hiệp định thương mại
với EU, Mỹ và mới đây là gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới, đó sẽ là tiền
đề quan trọng để tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong những năm tới.
Ngành công nghiệp giấy Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp
chủ yếu của đất nước, có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân mặc
dù quy mô của nó vẫn còn nhỏ bé so với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, xuất
khẩu các sản phẩm giấy của Việt Nam lại chưa thực sự hiệu quả, chưa đóng góp
được nhiều vào GDP do một số hạn chế về quy mô đầu tư, trình độ công nghệ,
không có vùng nguyên liệu ổn định và lâu dài v.v
Ngành giấy Việt Nam trong 20 năm qua đã đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm
15%-16%, sản lượng từ 80.000 tấn/năm đã tăng lên tới 824.000 tấn/năm. Nhưng
chủng loại giấy sản xuất trong nước vẫn rất nghèo nàn, chỉ có giấy in báo, giấy
in và viết, giấy bao gói (không tráng), giấy lụa. Năm 2006 sản xuất bột giấy ở
Việt Nam mới đáp ứng được 37% nhu cầu, còn lại vẫn phải nhập khẩu. Trước
đây chỉ nhập bột tẩy trắng, nay bột giấy không tẩy trắng ngày càng nhập nhiều,
vì các cơ sở phải ngừng sản xuất do không có khả năng xử lý nước thải và quy
mô nhỏ, công nghệ lạc hậu. Trình độ công nghệ của ngành giấy Việt Nam hiện
đang ở mức dưới trung bình của thế giới, nên chất lượng chỉ ở mức trung bình
thấp. Do lệ thuộc vào bột nhập khẩu nên sức cạnh tranh của ngành giấy yếu.
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu giấy của Việt Nam:
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, toàn bộ nền kinh tế nói chung và mỗi
doanh nghiệp nói riêng luôn luôn phải chịu sự tác động của rất nhiều các nhân tố
chủ quan và khách quan, các qui luật thị trường. Xuất khẩu giấy của Việt Nam
không phải là ngoại lệ, nó chịu tác động của các nhân tố thuộc ngành giấy Việt
Nam và cả các nhân tố ngoài ngành giấy.
1.2.1. Những nhân tố thuộc ngành giấy Việt Nam:
1.2.1.1. Đặc điểm của ngành công nghiệp giấy và mặt hàng giấy:
Ngoài những đặc điểm cơ bản thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp, ngành
công nghiệp giấy và các mặt hàng giấy có một số đặc điểm riêng nổi bật sau:
- Công nghiệp giấy là một ngành sản xuất công nghiệp mang tính tổng hợp.
Quá trình sản xuất giấy bao gồm một loạt các quá trình sản xuất hóa chất,
năng lượng từ công đoạn ban đầu – xử lý nguyên liệu, đến công đoạn cuối
cùng – gia công chế biến sản phẩm.
- Mỗi tấn sản phẩm giấy được sản xuất ra đòi hỏi phải thực hiện các quá
trình xử lý, chế biến khối lượng lớn nguyên liệu, tiêu tốn nhiều loại vật tư
hóa chất, năng lượng, điện, hơi nước trên một hệ thống dây chuyền công
nghệ liên hoàn và đồng bộ, hoạt động theo phương pháp sản xuất liên tục
hoặc gián đoạn.
- Các sản phẩm giấy là những mặt hàng không thể thiếu được trong cuộc
sống hàng ngày và nhu cầu của xã hội đối với các mặt hàng này rất lớn
như giấy in báo, giấy vở, giấy photocopy, giấy ram văn phòng Sản phẩm
ngành giấy vừa đáp ứng nhu cầu thị trường vừa phục vụ sự phát triển của
xã hội.
- Công nghệ giấy chỉ có thể phát triển trên cơ sở các định hướng chiến lược
phát triển dài hạn, đáp ứng được những nhu cầu lớn về vốn để đầu tư đổi
mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng khu nguyên liệu lâu
dài và ổn định đồng thời, phải có các chính sách vĩ mô mở đường
khuyến khích và thúc đẩy thích ứng trong từng giai đoạn phát triển.
1.2.1.2. Công nghệ sản xuất:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét