Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hoặc giúp sức hoặc tham gia thực hiện tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm
tội”.
Chúng ta chưa thể tìm thấy sự phân hoá TNHS đối với những kẻ cùng
thực hiện tội phạm nhưng qua đây chúng ta đã có được tư duy để phân biệt giữa
trường hợp phạm tội riêng lẻ và trường hợp phạm tội có sự tham gia cùng thực
hiện của nhiều người. Những quy định trên đây sẽ là tài liệu quan trọng và thực
sự quý báu để nhà làm luật tiếp tục hoàn thiện chế định đồng phạm trong tương
lai.
Pháp luật hình sự giai đoạn sau này có những bước tiến nhảy vọt với sự ra
đời của BLHS năm 1985. Tại đây, lần đầu tiên khái niệm đồng phạm đã chính
thức được sử dụng, Khoản 1 Điều 17 nêu rõ: “ Hai hoặc nhiều người cố ý cùng
thực hiện một tội phạm là đồng phạm” [ 2, tr.22]. Khái niệm này đã thay thế
hoàn toàn khái niệm “ cộng phạm” vẫn được sử dụng trước đây. Đến năm 1999
BLHS mới ra đời, một lần nữa chế định đồng phạm được khẳng định kế thừa và
phát triển. Điều 20 BLHS năm 1999 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có
hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” [3, tr.24]. Từ những quy
định trên đây, chúng ta có thể nhận ra điểm tương đồng so với khái niệm đồng
phạm đã được quy định trong BLHS năm 1985.
Như vậy quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đã cho chúng ta khái niệm đầy đủ
và thống nhất về đồng phạm. Ta biết rằng đồng phạm là trường hợp có hai người
trở lên cố ý cùng thực hiện tội phạm. Hay nói cách khác, khi một tội phạm được
thực hiện bởi ít nhất là hai chủ thể và hai chủ thể đó thoả mãn dấu hiệu “cùng cố
ý” thì trường hợp đó tội phạm được coi là đồng phạm. Để hiểu rõ hơn bản chất
của vấn đề đồng phạm chúng ta tiếp tục nghiên cứu mặt chủ quan và mặt khách
quan thuộc dấu hiệu pháp lý cơ bản của đồng phạm.
2. Dấu hiệu pháp lý của đồng phạm
2.1. Mặt khách quan của đồng phạm
Để xác định bản chất của đồng phạm, ta cần nghiên cứu dấu hiệu về mặt
khách quan. So với trường hợp phạm tội đơn lẻ thì tội phạm khi được thực hiện
bằng hình thức đồng phạm luôn có những dấu hiệu bắt buộc và cơ bản sau đây:
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2.1.1. Dấu hiệu thứ nhất thuộc mặt khách quan của đồng phạm đòi hỏi
phải có ít nhất hai người có đủ điều kiện chủ thể tham gia thực hiện tội phạm
Yếu tố chủ thể tham gia thực hiện tội phạm là cơ sở quyết định tính chất
của tội phạm. Thực tế cho thấy, một tội phạm được thực hiện chỉ do một người
thực hiện nhưng cũng có thể nó là kết quả của sự liên kết, phối hợp giữa nhiều
chủ thể khác nhau. Sự tham gia của nhiều người vào việc gây án đã làm cho tội
phạm có sự thay đổi về chất và có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn hẳn trường
hợp phạm tội riêng lẻ. Khi tội phạm có nhiều người cùng tham gia thì những
người phạm tội có tâm lý dựa vào sức mạnh tập thể, nên liều lĩnh và táo bạo
hơn, quyết tâm phạm tội hơn. Do đó, tội phạm có khả năng gây ra hậu quả nguy
hiểm cho xã hội cao hơn.
Ví dụ: Tại bản án số 29/2006/HSST ngày 29/9/2006 do TAND huyện
Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử đã cho thấy: Nguyễn Tuấn Ánh, Lê Văn
Thái, Lê Văn Dương và Ngũ Văn Truyền lợi dụng lúc gia đình chị Hoàng Thị
Hà ở khối 10 thị trấn Thanh Chương đi vắng đã lén lút đột nhập vào nhà chị Hà
lấy đi 6.250.000 đồng, 4 cây thuốc lá ngựa trắng và hai cây thuốc Vinataba
Trong vụ án này Nguyễn Tuấn Ánh nhờ có sự cảnh giới của Ngũ Văn
Truyền, sự tham gia tích cực của Thái và Dương đã nhanh chóng thực hiện được
hành vi trộm cắp đã vạch ra từ trước. Điều này càng chứng tỏ tính nguy hiểm
cao của loại tội phạm được thực hiện bởi nhiều người cùng tham gia. Tuy vậy,
không phải trong mọi trường hợp cứ có nhiều người cùng thực hiện một tội
phạm đều là đồng phạm.
Ví dụ: A có hiềm khích với gia đình anh B đã xúi giục bé C (C mới 8
tuổi) dùng lửa đốt cháy nhà anh B.
Để xác định A và C có phải là đồng phạm trong vụ đốt nhà anh B hay
không, trước hết phải xác định điều kiện chủ thể thực hiện tội phạm của A và C.
Ta biết rằng: chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự
(NLTNHS), đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể. Hiện
nay luật hình sự Việt Nam không có điều luật nào quy định trực tiếp: Như thế
nào là người có NLTNHS. Song thông qua quy định tại Khoản 1 Điều 13 BLHS
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
năm 1999: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc
bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và khả năng
điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu TNHS, đối với người này phải
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh” [3, tr.12]. Như vậy ta có thể hiểu rằng:
Người có NLTNHS là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả
năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả
năng điều khiển được hành vi ấy.
NLTNHS chỉ được hình thành khi con người đạt độ tuổi nhất định, Điều
12 BLHS năm 1999 quy định:
“ 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng” [3, tr.21].
NLTNHS và độ tuổi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc của chủ thể tội phạm.
Trở lại ví dụ trên, C chỉ là một em bé mới 8 tuổi, bản thân chưa thể nhận thức
được hậu quả có thể xảy ra khi thực hiện hành vi đốt cháy nhà anh B, C không
đủ tuổi chịu TNHS và không thể trở thành chủ thể của tội phạm. Do vậy giữa A
và C không có đồng phạm.
Trong một số trường hợp, chủ thể của tội phạm đòi hỏi phải có thêm một
số dấu hiệu đặc biệt khác vì chỉ khi thỏa mãn những dấu hiệu đó, những người
thực hiện hành vi phạm tội mới được coi là chủ thể của tội phạm.
Ví dụ: Tội hiếp dâm quy định tại Điều 111 BLHS năm 1999 đòi hỏi chủ
thể - người thực hiện phải là nam giới.
Dấu hiệu này sẽ được phân tích rõ hơn khi đi vào tìm hiểu những vấn đề
liên quan đến TNHS của những người đồng phạm ở phần sau.
2.1.2. Dấu hiệu thứ hai thuộc về mặt khách quan của đồng phạm: Những
người đồng phạm phải cùng thực hiện tội phạm
Để đánh giá chính xác vụ án có đồng phạm không thì cần xem xét những
người tham gia đó có cùng thực hiện một tội phạm hay không?
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Dấu hiệu cùng thực hiện một tội phạm có nghĩa là những người tham gia
bằng hành vi của mình đều góp phần thực hiện tội phạm hoặc thúc đẩy việc thực
hiện tội phạm. Cố ý cùng thực hiện tội phạm đòi hỏi mỗi người đồng phạm phải
tham gia vào tội phạm với một hoặc một số hành vi sau: Hành vi thực hiện tội
phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục thực hiện tội phạm,
hành vi giúp sức thực hiện tội phạm. Tương ứng với bốn loại hành vi này là bốn
loại người đồng phạm, bao gồm: Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức
và người thực hành.
Thực tế cho thấy trong một vụ án đồng phạm có thể có đủ bốn loại hành
vi nhưng cũng có thể chỉ có một trong bốn hành vi đó. Những người đồng phạm
có thể tham gia với một loại hành vi hoặc với nhiều loại hành vi khác nhau. Họ
có thể tham gia từ đầu hay khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa kết thúc.
Trở lại bản án số 29/2006/HSST ta thấy: Trong vụ án trộm cắp tài sản này
có sự phân công rõ vai trò của từng người trong việc thực hiện tội phạm.
- Nguyễn Tuấn Ánh với vai trò là người cầm đầu, chủ động khởi xướng
và rủ rê các đồng phạm, đồng thời cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi
phạm tội một cách tích cực.
- Lê Văn Thái là đồng bọn bị rủ rê, lôi kéo nhưng khi thực hiện tội phạm
cũng tỏ ra tích cực, liều lĩnh.
- Lê Văn Dương cũng bị đồng bọn rủ rê, nhưng cũng là người trực tiếp
thực hiện tội phạm.
Cả ba đối tượng: Nguyễn Tuấn Ánh, Lê Văn Thái, Lê Văn Dương đều
tham gia thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hành.
Riêng đối với Ngũ Văn Truyền, do không tự chủ được bản thân nên đã bị
rủ rê để trở thành đồng phạm giúp sức trong việc cảnh giới cho đồng bọn thực
hiện hành vi phạm tội.
Bằng những hành vi cụ thể, những người tham gia vào vụ án đồng phạm
đều gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Những hành vi đó được thực hiện
trong mối liên kết thống nhất với nhau. Hành vi của mỗi người là điều kiện cần
thiết cho hoạt động phạm tội chung. Hoạt động của mỗi người đều có mối quan
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hệ nhân quả với hậu quả chung hoặc với việc thực hiện hành vi phạm tội chung.
Nói cách khác, con người chỉ phải chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm cho xã hội
nếu giữa hành vi khách quan của họ đã thực hiện và hậu quả nguy hiểm đó có
quan hệ nhân quả với nhau.
Khoa học luật hình sự Việt Nam chia tội phạm thành hai loại: Loại có cấu
thành tội phạm (CTTP) vật chất và loại có CTTP hình thức. Đối với loại tội
phạm có cấu thành vật chất, hành vi phạm tội phải gây ra hậu quả thì mới được
coi là hoàn thành. Trở lại vụ án trên, ta thấy hành vi trộm cắp tài sản do Ánh,
Thái, Dương và Truyền thực hiện đã hoàn thành.
Đối với tội có cấu thành hình thức, hậu quả tuy không phải là dấu hiệu bắt
buộc của mặt khách quan nhưng việc xác định hậu quả có ý nghĩa quan trọng
trong việc quyết định hình phạt.
Quan hệ nhân quả trong đồng phạm là dạng quan hệ nhân quả kép trực
tiếp (quan hệ nhân quả trong đó có nhiều hành vi trái pháp luật cùng đóng vai
trò là nguyên nhân). Khi tội phạm được thực hiện với sự cố ý cùng tham gia của
nhiều người thì mỗi hành vi trái pháp luật của từng người đồng phạm đều có khả
năng thực tế trực tiếp làm phát sinh hậu quả.
Trong trường hợp hành vi của những người đồng phạm chưa có khả năng
thực tế làm phát sinh hậu quả thì quan hệ nhân quả chỉ hình thành khi có sự kết
hợp các hành vi đó với nhau thành một thể thống nhất.
Ví dụ: A vì có thù tức với H, nên đã rủ B, C cùng đánh H để “dạy cho H
một bài học”. B và C đồng ý. A, B, C cùng bàn bạc, lập kế hoạch để sớm hành
động. Khi biết H có phiên trực phải về muộn, A, B, C đã chờ sẵn H ở đầu làng.
Khi H vừa bước tới, A lập tức dùng côn đánh mạnh vào chân H, H ngã qụy
xuống, A tiếp tục đánh vào đầu và lưng H. C hai tay giữ chặt H, còn B cầm dao
đâm nhiều nhát vào những vị trí khác nhau trên người H. Kết quả, H chết do vết
thương quá nặng.
Bản thân hành vi của từng người đồng phạm là rất nguy hiểm, nhưng
trong trường hợp này, sự liên kết hành động của A, B, C chính là nguyên nhân
trực tiếp dẫn đến hậu quả chết người đối với H.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Như vậy, khi tìm hiểu dấu hiệu thuộc mặt khách quan của đồng phạm ta
cần phải xác định được những người tham gia thực hiện tội phạm đó có đủ điều
kiện của một chủ thể tội phạm hay không. Và những người đó phải cùng tham
gia, cùng cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của mỗi người có mối liên hệ thống
nhất với nhau, hậu quả của tội phạm phải là kết quả hoạt động chung của tất cả
những người đồng phạm.
Khi nghiên cứu vấn đề đồng phạm, bên cạnh việc xác định dấu hiệu về
mặt khách quan, chúng ta cần thiết phải xác định dấu hiệu pháp lý về mặt chủ
quan.
2.2. Mặt chủ quan của đồng phạm
Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan. Nếu mặt
khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan là
hoạt động tâm lí bên trong của người phạm tội. Trong luật hình sự, đồng phạm
được coi là hình thức phạm tội đặc biệt, do vậy khi nghiên cứu về đồng phạm
không thể tách rời hai mặt khách quan và chủ quan.
Khi nghiên cứu mặt khách quan của đồng phạm ở phần trên, chúng ta đã
giải đáp được phần nào vướng mắc cơ bản trong đồng phạm. Tuy nhiên để hiểu
rõ hơn những vấn đề liên quan chúng ta cần có sự quan tâm thích đáng tới mặt
chủ quan của đồng phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm nói chung, đồng phạm nói riêng bao gồm các
dấu hiệu đặc trưng và cơ bản sau: Lỗi, động cơ và mục đích.
2.2.1. Dấu hiệu lỗi
“Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
của mình đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức là
cố ý hoặc vô ý” [10, tr.101].
Trong đồng phạm ngay từ khái niệm được quy định tại Điều 20 BLHS
năm 1999 đã quy định, đồng phạm chỉ được thực hiện với lỗi cố ý, mỗi người
đồng phạm khi thực hiện hành vi phạm tội đều cố ý với hành vi của mình và
mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác. Lỗi cố ý trong
đồng phạm được thể hiện trên hai mặt lí trí và ý chí như sau:
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
• Về lí trí:
Trong nhận thức của những người đồng phạm đều phải biết hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, đồng thời họ cũng phải biết rằng người khác
cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội như mình. Trong trường hợp vụ đồng
phạm có nhiều người tham gia, bản thân mỗi chủ thể khi thực hiện hành vi
không thể biết được hành vi cụ thể của những người tham gia phạm tội cùng với
mình. Nhưng có một điều mà những người phạm tội luôn tin tưởng là bên cạnh
chúng còn có những người khác cùng phạm tội. Dù ít hay nhiều bọn chúng đều
có sự liên kết cùng hành động, điều này tạo nên tính nguy hiểm cao của đồng
phạm so với trường hợp phạm tội đơn lẻ.
Nếu một người chỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không
biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội như mình thì chưa phải là
cùng cố ý, do vậy chưa có đồng phạm.
Ví dụ: Trên một chuyến tàu Bắc - Nam tình cờ A quen B. Sau một lúc trò
chuyện A biết B cùng xuống một ga với mình nên A đã gửi cho B giữ hộ một
bọc hàng. B vốn là một tên trộm chuyên nghiệp, B đoán trong bọc hàng đó có
thứ rất giá trị, B nhận lời ngay với ý định: Nếu có cơ hội là y sẽ cùng bọc hàng
bỏ trốn. Gần cuối ga tàu bất ngờ Công an phát hiện B đang giữ bọc hàng trong
đó có chứa 500g Heroin.
Trong trường hợp này A chỉ biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội là
vận chuyển ma tuý, còn hành vi của B là định trộm cắp tài sản. Giữa A và B
không có sự cố ý cùng phạm tội, do vậy A và B không đồng phạm với nhau.
Mặt khác, mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho
xã hội do hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ thực
hiện, và mục đích mà họ cùng mong muốn đạt được là thực hiện được kế hoạch
vạch ra.
• Về ý chí
Những người đồng phạm mong muốn có hoạt động chung và cùng mong
muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. Trở lại định nghĩa
được quy định tại Khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999: “Đồng phạm là trường
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Ở đây luật hình sự
chỉ đưa ra giới hạn “cùng cố ý”, tức lỗi của họ đều phải là lỗi cố ý chứ điều luật
không yêu cầu họ cùng có lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp [19, tr.29]. Do
đó, điều mà chúng ta quan tâm khi tìm hiểu dấu hiệu ý chí trong đồng phạm là
những người đồng phạm có cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho
hậu quả phát sinh hay không?
Ví dụ: A và B cung thầu ao của Hợp tác xã để thả cá. C đã nhiều lần đến
kéo trộm cá trong ao của A và B. Một hôm, đang ngồi trong lều A nghe có tiếng
động từ ao và phát hiện ra C lại đến kéo trộm, A rủ B ra xử lý C. Khi bắt được
C, B dùng côn đánh vào người C còn A dùng đòn gánh đánh vào lưng và cổ C.
Sau đó A và B bỏ vào lều.
Trong trường hợp này mặc dù A và B không mong muốn hậu quả chết
người xảy ra nhưng cả hai cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. Do đó
A và B là đồng phạm với nhau trong tội giết người.
Phân tích dấu hiệu lỗi trong đồng phạm trên hai mặt lý trí và ý chí cho
chúng ta đi đến thống nhất quan điểm: Đồng phạm là trường hợp mà những
người tham gia thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính chất
nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và biết người khác cũng có
hành vi nguy hiểm cùng với mình, họ đều thấy trước được hậu quả nguy hiểm
cho xã hội của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực
hiện, đồng thời họ cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn
hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh.
Bên cạnh dấu hiệu lỗi cùng cố ý, từ nội dung họ cùng cố ý thực hiện tội
phạm trong đồng phạm nêu trên, chúng ta có thể thấy trong mặt chủ quan của
đồng phạm cần phải thoả mãn dấu hiệu động cơ, mục đích mà điều luật quy định
là dấu hiệu bắt buộc.
2.2.2. Dấu hiệu động cơ, mục đích
Ngoài dấu hiệu lỗi là cùng thực hiện và cùng cố ý, trong một số trường
hợp đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích, khi đó mục đích là dấu
hiệu bắt buộc trong CTTP.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ví dụ: Trong nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia. Mục đích
chống chính quyền nhân dân hoặc làm suy yếu chính quyền là dấu hiệu bắt buộc
trong mặt chủ quan của tất cả các tội phạm. Khi thực hiện hành vi phạm tội,
người phạm tội có mục đích chống lại hoặc làm suy yếu chính quyền nhân dân.
Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt tội xâm phạm an ninh quốc gia với những
tội khác có dấu hiệu của mặt khách quan tương tự.
Nếu không thoả mãn dấu hiệu cùng mục đích sẽ không có đồng phạm,
trong trường hợp này những người tham gia sẽ chịu TNHS độc lập với nhau.
Ví dụ: B là nhà báo, A là cấp trên của B, A thường xuyên giao cho B
nhiệm vụ thu thập những tin tức liên quan đến hoạt động tôn giáo tại miền Nam,
A đã sử dụng những tin tức mà B đã thu thập được để cung cấp cho một tổ chức
phản động ở nước ngoài với mục đích chống chính quyền nhân dân.
Giữa A và B không có đồng phạm về tội chống chính quyền nhân dân mà
chỉ A mới phải chịu TNHS độc lập về tội gián điệp theo Điều 80 BLHS. Hành vi
của B tuy có tạo điều kiện thuận lợi cho việc phạm tội của A nhưng do A và B
không có sự thống nhất ý chí nên không được coi là đồng phạm tội gián điệp
Xuất phát từ quy định của BLHS về đồng phạm và thực tiễn phạm tội
dưới hình thức này chúng tôi thấy được rằng: Đồng phạm là một dạng đặc biệt
của tội phạm, được thực hiện bởi nhiều người, biểu hiện ở mặt khách quan là sự
liên kết hành vi phạm tội của những người đồng phạm trong việc thực hiên tội
phạm, biểu hiện ở mặt chủ quan là sự cố ý cùng phạm tội của họ.
Để nhận thức về đồng phạm một cách toàn diện, chúng ta cùng nghiên
cứu nội dung các hình thức của đồng phạm.
3. Các hình thức đồng phạm
Để xác định một tội phạm có phải là đồng phạm hay không chúng ta có
thể dựa vào dấu hiệu thuộc mặt chủ quan và mặt khách quan của tội phạm đó.
Khoa học luật hình sự và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự
từ trước đến nay cũng dựa vào dấu hiệu này để phân loại các hình thức đồng
phạm.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3.1. Phân loại theo dấu hiệu chủ quan
Căn cứ vào đặc điểm về mặt chủ quan thì đồng phạm được phân loại
thành: Đồng phạm không có thông mưu trước và đồng phạm có thông mưu
trước.
3.1.1. Đồng phạm không có thông mưu trước
Hình thức này được hiểu như sau: “Đồng phạm không có thông mưu trước
là hình thức đồng phạm trong đó không có sự thoả thuận bàn bạc với nhau trước
giữa những người đồng phạm hoặc là có sự thoả thuận nhưng không đáng kể"
[10, tr.141].
Những người đồng phạm không có sự bàn bạc trước với nhau về kế hoạch
thực hiện tội phạm, đồng thời giữa những người đồng phạm không có sự phân
công vai trò như tổ chức, thực hành hay xúi giục. Thuộc hình thức này có thể
những người đồng phạm chỉ nhất trí về việc thực hiện tội phạm với nhau ở hiện
trường và bắt tay ngay vào việc thực hiện tội phạm hoặc đồng phạm được hình
thành khi có người đang thực hiện tội phạm, người khác thấy vậy cũng cùng
tham gia phạm tội.
Ví dụ: A và B rủ nhau lên đồi hái chè. Đến chiều tối A và B thấy một con
bò đang ăn ở phía cuối vườn chè. Cả hai nảy sinh ý định bắt trộm con bò đó. Sau
đó A và B dắt bò về dưới huyện và bán được 2.000.000 đồng.
Ở đây, A và B cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản công dân nhưng
giữa A và B trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản không có sự bàn bạc
vạch kế hoạch trước. Như vậy, so với các hình thức đồng phạm khác thì đồng
phạm không có thông mưu trước nói chung ít nguy hiểm hơn.
3.1.2. Đồng phạm có thông mưu trước
“Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó những
người đồng phạm đã có sự thoả thuận bàn bạc trước với nhau về tội phạm cùng
thực hiện”[10, tr.141].
Ví dụ: A rủ B cùng mình đột nhập vào nhà ông C để trộm cắp tài sản. B
đồng ý. Cả hai thường xuyên tụ tập tại nhà A để bàn bạc, lập kế hoạch. A giao
cho B tìm cách giết con chó nhà ông C, còn A sẽ theo dõi hoạt động đi lại của
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét