nhận bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng được bảo
lãnh. Còn việc pháp luật quy định khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức
tín dụng số tiền đã được trả thay có vẻ như chỉ là hệ quả tất yếu của việc tổ chức tín
dụng đã làm nghĩa vụ thay khách hàng đối với bên nhận bảo lãnh. Có thể cho rằng
quan niệm như vậy là không hợp lý, bởi mục đích và động cơ của tổ chức tín dụng
khi thực hiện hành vi bảo lãnh cho khách hàng là nhằm mục tiêu thu lợi nhuận và
nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh. Vì thế khó có thể tưởng tượng được rằng tổ
chức tín dụng lại sẵn sàng phát hành cam kết bảo lãnh vì quyền lợi của khách hàng
mà không hề dựa trên việc kí kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ bảo lãnh giữa họ
với khách hành.
Thứ sáu, theo thông lệ quốc tế, bảo lãnh ngân hàng là giao dịch không thể
đơn phương hủy ngang bởi những người đại diện có thẩm quyền của tổ chức tín
dụng bảo lãnh. Đặc điểm này không chỉ được ghi nhận trong Quy tắc thực hành tín
dụng dự phòng quốc tế: “…cam kết không hủy ngang, độc lập, kèm chứng từ và
ràng buộc khi phát hành…” (Quy tắc 1.06) mà còn được công nhận bởi pháp luật
quốc gia của nhiều nước trên thế giới về bảo lãnh ngân hàng. Tuy nhiên, đặc điểm
này chưa được phản ánh trong pháp luật thực định Việt Nam về bảo lãnh nói chung
và bảo lãnh ngân hàng nói riêng, khiến cho chế định về bảo lãnh ngân hàng trong
pháp luật Việt Nam thiếu sự tương đồng với chế định về bảo lãnh ngân hàng trong
pháp luật các nước cũng như pháp luật quốc tế, tập quán và thông lệ quốc tế về bảo
lãnh ngân hàng.
II. Nội dung cơ bản về quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể trong bảo
lãnh ngân hàng
Việc xem xét quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo lãnh sẽ rất có
ý nghĩa để có thể hiểu rõ hơn bản chất của bảo lãnh ngân hàng. Trong quan hệ bảo
lãnh, tồn tại ít nhất ba chủ thể tham gia. Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đã được
5
pháp luật của nước ta quy định cụ thể. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày về quyền và
nghĩa vụ của từng chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh ngân hàng:
1. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng bảo lãnh
Trong quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh với khách hàng sử dụng dịch vụ
bảo lãnh TCTD với tư cách là bên cung ứng dich vụ bảo lãnh nên quyền hạn của
TCTD được Luật TCTD quy định tại khoản 1 Điều 59 gồm:
a) Yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu về khả năng tài chính và những
tài liệu liên quan đến giao dịch được bảo lãnh;
b) Yêu cầu khách hàng phải có bảo đảm cho việc bảo lãnh của mình;
c) Thu phí dịch vụ bảo lãnh theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;
d) Kiểm soát việc thực hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh;
đ) Từ chối bảo lãnh đối với các khách hàng không đủ uy tín.
e) Hạch toán ghi nợ và yêu cầu khách hàng hoặc bên bảo lãnh đối ứng hoàn
trả số tiền mà bên bảo lãnh đã trả thay.
Cơ sở của những quy định về quyền hạn TCTD trong bảo lãnh xuất phát
từ việc thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ. Theo thỏa thuận thì TCTD phải phát
hành thư bảo lãnh để gửi cho bên nhận bảo lãnh vì quyền lợi của khách hàng được
bảo lãnh. Trơng trường hợp này TCTD là người thực hiện công việc dịch vụ nên
đương nhiên TCTD phải yêu cầu bên hưởng dịch vụ thanh toán phí dịch vụ bảo
lãnh cho mình. Đây là điều đương nhiên trong bảo lãnh ngân hàng nói riêng các các
dịch vụ khác nói chung.
Việc quy định TCTD có quyền kiểm soát việc thực hiện nghĩa vụ của
người bảo lãnh xuất phát từ việc TCTD đã phải đem cả uy tín và tài sản của mình
để phục vụ quyền lợi cho khách hàng được bảo lãnh, nên họ có quyền được bảo hộ
như chủ nợ trong dân sự.
6
Mỗi quyền hạn mà pháp luật trao cho TCTD đề có mục đích riềng. Trong
đó việc quy định quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu, thông tin về khả năng
tài chính và những tài liệu khác liên quan đến nghĩa vụ bảo lãnh nhằm mục đích
đảm bảo an toàn về phương diện quyền lợi cho TCTD, đảm bảo cho sự an toàn của
hoạt động kinh doanh ngân hàng trong nền kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm
hợp đồng cho bên khách hàng đề nghị bảo lãnh.
TCTD có quyền yêu cầu khách hàng phải có bảo đảm cho việc bảo lãnh
của mình nhằm mục đích đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho TCTD.Việc quy
định quyền từ chối bảo lãnh đối với khách hàng không đủ điều kiện bảo lãnh nhằm
đảm bảo nguyên tắc quyền tự do kinh doanh của TCTD và nâng cao tính tự chịu
trách nhiệm của TCTD trong hoạt động kinh doanh trên thường trường.
Theo quy định của khoản 2 Điều 59 Luật TCTD thì TCTD có nghĩa vụ
sau:“ TCTD thực hiện bảo lãnh có nghĩa vụ thực hiện cam kết đối với người nhân
bảo lãnh khi được người bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ” Việc quy định này có tác dụng đảm bảo quyền lợi cho khách hàng sử
dụng dịch vụ bảo lãnh và đề cao tính kỉ luật hợp đồng cho các bên tham gia giao
dịch.
Ngoài ra TCTD còn có nghĩa vụ phát hành thư bảo lãnh gửi cho bên nhận
bảo lãnh. Đây là nghĩa vụ cơ bản của TCTD cung ứng dịch vụ bảo lãnh đối với
khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh. Nghĩa vụ này tạo nên niềm tin đối với khách
hàng bảo lãnh khi tham gia hợp đồng bảo lãnh. Và chỉ khi nào TCTD thực hiện
xong nghĩa vụ này thì họ mới có quyền yêu cầu bên hưởng dịch vụ bảo lãnh thanh
toán phí dịch vụ.
2. Quyền và nghĩa vụ của khách hàng được bảo lãnh.
Trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng, khách hàng được bảo lãnh có tư cách
pháp lí là người hưởng dich vụ bảo lãnh, theo đó khách hàng được bảo lãnh sẽ có
quyền hạn hẹp hơn so với TCTD.
7
Theo đó khách hàng được bảo lãnh có quyền yêu cầu bên cung ứng dịch
vụ bảo lãnh phải phát hành thư bảo lãnh hoặc hợp đồng bảo lãnh với bên có quyền
vì quyền lợi của mình và thực hiện nghĩa vụ thay mình vơi tư cách là người bảo
lãnh. Việc quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho khách hàng khi tham gia kí kết
hợp đồng bảo lãnh và đảm bảo sự công bằng của pháp luật giữa các chủ thể trong
hợp đồng bảo lãnh.
Điều 60 Luật TCTC quy định về nghĩa vụ của bên khách hàng được bảo
lãnh như sau:
1.Cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin và tài liệu liên quan đến việc
bảo lãnh theo yêu cầu của tổ chức tín dụng thực hiện bảo lãnh;
2. Thực hiện đúng cam kết của mình đối với người nhận bảo lãnh và tổ chức tín
dụng thực hiện bảo lãnh;
3. Chịu sự kiểm soát của tổ chức tín dụng thực hiện bảo lãnh đối với mọi hoạt
động liên quan đến nghĩa vụ được bảo lãnh;
4. Nhận nợ và hoàn trả gốc, lợi cùng chi phí phát sinh mà tổ chức tín dụng
thực hiện bảo lãnh để trả thay theo cam kết bảo lãnh.
5. Thanh toán đúng và đầy đủ hạn phí bảo lãnh cho TCTD theo thỏa
thuận
Như vậy, quyền của người được bảo lãnh nhìn chung tương ứng với nghĩa
vụ của người được bảo lãnh.
3. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh
Người nhận bảo lãnh có hai loại quyền cơ bản là yêu cầu người được bảo
lãnh thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trong trường
hợp người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ. Xét ở góc độ quan hệ hợp động
bảo lãnh thì quyền chính của người nhận bảo lãnh là yêu cầu người bảo lãnh thực
hiện nghĩa vụ. Nếu có nhiều người bảo lãnh liên đới cho món nợ thì người nhận bảo
lãnh có quyền yêu cầu một trong số những người đó thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.
8
Mặt khác nếu nhiều người bảo lãnh theo phần cho món nợ thì người nhận bảo lãnh
chỉ có thể yêu cầu từng người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đã căm kết của họ. Ngoài
ra, việc thực hiện quyền yêu cầu này nhình chung phải ở thời điểm nghĩa vụ đến
hạn.
Trường hợp người bảo lãnh đảm bảo bằng tài sản cụ thể, để đảm bảo khả
năng thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh, người nhận bảo lãnh còn có quyền
kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm hoặc bảo vệ tài sản như người nhận cầm cố, thế
chấp.
Nghĩa vụ của người nhận bảo lãnh liên quan đến việc giữ tài sản hoặc giấy
tờ tài sản bảo đảm và việc giải tỏa bảo đảm khi người bảo lãnh đã thực hiện xong
nghĩa vụ. Cụ thể là nếu người nhận bảo lãnh giữ tài sản hoặc giấy tờ sở hữu tài sản
của người bảo lãnh thì phải có trách nhiệm bảo quản và trả lại tài sản đó khi nghĩa
vụ bảo lãnh chấm dứt hoặc theo thỏa thuận.
III. Ý nghĩa của việc quy định các quyền, nghĩa vụ bảo lãnh ngân hàng
Hiện nay, bảo lãnh ngân hàng đã phát triển rộng rãi trên các lĩnh vực. Có
thể khẳng định rằng những thương vụ có giá trị lớn về mặt tài chính và phức tạp về
mặt kỹ thuật, đặc biệt là đối với những đối tác nước ngoài tham gia thì không thể
không có một hình thức bảo lãnh đi kèm. Bảo lãnh ngân hàng không chỉ hỗ trợ cho
các hợp đồng thương mại mà cả các giao dịch phi thương mại, tài chính cũng như
phi tài chính. Việc quy định rõ quyền hạn cho các chủ thể trong bảo lãnh ngân hàng
có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp nói riêng và nề kinh tế nói chung.
1. Ý nghĩa của bảo lãnh ngân hàng đối với nền kinh tế
Trong hoạt động ngân hàng hiện đại và kinh doanh ngày nay, nghiệp vụ
bảo lãnh ngày càng đóng vai trò quan trọng. Trên thế giới, hoạt động bảo lãnh đã
tồn phát triển rất lâu đời, trong khi đó, tại Việt Nam dịch vụ này vẫn còn khá mới
mẻ và đang trên đà phát triển. Đối với khách hàng, bảo lãnh đem lại cơ hội kinh
doanh, sự trợ giúp về mặt tài chính trong cả các lĩnh vực sản xuất, tiêu dùng, hay
9
kinh doanh. Các ngân hàng tại Việt Nam ngày càng ý thức được tầm quan trọng của
bảo lãnh đối với khách hàng và xu thế phát triển tất yếu của ngân hàng hiện đại.
Trong nền kinh tế thị trường, bảo lãnh ngân hàng luôn được xem như tấm
Giấy thông hành cho doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán trả chậm. Việc này
không những tạo thuận lợi cho kế hoạch của bạn mà các đối tác kinh doanh cũng sẽ
có cơ sở để tin tưởng doanh nghiệp của bạn hơn.
Với vai trò như vậy, bảo lãnh đã trở thành loại dịch vụ kinh doanh có
nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh
doanh không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp đồng,
bảo đảm chất lượng sản phẩm…
Hiện nay, với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì mặc dù phải đối đầu với
nhiều rủi ro nhưng nếu không nắm bắt một cách kịp thời các cơ hội kinh doanh, các
doanh nghiệp và cá nhân khó có thể cạnh tranh và tồn tại được. Bảo lãnh ngân hàng
đã và đang mang lại rất nhiều lợi ích cho bên được bảo lãnh như: Nhờ có công cụ
bảo lãnh ngân hàng mà các nhà kinh doanh mới có cơ hội tiếp cận với các nguồn
vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng hoặc có cơ hội nhập khẩu các hàng hóa dịch
vụ từ nước ngoài một cách dễ dàng và thuận lợi với sự bảo lãnh của các ngân hàng
bảo lãnh.
Hơn thế nữa, nhờ có bảo lãnh ngân hàng mà bên được bảo lãnh có thể
giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh trong trường hợp hai bên bán và bên mua không
biết nhau, tiết kiệm thời gian, chi phí cho các bên liên quan. Bên được bảo lãnh
không phải thanh toán ngay cho bên đối tác vì đã có bảo lãnh của ngân hàng do đó
có cơ hội trì hoãn việc thanh toán và làm tăng tài sản lưu thông hiện có góp phần
hạn chế sử dụng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp, hạn chế việc sử dụng tiền
mặt. Việc này không những tạo thuận lợi cho kế hoạch kinh doanh của bên được
bảo lãnh mà các đối tác kinh doanh cũng sẽ có cơ sở để tin tưởng vào khả năng của
bên được bảo lãnh hơn. Do đó, bảo lãnh ngân hàng giúp các doanh nghiệp có thể ký
10
kết và thực hiện hợp đồng ngay cả khi chưa đủ uy tín và lòng tin đối với bên đối
tác. Bảo lãnh ngân hàng cũng giúp các doanh nghiệp nhận được nguồn tài trợ từ đối
tác (đối với bảo lãnh tiền ứng trước) hoặc từ các tổ chứac tín dụng khác (bảo lãnh
vay vốn) lúc đó sẽ giúp các doanh nghiệp có đủ khả năng tài chính để thực hiện hợp
đồng, tham gia giao dịch và ký kết hợp đồng
Bảo lãnh ngân hàng là loại hình dịch vụ ngân hàng tồn tại khách quan đáp
ứng cho nhu cầu một nề kinh tế ngày càng phát triển. Sự quy định rõ ràng về quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể trong bảo lãnh ngân hàng chính là một điều kiện khách
quan để phát triển nền kinh tế xét trong các mặt sau:
- Bảo lãnh ngân hàng chính là chất xúc tác làm điều hòa và xúc tiến hàng
loạt các quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể có liên quan trong nền kinh tế mở hiện
nay. Nhờ có bảo lãnh ngân hàng mà các bên yên tâm tham gia ký kết đối hợp đồng
và có trách nhiệm đối với các nghĩa vụ mà mình đã ký kết. Bảo lãnh ngân hàng
cũng đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia (quyền lợi của các chủ thể) và như
vậy là mang lại lợi ích cho nền kinh tế nói chung.
- Khi các bên tham gia vào quan hệ bảo lãnh chính là một cách để thu hút
vốn đầu tư trong và ngoài nước. Đối với nền kinh tế đang phát triển như nứớc ta
hiện nay thì vốn là vô cùng cần thiết. Nhưng hầu hết các doanh nghiệp chưa đủ uy
tín và đột tin cậy đối với các đối tác cho vay nước ngoài. Nhờ có uy tín của ngân
hàng mà bảo lãnh trở thành một cách thức tiếp cận tới các nguồn vốn nước ngoài
(nguồn vốn nước ngoài thường có thời hạn dài và lãi suất tương đối thấp). Nguồn
vốn này thường tập trung cho sản xuất tạo điều kiện cho doanh nghiệp mau sắm
máy móc, thiết bị đổi mới công nghệ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Sản xuất phát triển kéo theo lợi ích kinh tế xã hội tăng lên như: giảm thất nghiệp,
tăng tổng sản phẩm quốc dân, tăng vị thế hàng Việt Nam trên thị trường quốc
tế qua đó góp phần tăng cường mối quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc
gia.
11
- Bảo lãnh ngân hàng còn tác động đến chiến lược phát triển của nền
kinh tế. Bảo lãnh ngân hàng thúc đẩy các ngành kinh tế mũi nhọn và các khu vực
trọng điểm phát triển. Việc quy định các quyền lợi của các chủ thể khi tham gia bảo
lãnh đặc biệt là chủ thể được bảo lãnh về việc ưu tiên bảo lãnh vay vốn và các bảo
lãnh khác làm ngành được ưu đãi phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Ngoài ra
các chủ thể bảo lãnh còn bảo lãnh cho các ngành kinh tế kém phát triển qua việc ưu
đãi về tỷ lệ phí bảo lãnh bảo đảm cho các doanh nghiệp này có khả năng đứng vững
trên thị trường.
- Việc quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể còn đảm bảo sự lành
mạnh trong kinh doanh. Nhờ đó các doanh nghiệp yên tâm hơn khi thực hiện hợp
đồng và hơn nữa thhúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện hợp đồng một cách nhanh
chóng và có hiệu quả, trên cơ sở đó giảm các rủi ro đối với các doanh nghiệp nói
riêng và với nền kinh tế nói chung. Từ đó tác động tới sự phát triển của nền kinh tế
qua việc tăng cường chế độ hoạch toán kinh doanh.
2. Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong
bảo lãnh ngân hàng.
* Đối với bên bảo lãnh
Việc quy định quyền của bên tổ chức tín dụng có ý nghĩa quan trọng trong
việc đảm bảo an toàn về phương diện quyền lợi cho tổ chức tín dụng chính là nhằm
mục đích đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho tổ chức tín dụng thực hiện bảo
lãnh, đồng thời cũng nhằm mục đích bảo đảm an toàn cho hoạt động kinh doanh
của ngân hàng trong nền kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm hợp đồng cho bên
khách hàng đề nghị bảo lãnh.
Việc trao quyền năng này đã giúp cho tổ chức tín dụng bảo lãnh có
phương diện pháp lý để tự bảo vệ mình khi tham gia quan hệ hợp đồng cấp bảo
lãnh. Khi có các quy định này, hoạt động của các tổ chức tín dụng bảo lãnh sẽ trở
nên dễ dàng hơn, thuận tiện cho công tác nghiệp vụ hơn.
12
Ngoài ra việc trao các quyền năng như trên đã góp phần đảm bảo nguyên
tắc tự do trong kinh doanh của tổ chức tín dụng, đồng thời đề cao tính tự chịu trách
nhiệm của tổ chức tín dụng trong hoạt động kinh doanh trên thương trường đòi hỏi
bên bảo lãnh không những phải có khả năng tài chính mạnh để thực hiện tốt nghĩa
vụ cho bên được bảo lãnh mà còn đòi hỏi bên bảo lãnh phải có khả năng, trình độ
chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ và kinh doanh trên thương trường để thực hiện laọi
hoạt động bảo lãnh đặc thù này.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định các nghĩa vụ cho bên tổ chức tín
dụng cấp bảo lãnh, việc quy định này có ý nghĩa đảm bảo cho quyền lợi của khách
hàng bảo lãnh và đề cao tính kỹ luật hợp đồng cho các bên tham gia giao dịch.
Việc quy định nghĩa vụ của bên bảo lãnh sẽ là yếu tố quan trọng để đảm
bảo quyền và các lợi ích chính đáng cho bên nhận bảo lãnh, khi bên được bảo lãnh
không có khả năng để thanh toán khoản nợ đối với bên nhận bảo lãnh thì đây chính
là cơ sở để bên nhận bảo lãnh có thể yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện các nghĩa vụ đã
cam kết.
* Đối với khách hàng được bảo lãnh (bên được bảo lãnh)
Pháp luật quy định bên được bảo lãnh có quyền yêu cầu bên cung ứng
dịch vụ bảo lãnh phải phát hành thư bảo lãnh hoặc ký hợp đồng bảo lãnh với bên có
quyền. Việc quy định này có ý nghĩa ràng buộc về trách nhiệm đối với bên bảo lãnh
đối nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của bện được bảo lãnh.
Pháp luật cũng quy định rõ ràng các nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.
Việc quy định các nghĩa vụ này nhằm đảm bảo sự an toàn về quyền lợi cho tổ chức
tín dụng khi họ chấp thuận đóng vai trò là người bảo lãnh. Khi bên được bảo lãnh
thực hiện các cam kết trong hợp đồng chính là việc đáp ứng quyền và lợi ích cho
bên bảo lãnh. Với chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng thì bảo lãnh thúc đẩy
các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc hơn, có trách nhiệm hơn và thực hiện hợp
đồng đúng quy định hơn. Mặt khác đối với các doanh nghiệp khi được ngân hàng
13
bảo lãnh thì phải chịu chi phí bảo lãnh, đó là một kỏan chi phí của doanh nghiệp do
đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn
một cách tối đa từ đó sẽ nâng cao hiệu quả haọt động chung của doanh nghiệp, tăng
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Đối với bên nhận bảo lãnh
Ngày nay, bảo lãnh ngân hàng ngày càng trở nên mạnh mẽ và được chủ
thể kinh doanh sử dụng rất phổ biến như một dịch vụ tài chính quan trọng nhằm bảo
đảm khả năng xác lập và thực hiện các giao dịch của mình trong kinh doanh.
Tương tự như đối với bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh, việc quy định
quyền đối với bên nhận bảo lãnh cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm
quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể này. Ngay cả khi có sự vi phạm nghĩa vụ
của bên được bảo lãnh với bên bảo lãnh thì bên bảo lãnh cũng không thể vì thế mà
có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh.
Việc quy định quyền này chính là cơ sở pháp lý để yêu cầu bên bảo lãnh
và bên nhận bảo lãnh thực hiện các nghĩa vụ của mình.
Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định bên nhận bảo lãnh phải chứng minh
quyền chủ nợ của mình, việc quy định như vậy đã loại trừ trường hợp việc yêu cầu
thực hiện nghĩa vụ đối với bên được bảo lãnh và bên được bảo lãnh mà không có
căn cứ pháp luật.
3. Ý nghĩa đối với hoạt động quản lý nhà nước:
Trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay ở nước ta, thì
bảo lãnh ngân hàng luôn được xem như tấm Giấy thông hành cho các tổ chức, cá
nhân trong các hoạt động mua bán, thương mại trả chậm. Hoạt động bảo lãnh ngân
hàng đang dần trở nên phổ biến trong cơ chế nền kinh tế hiện nay. Bên cạnh những
lợi ích của nó mang lại thì cũng không ít khó khăn đối với công tác quản lý. Việc
quy định rõ ràng các quyền và nghĩa vụ của các bên giúp cho hoạt động quản lý của
các cơ quan nhà nước được dễ dàng hơn.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét