Tuy nhiên dù được thực hiện dưới hình thức nào, hay bản chất của nó
là gì,có những chủ thể nào tham gia thì một yếu tố không thể không nhắc đến
trong phương thức này là thư tín dụng. Đây chính là yếu tố căn bản cho việc
xác lập cũng như thực hiện thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ.
1.1.2.Thư tín dụng chứng từ (Letter of Credit - L/C)
1.1.2.1. Khái niệm thư tín dụng
Thư tín dụng (L/C) là một cam kết thanh toán của Ngân hàng cho người
xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với
các điều khoản và điều kiện của L/C.
Vì thư tín dụng có tính chất hết sức quan trọng nên nó được hình thành
trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, tuy nhiên sau khi được thiết lập, nó lại
hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Tính chất độc lập của thư tín dụng được thể
hiện ở chỗ nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi (nhà xuất khẩu)
hoàn toàn không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người bán và người mua . Khi
nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hình thức với những nội
dung của L/C đã được mở, Ngân hàng phát hành L/C phải trả tiền vô điều kiện
cho nhà xuất khẩu mà không phụ thuộc vào tình hình cũng như thực trạng của
hàng hoá. Nếu thực trạng của hàng hoá không khớp với chứng từ thì hai bên
mua bán phải trực tiếp giải quyết với nhau. Trong trường hợp người mua từ chối
thanh toán tiền cho Ngân hàng thì Ngân hàng vẫn phải hoàn thành nghĩa vụ trả
tiền cho người bán, thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã được quy định
trong L/C.
Đặc trưng này thể hiện nghĩa vụ của Ngân hàng là không thay đổi. Khi
hợp đồng ngoại thương thay đổi mà không sửa đổi thư tín dụng thì Ngân hàng vẫn
căn cứ vào thư tín dụng để thanh toán mà không cần biết đến sự thay đổi của hợp
đồng. Ngược lại, khi thư tín dụng đã được sửa đổi mà không sửa đổi hợp đồng thì
khi xuất trình bộ chứng từ thanh toán, tuy phù hợp với hợp đồng nhưng trái với
NguyÔn Huy Toµn 5 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
thư tín dụng thì Ngân hàng phát hành vẫn có quyền từ chối thanh toán.
1.1.2.2. Nội dung chủ yếu của thư tín dụng
* Số hiệu, địa điểm, ngày mở L/C
- Số hiệu L/C: Tất cả các thư tín dụng đều phải có số hiệu riêng để
thuận lợi trong việc trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện
thư tín dụng, hoặc để ghi vào các chứng từ có liên quan như hối phiếu hay các
chứng từ cần thiết khác.
- Địa điểm phát hành L/C: là nơi Ngân hàng mở L/C viết cam kết thanh
toán tiền cho nhà xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc
chọn pháp luật áp dụng khi giải quyết những tranh chấp về L/C.
- Ngày phát hành L/C: là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của Ngân hàng
mở L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C,
là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc
mở L/C có đúng hạn như đã quy định trong hợp đồng không.
* Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến L/C
- Các thương nhân: bao gồm người xuất khẩu là người hưởng lợi L/C
và người nhập khẩu là người yêu cầu mở L/C.
- Các Ngân hàng tham gia : bao gồm Ngân hàng mở L/C, Ngân hàng thông
báo, Ngân hàng trả tiền, Ngân hàng xác nhận và các Ngân hàng khác (nếu có).
* Số tiền của thư tín dụng
Số tiền này được ghi bằng số và được ghi bằng chữ, thống nhất với nhau,
tên của đơn vị tiền tệ phải ghi rõ ràng. Trên thư tín dụng không nên ghi số tiền
tuyệt đối vì người xuất khẩu khó có thể giao hàng có giá trị đúng như L/C quy
định, khi đó khó có thể được thanh toán vì Ngân hàng sẽ đưa ra lý do chứng từ
không phù hợp với những điều kiện quy định trong thư tín dụng. Nên ghi số tiền
theo một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được hoặc là một giới hạn
chênh lệch hơn kém % của tổng số tiền.
NguyÔn Huy Toµn 6 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
* Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền, thời hạn giao hàng
• - Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng: là thời hạn mà Ngân hàng mở
L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu người này xuất trình bộ chứng từ
trong thời hạn đó và phù hợp với những quy định trong L/C. Thời hạn này
được tính từ ngày mở L/C đến hết ngày hiệu lực của L/C.
- Thời hạn trả tiền của L/C: là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền về sau,
tuỳ thuộc theo quy định trong hợp đồng. Nếu thực hiện đòi tiền bằng hối
phiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu ký phát hối phiếu.
- Thời hạn giao hàng: Được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy
định. Thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.
* Những nội dung về hàng hoá
Bao gồm tên hàng, giá cả, quy cách phẩm chất, bao bì, mã ký hiệu,số
lượng, trọng lượng…
* Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá
Bao gồm điều kiện cơ sở giao hàng (FOB,CFR,CIF), nơi gửi, nơi giao
hàng, cách vận chuyển, cách giao hàng…
* Những chứng từ người xuất khẩu phải xuất trình
Chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình được coi là 1 trong những
nội dung then chốt của thư tín dụng, bộ chứng từ quy định trong thư tín dụng
là một bằng chứng của người xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định trong thư tín dụng. Nếu
bộ chứng từ phù hợp với những quy định trong thư tín dụng, Ngân hàng mở
L/C sẽ tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu.
Bộ chứng từ thường bao gồm:
- Giấy tờ bảo hiểm
- Bản kê khai hàng hoá
- Vận đơn
NguyÔn Huy Toµn 7 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
- Hóa đơn thương mại
- Giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận xuất xứ
Và một số giấy tờ khác theo yêu cầu của người nhập khẩu.
1.1.2.3. Các loại thư tín dụng
a) Căn cứ theo công dụng của thư tín dụng:
* L/C có thể huỷ ngang
Là loại L/C có thể bị sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho
người hưởng lợi. Nó chứa đựng những rủi ro đối với người bán vì việc sửa đổi
hay huỷ thư tín dụng có thể xảy ra khi hàng hoá đang trên đường vận chuyển
hoặc trước khi việc thanh toán được thực hiện. Thư tín dụng huỷ ngang tạo cho
người mua sự chủ động tối đa vì nó có thể được sửa đổi hoặc huỷ bỏ mà không
cần thông báo cho người bán.
Thư tín dụng huỷ ngang chỉ được sử dụng trong các trường hợp:
- Giữa người mua và người bán có quan hệ tín dụng rất tốt.
- Việc giao hàng được thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con.
* L/C có điều khoản đỏ
Là loại L/C đặc biệt, trong đó có một điều khoản ghi rõ Ngân hàng phát
hành sẽ chuyển tiền hoặc uỷ quyền cho Ngân hàng thông báo (hay Ngân hàng
xác nhận, Ngân hàng chiết khấu) để thực hiện ứng trước cho người hưởng lợi
một số tiền nhất định, thông thường tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị
L/C. Người hưởng lợi phải xuất trình chứng từ tại Ngân hàng mà họ đã nhận
tiền ứng trước và phải bồi hoàn lại số tiền này nếu không xuất trình đủ chứng
từ hợp lệ trong thời hạn quy định. Số tiền ứng trước được thực hiện theo yêu
cầu của người mở L/C.
Rủi ro trong thanh toán L/C có điều khoản đỏ là tiền ứng trước có thể
bị sử dụng không đúng mục đích, chứng từ do nhà xuất khẩu trình có thể
không phù hợp hoặc người xuất khẩu không hoàn thành được việc sản xuất
NguyÔn Huy Toµn 8 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
hàng hoá mà cũng không hoàn lại được tiền ứng trước cho Ngân hàng.
* L/C không thể huỷ ngang
Là loại L/C sau khi đã được Ngân hàng mở thì không thể sửa đổi, bổ
sung hay huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó nếu chưa có sự thoả thuận của
các bên tham gia. Như vậy, nếu không có sự nhất trí của bên bán, của Ngân
hàng xác nhận thì Ngân hàng mở L/C không được phép thực hiện theo yêu
cầu của bên mua, do đó quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn.
* L/C chuyển nhượng
Là một L/C mà người hưởng đầu tiên có thể chuyển nhượng toàn bộ hoặc
một phần giá trị L/C cho một hoặc nhiều người hưởng lợi thứ hai. Trong L/C
chuyển nhượng, người hưởng lợi thứ nhất không tự động cung cấp được hàng
hoá, mà chỉ là trung gian môi giới giữa người cung cấp hàng hoá và người mua
cuối cùng. L/C này cũng chỉ đuợc chuyển nhượng một lần, có nghĩa là người
hưởng lợi thứ hai không được chuyển nhượng cho người hưởng lợi thứ ba.
Các bên tham gia trong phương thức L/C chuyển nhượng bao gồm:
- Nhà nhập khẩu
- Nhà xuất khẩu/ Người hưởng lợi thứ nhất
- Ngân hàng phát hành
- Ngân hàng thông báo/ chuyển nhượng (NH chấp nhận hoặc chiết khấu)
- Người cung cấp/ Người hưởng lợi thứ hai.
L/C chuyển nhượng thường được sử dụng khi người hưởng lợi thứ nhất là
đại lý cho nhà nhập khẩu, khi đó họ không cần phải giữ bí mật về người cung cấp
hàng hoá, còn trong trường hợp người hưởng lợi chỉ là người trung gian cung cấp
hàng hoá cho nhà nhập khẩu thì họ rất muốn giữ bí mật về người cung cấp.
* L/C giáp lưng
Khi người hưởng nhận được một L/C (L/C gốc) không phải L/C
chuyển nhượng song không thể tự mình cung cấp hàng hoá, khi đó họ có thể
NguyÔn Huy Toµn 9 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
thoả thuận với Ngân hàng của mình phát hành một L/C thứ hai (L/C giáp
lưng) với nội dung tương tự cho người cung cấp hàng hoá.
Các bên tham gia trong L/C gốc :
- Nhà nhập khẩu
- Ngân hàng trung gian (Ngân hàng thông báo)
- Người trung gian (Người hưởng lợi thứ nhất).
- Ngân hàng nhập khẩu
* L/C tuần hoàn
Là loại L/C không thể huỷ ngang mà sau khi sử dụng xong hoặc sau khi
hết hạn hiệu lực L/C thì sẽ tự động khôi phục lại giá trị như cũ mà không cần
mở L/C mới. Quy trình nghiệp vụ giống như L/C không thể huỷ ngang.
L/C tuần hoàn có thể khống chế việc thực hiện tuần hoàn theo hai cách:
- Theo thời gian: là khống chế thời hạn hiệu lực của L/C trong mỗi lần
tuần hoàn và tổng giá trị L/C. Theo cách này có thể là L/C tích luỹ hoặc
không tích luỹ. L/C tuần hoàn không tích luỹ không cho phép cộng số tiền
của L/C trước để tăng giá trị của L/C sau nếu L/C trước chưa sử dụng hết.
- Theo giá trị: là L/C được phép khôi phục lại giá trị ngay khi giá trị cũ
đã được sử dụng. Loại L/C này ít được sử dụng vì nó tạo ra một cam kết vô
hạn của Ngân hàng phát hành. Do đó thông thường khi phát sinh nhu cầu
thanh toán L/C tuần hoàn, các Ngân hàng thường phát hành L/C khống chế
theo thời gian hoặc vừa khống chế số tiền vừa khống chế thời gian.
Có ba cách tuần hoàn:
- Tuần hoàn tự động: nghĩa là L/C tiếp sau tự động có giá trị, không cần
sự thông báo của Ngân hàng phát hành L/C.
- Tuần hoàn không tự động: nghĩa là chỉ khi nào Ngân hàng phát hành
L/C thông báo cho người bán thì L/C mới có giá trị hiệu lực.
- Tuần hoàn hạn chế (bán tự động): nghĩa là nếu sau vài ngày kể từ
NguyÔn Huy Toµn 10 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
ngày L/C cũ hết hạn hiệu lực hoặc đã sử dụng hết mà không có ý kiến gì của
Ngân hàng phát hành thì L/C kế tiếp tự động có giá trị hiệu lực.
* L/C dự phòng
Là một loại tín dụng chứng từ hoặc một thoả thuận tương tự, dù được
gọi hay miêu tả bằng cách nào, theo đó Ngân hàng phát hành cam kết với
người thụ hưởng:
- Bồi hoàn về những thiệt hại do người yêu cầu mở không thực hiện
được nghĩa vụ của chính mình.
- Trả khoản tiền mà người yêu cầu mở thư tín dụng đã vay hoặc
nhận ứng trước.
L/C dự phòng cũng là cam kết thanh toán của Ngân hàng phát hành cho
người hưởng lợi. Song khác với thư tín dụng truyền thống, là phương tiện thanh
toán của người mua cho người bán theo hợp đồng thương mại, thì thư tín dụng dự
phòng chỉ được sử dụng để phòng ngừa phía đối tác vi phạm nghĩa vụ hoặc cam
kết, gây hậu quả xấu cho người hưởng, và việc thanh toán sẽ được thực hiện khi
người hưởng xuất trình được những bằng chứng nêu lên những điều kiện cam kết
không được tôn trọng.
Như vậy, thực chất L/C dự phòng giống như một thư bảo lãnh của Ngân
hàng. Riêng trong xuất nhập khẩu hàng hoá, thư tín dụng dự phòng là L/C mà
trong đó Ngân hàng mở cam kết với người hưởng lợi (nhà nhập khẩu) là sẽ thanh
toán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ
giao hàng theo L/C đã đề ra.
* L/C xác nhận
Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một Ngân hàng khác xác
nhận, điều đó có nghĩa là ngoài cam kết thanh toán của Ngân hàng phát hành còn có
thêm sự cam kết thanh toán của Ngân hàng xác nhận. Ngân hàng xác nhận có thể là
Ngân hàng thông báo hoặc là một Ngân hàng thứ ba tuỳ theo thoả thuận giữa người
NguyÔn Huy Toµn 11 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
mua, người bán và Ngân hàng phát hành. Trong thực tế, việc yêu cầu xác nhận L/C
không xuất phát từ mong muốn của người mở L/C mà xuất phát từ yêu cầu của
người hưởng khi họ nghi ngờ khả năng thanh toán và uy tín của Ngân hàng phát
hành, hoạc họ lo lắng về tình hình chính trị và khả năng an toàn của nước người mua.
Khi Ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người hưởng theo đúng quy định của
L/C, nó có quyền truy đòi lại số tiền đã thanh toán từ Ngân hàng phát hành. Để đảm
bảo an toàn, Ngân hàng xác nhận có thể yêu cầu Ngân hàng phát hành ký quỹ theo tỷ
lệ nhất định. Ngược lại, để đảm bảo quyền lợi của mình, Ngân hàng phát hành sẽ
thoả thuận với khách hàng để chọn Ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất
khẩu làm Ngân hàng xác nhận, tránh những rủi ro về vốn ký quỹ tại Ngân hàng xác
nhận.
Hiện tại có một số Ngân hàng xác nhận L/C mà không cần có sự uỷ
quyền của Ngân hàng phát hành, loại L/C này được coi là xác nhận ngầm và
Ngân hàng xác nhận chịu hoàn toàn rủi ro trong trường hợp này mà không
được phép dẫn chiếu theo các điều khoản của UCP500.
b) Căn cứ vào thời hạn thanh toán của thư tín dụng
* L/C trả chậm
Là loại L/C trong đó Ngân hàng phát hành cam kết thanh toán cho
người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng một số ngày sau khi bộ chứng từ
hoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng.
Loại thư tín dụng này có hai dạng:
- L/C có kỳ hạn: Là loại L/C không huỷ ngang trong đó Ngân hàng phát hành
sẽ chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn do người hưởng lợi ký phát khi họ xuất trình được
bộ chứng từ hoàn hảo. Những hối phiếu này nhà xuất khẩu có thể giữ cho đến thời
hạn thanh toán và lúc ấy trình nộp Ngân hàng để nhận tiền hoặc bán/chuyển nhượng
trên thị trường. Các Ngân hàng phát hành có thể mua hối phiếu hoặc chấp nhận thanh
toán cho chính mình.
NguyÔn Huy Toµn 12 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
- L/C trả dần: Là loại L/C không thể huỷ ngang trong đó quy định người
hưởng sẽ được thanh toán dần toàn bộ số tiền của L/C theo những thời hạn đã quy
định rõ trong L/C đó. Khác với loại thư tín dụng có kỳ hạn, loại L/C này không
đòi hỏi hối phiếu do người bán ký phát. Do đó, người bán không có quyền lợi
pháp lý đối với hối phiếu và quyền truy đòi liên quan đến hối phiếu đó.
* L/C trả ngay
Là loại L/C không thể huỷ ngang và phải thanh toán ngay khi hối phiếu được
xuất trình.
Rủi ro trong loại thư tín dụng này là thường phải thanh toán trước khi
nhận hàng, vì hối phiếu và bộ chứng từ thường đến trước khi hàng nhập cảng
1.2. Rủi ro trong hoạt động tín dụng chứng từ tại ngân hàng
1.2.1. Rủi ro là gì?
Hiểu một cách chung nhất: Rủi ro là những sự việc xảy ra ngoài ý muốn
của con người, đem lại những hậu quả mà người ta không thể dự đoán được. Rủi
ro có thể gặp bất cứ lúc nào ngoài ý thức của con người, không lệ thuộc vào ý
muốn chủ quan của con người. Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro ra
khỏi môi trường xã hội nói chung và môi trường kinh doanh nói riêng, mà chỉ có
thể nghiên cứu, nhận biết, đo lường và hạn chế nó tới mức thấp nhất.
Ngân hàng thương mại là loại hình doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá
đặc biệt, đó là tiền tệ. Do vậy, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng với bản
chất của nó luôn chịu tác động của nhiều loại rủi ro đi cùng với các lĩnh vực
hoạt động của Ngân hàng. Rủi ro trong kinh doanh của Ngân hàng thương mại
là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến của Ngân hàng. Thông thường, một
Ngân hàng hiện đại thường phải đối mặt với các loại rủi ro sau:
- Rủi ro lãi suất
- Rủi ro tín dụng
- Rủi ro ngoại hối
NguyÔn Huy Toµn 13 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
- Rủi ro thanh khoản
- Các loại rủi ro khác.
Thanh toán quốc tế là nghiệp vụ ngoại bảng quan trọng nhất của các Ngân
hàng thương mại. Rủi ro trong thanh toán quốc tế là những rủi ro phát sinh trong
quá trình thực hiện TTQT liên quan đến các giao dịch quốc tế, nguyên nhân phát
sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia thanh toán như: nhà xuất khẩu, nhà nhập
khẩu, các Ngân hàng, các tác nhân trung gian… hoặc do các nhân tố khách quan
khác gây nên như thiên tai, chiến tranh, chính trị… Vì phạm vi hoạt động lớn, có
nhiều bên tham gia nên rủi ro trong hoạt động TTQT xuất hiện tại nhiều thời
điểm, gây thiệt hại cho các bên nói chung và cho hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng nói riêng.
1.2.2. Rủi ro trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ và nguyên nhân
của rủi ro
Có thể nói rằng, tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng rộng
rãi nhất hiện nay trong Thanh toán quốc tế với những ưu thế của nó so với các
phương thức khác. Để điều chỉnh phương thức này, Phòng thương mại quốc
tế (ICC) đã ban hành văn bản "Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng
chứng từ" nhưng việc vận hành phương thức L/C vẵn ẩn chứa nhiều nguy cơ
rủi ro cho các bên tham gia.
Rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ xảy ra khi quyền lợi của
một hay một số bên bị vi phạm. Rủi ro không chỉ là việc chứng từ không được
thanh toán mà còn là bất kỳ một khúc mắc, chậm trễ nào trong các khâu của
quá trình thanh toán.
Các loại rủi ro thường gặp khi áp dụng phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ:
1.2.2.1. Rủi ro tín dụng
Đây là rủi ro mất khả năng thanh toán của một trong các bên tham gia
NguyÔn Huy Toµn 14 Th¬ng m¹i Quèc tÕ 45
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét