Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014
Hoàn thiện chính sách thuế tài sản trong chiến lược cải cách thuế Việt Nam giai đoạn 2005-2010
5
xây dựng các chính sách thuế về tài sản ở nước ta cũng không nằm ngoài
những mục tiêu này.
Từ những lý do trên, việc đánh giá và hoàn thiện các chính sách thuế tài
sản ở Việt Nam hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hệ thống thuế
trong quá trình hội nhập cũng như góp phần quản lý và sử dụng tài sản là
những vấn đề cơ bản mà Luận văn “Hoàn thiện chính sách thuế tài sản trong
chiến lược cải cách thuế ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010” muốn trình bày.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Tìm hiểu các vấn đề lý luận về tài sản và thuế tài sản. Tìm hiểu một số
chính sách thuế tài sản ở các nước trên thế giới để chọn lọc kinh nghiệm vận
dụng ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng, ưu và nhược điểm của các chính sách thuế về tài
sản đang áp dụng ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất phương hướng hoàn thiện chính sách thuế tài sản ở Việt Nam
giai đoạn 2005 - 2010.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Những trình bày của Luận văn nhằm cung cấp cho người đọc những tìm
hiểu, nghiên cứu về thực trạng vận dụng các chính sách thuế tài sản ở nước
ta hiện nay, và đònh hướng hoàn thiện chính sách thuế tài sản ở Việt Nam
phù hợp với công cuộc cải cách hệ thống thuế giai đoạn từ nay đến 2010.
Do những hạn chế về thời gian, quy mô và vấn đề nghiên cứu, luận văn
chỉ đề cập đến các nội dung thuộc về chính sách thuế, không trình bày rõ
phương pháp và công tác tổ chức thực hiện các chính sách thuế; cũng như
luận văn chỉ phân tích những tài liệu, số liệu được nhà nước công bố rộng rãi.
6
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp diễn
giải, phân tích, tổng hợp…, lấy phương pháp duy vật biện chứng làm phương
pháp luận nghiên cứu. Với phương pháp này, các chính sách thuế về tài sản được
đặt trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng, và được hoàn thiện để phù
hợp với xu thế phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và thế giới.
5. Điểm mới của đề tài:
- Hệ thống các chính sách thuế liên quan đến tài sản ở Việt Nam và các
quy đònh thực hiện các sắc thuế tài sản (bao gồm các Luật, Pháp lệnh, Nghò
đònh về thuế tài sản …)
- Đánh giá thực trạng, ưu và nhược điểm của các chính sách thuế về tài
sản đang áp dụng ở Việt Nam hiện nay. Luận văn đề cập đến những ảnh
hưởng của Luật đất đai năm 2003 đến một số chính sách thuế về tài sản ở
nước ta.
- Đề xuất phương hướng hoàn thiện chính sách thuế tài sản phù hợp với
chiến lược cải cách hệ thống thuế ở nước ta, và dự kiến lộ trình ban hành các
sắc thuế tài sản giai đoạn 2005 - 2010.
6. Bố cục của luận văn:
Nội dung của luận văn được trình bày thành 3 chương:
- Chương 1: Lý luận về tài sản và thuế tài sản.
- Chương 2: Đánh giá thực trạng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam.
- Chương 3: Phương hướng xây dựng chính sách thuế tài sản ở Việt Nam
giai đoạn 2005 – 2010.
7
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN VÀ THUẾ TÀI SẢN
1.1.
Tài sản:
1.1.1 Khái niệm về tài sản:
Bộ Luật dân sự năm 1995 của Việt Nam xác đònh: “Tài sản bao gồm vật
có thực, tiền, giấy tờ trò giá được bằng tiền và các quyền tài sản” và “Quyền tài
sản là quyền trò giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự,
kể cả quyền sở hữu trí tuệ…”
Đònh nghóa về tài sản trong“Từ điển thuật ngữ kinh tế” (NXB TPHCM
năm 1993) như sau: “Tài sản là vật chất cụ thể hoặc vô hình có một giá trò nhất
đònh đối với chủ sở hữu”.
Trong quyển “Kinh học đánh thuế”, hai nhà kinh tế học người Anh là
Simon Jame và Christopher Nobes viết về tài sản: “Tài sản, giống như là thu
nhập, là những của cải mà một người có được nhờ những nguồn lợi thu được từ
hoạt động kinh tế. Sự khác nhau giữa tài sản và thu nhập là: tài sản là khối
lượng của cải ở một thời điểm nào đó, còn thu nhập là số của cải thu được trong
một khoảng thời gian.
Như vậy, “tài sản” có thể được hiểu là khái niệm mang những đặc điểm
sau:
- Về phương diện pháp lý, tài sản là của cải được con người sử dụng.
“Của cải” là một khái niệm luôn biến đổi và tùy theo quan niệm về giá trò về
chất. Ở các thời đại trước, khái niệm “của cải” gồm ruộng đất, gia súc, nô lệ,
hoa lợi…; trong xã hội hiện đại, khái niệm này mở rộng cho đối tượng là bản
quyền tác giả, công nghệ thông tin, năng lượng nguyên tử…
8
- Về hình thức, tài sản là vật được con người sử dụng, được nhận biết như:
nhà cửa, xe cộ, vàng bạc, vật dụng tiêu dùng, quyền tác giả, sáng chế… Như vậy,
xét ở một giác độ nào đó, mọi tài sản đều hữu hình hoặc đều có thể được hữu
hình hóa, chẳng hạn một quyền tài sản vô hình là sở hữu thương hiệu khi được
mua bán và trở thành tiền mặt, hoặc mua bán quyền sở hữu công nghiệp… Nhìn
chung, của cải hay một vật chỉ có thể là tài sản nếu chúng có thể được sở hữu,
nghóa là có thể thuộc về riêng một chủ thể nào đó của quan hệ pháp luật dân sự.
Tài sản có thể được mua bán, chuyển nhượng, hao mòn và biến mất.
- Về tính vật thể, tài sản là tất cả những vật có thực, tiền, giấy tờ có giá trò
như tiền, và các quyền của một chủ thể ở thời điểm nhất đònh. Tài sản có được
là do sự tích lũy thu nhập của chủ thể từ tất cả các nguồn có thể tạo ra thu nhập
như: do thiên nhiên mang lại, do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh, do
đầu tư, do biếu tặng, thừa kế, do vận may… Tài sản có thể thường xuyên thay đổi
trạng thái và giá trò tùy thuộc vào hành động của chủ sở hữu: tài sản bằng tiền
có thể được chuyển thành hiện vật hoặc ngược lại, nếu chủ sở hữu tiến hành bán
tài sản. Tài sản có thể tăng thêm nếu có sự đầu tư, bổ sung hoặc do tăng giá; tài
sản có thể giảm đi nếu có sự chuyển sở hữu tài sản cho chủ thể khác hoặc cũng
có thể giảm do hao mòn, giảm giá, và cũng có thể biến mất do rủi ro.
Như vậy, khái niệm tài sản không phải là một khái niệm bất biến mà nó
được biến đổi và tự hoàn thiện theo quan niệm về giá trò vật chất. Vì vậy, khi
nghiên cứu khái niệm tài sản, cần phải chú ý đến các khía cạnh sau:
- Tài sản có thể đồng nghóa với sự tồn tại của của cải dưới dạng hữu hình
hoặc vô hình trong trường hợp của cải đó trò giá được bằng tiền và có thể dùng
để giao dòch mang lại lợi ích cho chủ sở hữu.
- Tài sản phải luôn gắn liền với một chủ sở hữu nhất đònh.
9
- Tài sản khác với thu nhập. Nói đến tài sản của một chủ thể là nói về
lượng của cải tại một thời điểm nhất đònh nào đó của chủ thể. Còn nói đến thu
nhập là nói đến lượng của cải mà chủ thể thu được trong một thời kỳ nhất đònh.
Ví dụ, một người có tài sản vào cuối năm 2004 trò giá là 500 triệu đồng nghóa là
người này có tài sản là 500 triệu đồng vào thời điểm đang nói; khác với cách nói
thu nhập của một người trong tháng là 5 triệu đồng, tức là vào cuối tháng người
này có thêm 5 triệu đồng vào số tiền đã có trước đó. Như vậy, thu nhập của một
thời kỳ không bao gồm tài sản ở thời kỳ trước, còn tài sản lúc cuối kỳ bao gồm
tất cả các thu nhập của các kỳ trước đó cộng lại. Vì vậy, khái niệm về tài sản
phải gắn với yếu tố thời điểm.
- Tài sản khác với vốn. Tài sản và vốn là hai khái niệm có khi đồng nhất,
có khi không đồng nhất. Tài sản sẽ trở thành vốn khi tham gia vào quá trình sản
xuất, kinh doanh. Khi đó, vốn không những là tài sản hữu hình mà còn là tài sản
vô hình. Cùng với quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hóa, vốn thường
vận động và chuyển hóa từ hình thái này sang hình thái khác để thực hiện giá trò
của hàng hóa. Vốn được tiền tệ hóa và quá trình vận động, luân chuyển của vốn
làm cho của cải xã hội ngày càng phong phú. Từ đó khái niệm vốn có thể hiểu
là tiền và các hình thức biểu hiện khác của tiền với tư cách là hàng hóa khi tham
gia vào thò trường. Tài sản và vốn không là khái niệm đồng nhất khi tài sản còn
trong lưu giữ, không dùng vào sản xuất kinh doanh.
- Khi nói đến tài sản, thường người ta không cần truy tìm đến nguồn gốc
thu nhập tạo ra tài sản và thu nhập này có từ bao giờ hay bằng cách nào mà chỉ
cần biết chủ sở hữu hiện tại của tài sản đó.
- Quan niệm về tài sản trong kinh tế phải nhất quán với quy đònh trong
luật Dân sự về tài sản, bởi vì đối với tài sản, các chủ thể của quan hệ pháp luật
10
dân sự có những quyền mà nội dung, hình thức và phương thức thực hiện các
quyền đó (kể cả các biện pháp thực hiện) đều do luật xác đònh.
1.1.2 Phân loại tài sản:
Tài sản thể hiện mức độ giàu có của một chủ thể. Đây là yếu tố vật chất
có tính chất quyết đònh đến khả năng tiêu dùng, đầu tư nhằm tái tạo và bổ sung
của cải. Đối với một quốc gia, tổng giá trò tài sản chung cả nước chính là tiềm
lực kinh tế của quốc gia đó. Do đó, tất cả các quốc gia đều phải thường xuyên
nắm chắc được tổng tài sản xã hội, cơ cấu tài sản và sự phân bố các tài sản đó
để có chính sách phù hợp, nhằm phát huy tác dụng của các tài sản quốc gia đối
với sự phát triển kinh tế, xã hội và chính trò của đất nước. Việc phân loại tài sản
cho phép khai thác, sử dụng tài sản một cách hợp lý và hiệu quả nhất. Tùy theo
mục đích nghiên cứu mà có thể phân loại tài sản theo những căn cứ khác nhau.
- Căn cứ theo nguồn hình thành: gồm tài sản do thiên nhiên đem lại (như
đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên khoáng sản, thắng cảnh…), và tài sản do
con người tạo ra bằng lao động, hoặc được thừa kế, cho tặng (như đường sá, cầu
cống, nhà ở, tàu thuyền, xe cộ, đồ dùng gia đình…)
- Căn cứ theo hình thức sở hữu: gồm tài sản quốc gia (thuộc sở hữu nhà
nước hay còn gọi là sở hữu toàn dân), tài sản tập thể (thuộc sở hữu của một làng
xã, họ tộc, tôn giáo, công ty, hợp tác xã…), tài sản hỗn hợp (thuộc nhiều chủ sở
hữu) và tài sản cá nhân (thuộc sở hữu tư nhân)
- Căn cứ theo đặc điểm: gồm có bất động sản (là các loại tài sản không di
dời được như đất đai, nhà xưởng, vật kiến trúc gắn liền với đất) và động sản (là
tài sản không phải là bất động sản như thiết bò sản xuất, kinh doanh, tàu thuyền,
đồ dùng, tiền và các giấy tờ có giá như tiền…). Tuy nhiên, việc phân loại này chỉ
có tính chất tương đối. Có những tài sản ban đầu là bất động sản nhưng lại có xu
11
hướng trở thành động sản; ngược lại có những tài sản ban đầu là động sản nhưng
chỉ phát huy tác dụng khi được cố đònh ở một vò trí thích hợp như một bất động
sản. Chẳng hạn như nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với đất, thường được xem là
bất động sản. Tuy nhiên, với trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại ngày nay, các
tài sản này có thể được di dời đến đòa điểm khác (rất nhiều trường hợp di dời
được chúng ta biết đến nhờ những “thần đèn” hiện đại), vì vậy trong tương lai,
nhà xưởng, vật kiến trúc gắn liền với đất cũng có thể xem như những động sản.
Ngược lại, có động sản được coi là bất động sản do trong quá trình sử dụng,
chúng chỉ phát huy tác dụng khi được gắn liền với bất động sản, và chúng buộc
phải gắn liền với bất động sản đó thì bất động sản đó mới có giá tri. Ví dụ, trong
cơ sở sản xuất công nghiệp, có những loại máy móc, dụng cụ phải gắn liền với
nhà xưởng, trong sản xuất nông nghiệp có công cụ lao động, vật nuôi gắn liền
với trang trại… Do đó, tiêu chí để phân loại là động sản hay bất động sản còn tùy
thuộc vào tính chất, đặc điểm của tài sản như ổn đònh, tồn tại lâu dài, và phù hợp
với công dụng đích thực của chúng; dù lúc đầu khi mới tạo ra, chúng mang tính
chất khác. Lợi ích của cách phân loại này được thể hiện chủ yếu trên ba phương
diện: bảo đảm thực hiện nghóa vụ, xác lập quyền sở hữu do thời hiệu, và thẩm
quyền của tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp về tài sản.
- Căn cứ theo hình thái biểu hiện: gồm tài sản hữu hình (như đất đai, nhà
cửa, máy móc…) và tài sản vô hình (như quyền tác giả, quyền sáng chế phát
minh); vật tiêu hao (thức ăn, xăng dầu…) và vật không tiêu hao (quần áo, xe
máy, tivi…); tài sản cố đònh (nhà xưởng, đất đai …) và tài sản lưu động (hàng hóa,
tiền vốn…)
- Căn cứ theo mục đích sử dụng: gồm có tài sản tiêu dùng hàng ngày (như
lương thực thực phẩm, quần áo, phương tiện đi lại,…); tài sản dự trữ (như vàng
bạc, đồ trang sức…); tài sản kinh doanh (đất đai, chứng khoán…)
12
- Căn cứ theo yêu cầu quản lý: có tài sản thuộc diện quản lý của nhà
nước, phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (như
nhà, đất, phương tiện vận tải, súng thể thao, súng săn…) và tài sản không thuộc
diện quản lý, không bắt buộc phải thực hiện chế độ đăng ký quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng (tivi, máy giặt…)
Ở nước ta, Bộ Luật dân sự năm 1995 quy đònh: “Tài sản bao gồm vật có
thực, tiền, giấy tờ trò giá được bằng tiền và các quyền tài sản” (Điều 172). Đồng
thời cũng quy đònh các loại tài sản như: Bất động sản và động sản (Điều 181);
trong đó liệt kê các tài sản là bất động sản, sau đó, quy đònh rằng những tài sản
không phải là bất động sản đều là động sản. Đứng ở vò trí đầu trong danh sách
bất động sản là đất đai (Điều 181, khoản 1, điểm a). Chính trong mối quan hệ
với đất mà các vật khác được đònh nghóa là động sản hay bất động sản. Chẳng
hạn, vật được sinh ra từ đất (như cây cối, khoáng sản, …) là bất động sản; vật gắn
với đất do hoạt động có ý thức của con người và không thể tách rời đất (như
nhà, công trình xây dựng, cơ sở hạ tầng…) cũng là bất động sản. Vật không cố
đònh trên đất (như xe cộ, tàu thuyền…) là động sản (kể cả vật tách khỏi đất như
hoa lợi đã thu hoạch, khoáng sản đã khai thác…). Tiếp theo sau, Bộ Luật dân sự
năm 1995 cũng quy đònh các loại tài sản khác: Hoa lợi, lợi tức (Điều 182); Vật
chính và vật phụ (Điều 183); Vật chia được và vật không chia được (Điều 184);
Vật tiêu hao và vật không tiêu hao (Điều 185); Vật cùng loại và vật đặc đònh
(Điều 186); Vật đồng bộ (Điều 187); và tài sản là Quyền tài sản (Điều 188).
13
1.2. Thuế tài sản:
1.2.1 Khái niệm về thuế tài sản:
Thuế tài sản là loại thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế. Đây là một
loại thuế trực thu đánh vào tài sản của người sở hữu tài sản đó. Theo cách phân
loại theo đối tượng đánh thuế thì thuế tài sản nằm trong một hệ thống thuế gồm
ba loại thuế: Thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu
nhập) và thuế đánh vào tài sản có được (thu nhập tích luỹ đã được vật hóa dưới
dạng tài sản).
Việc phân biệt rõ đối tượng đánh thuế tài sản với đối tượng đánh thuế thu
nhập và thuế tiêu dùng là hết sức quan trọng để không đánh thuế chồng chéo
vào những thu nhập có cùng tính chất. Từ đó xác đònh chính xác thời điểm cũng
như cơ sở đánh thuế thu nhập, thuế tiêu dùng và thuế tài sản.
1.2.2 Những nguyên lý về sự tồn tại và vai trò của thuế tài sản:
Việc đánh thuế tài sản không đơn giản chỉ nhằm mục đích tạo nguồn thu
cho ngân sách mà xuất phát từ nhiều lý do xét trên nhiều khía cạnh kinh tế, xã
hội. Những lý do chính biện minh cho sự tồn tại của thuế tài sản đó là:
- Thứ nhất, thuế tài sản thực chất là một loại thuế bổ sung cho thuế thu
nhập vì nó đánh vào một dạng tồn tại khác của thu nhập (thu nhập tích luỹ được
tài sản hóa). Theo quan điểm này, việc sử dụng nhiều hình thức đánh thuế vào
các dạng tồn tại của thu nhập (như yêu cầu đánh thuế luỹ tiến vào thu nhập) là
cần thiết để đảm bảo yêu cầu bao quát hết nguồn thu . Về nguyên tắc thì chỉ cần
đánh thuế thu nhập là đủ vì tất cả các khoản thuế suy cho cùng đều được trích từ
thu nhập của đối tượng nộp thuế. Tuy nhiên, nếu chỉ đánh một lần duy nhất vào
thu nhập khi phát sinh thì mức thuế sẽ phải cao và do đó không có lợi về mặt
14
tâm lý của người nộp thuế, thậm chí kìm hãm các hoạt động tạo ra thu nhập.
Hơn thế nữa, việc đánh thuế một lần vào thu nhập sẽ có khuynh hướng không
đảm bảo công bằng vì khả năng kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu thường rất
khó khăn đối với chính quyền thu thuế. Do vậy, đánh thuế vào tài sản sẽ tạo
điều kiện giảm bớt mức thuế đánh vào thu nhập và tạo ra tâm lý tốt hơn cho
người có thu nhập nếu so sánh với phương án chỉ đánh thuế thu nhập một lần
duy nhất. Ngoài ra, thuế đánh vào tài sản còn giúp Nhà nước động viên thêm
vào phần thu nhập chưa bò đánh thuế ở những khâu trước và đặc biệt là những
khoản thu nhập đã trốn hoặc tránh thuế được chủ sở hữu tài sản hoá. Vì vậy,
việc đánh thuế tài sản thực chất cũng là đánh thuế vào phần thu nhập được tài
sản hoá. Nó có tác dụng bổ sung hữu hiệu cho các loại thuế thu nhập, thuế tiêu
dùng và trở thành một yêu cầu không thể thiếu trong việc thiết kế hệ thống thuế
nhằm đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội.
- Thứ hai, việc đánh thuế tài sản là cần thiết xuất phát từ nguyên tắc bồi
hoàn lợi ích. Nguyên tắc này dựa trên cơ sở cho rằng tài sản được bảo tồn phát
triển và sinh lời một phần là do được thừa hưởng rất nhiều lợi ích từ các dòch vụ
công cộng của Nhà nước. Trên thực tế có những dòch vụ công cộng làm tăng
thêm giá trò của tài sản. Chẳng hạn, giá trò của nhà đất có thể tăng lên rất nhiều
nhờ việc Nhà nước cải tạo và mở rộng đường xá, cải thiện chất lượng cung cấp
điện nước, xây dựng thêm khu vui chơi giải trí… trong trường hợp đó, giá trò của
tài sản tăng lên mà không cần sự đầu tư nào của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, còn
có một số tài sản cá nhân đã được Nhà nước quản lý, bảo vệ bằng các biện pháp
đặc biệt có lợi cho các chủ sở hữu tài sản như: công nhận và bảo hộ quyền sở
hữu tài sản, quyền thừa kế. Vì vậy, thông qua việc đánh thuế tài sản, Nhà nước
sẽ được bồi hoàn những chi phí này ở một mức độ nhất đònh.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét