Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

nâng cao hiệu quả hoạt động phát hiện, thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng

- 5 -
+ Về thời gian: Tập trung nghiên cứu số liệu khảo sát tại địa phơng trong
thời gian 5 năm, từ năm 2002 - 2006.
5. Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp luận: Đề tài đợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phơng pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, T tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và
Nhà nớc ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm; về luật học, tội phạm học và
điều tra tội phạm.
- Phơng pháp nghiên cứu cụ thể: Đề tài sử dụng các phơng pháp nghiên
cứu cụ thể gồm: Phơng pháp nghiên cứu tài liệu; Phơng pháp thống kê, so sánh;
Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm; Phơng pháp điều tra điển hình; Phơng pháp
phân tích, tổng hợp; Phơng pháp tọa đàm, lấy ý kiến chuyên gia.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn
- ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện về mặt lý luận,
làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo giảng dạy trong các trờng CAND.
- ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao
nhận thức và quy trình, biện pháp công tác đối với cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh
Bình Dơng nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện, thu thập, bảo quản và xử lý vật
chứng trong trong điều tra vụ án cớp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dơng và
có thể tham khảo cho Công an các đơn vị, địa phơng trong toàn quốc.
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục
đề tài đợc cấu trúc thành 03 chơng.
- 6 -
Chơng 1. Nhận thức chung về tội phạm cớp giật tài sản và hoạt động phát
hiện, thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điều tra các vụ án cớp giật tài
sản.
Chơng 2. Thực trạng Tình hình tội phạm cớp giật tài sản và hoạt động
phát hiện, thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điều tra các vụ án cớp
giật tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dơng.
Chơng 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát hiện, thu thập, bảo
quản và xử lý vật chứng trong điều tra vụ án cớp giật tài sản trên địa bàn tỉnh
Bình Dơng
Chơng 1
Nhận thức chung về tội phạm cớp giật tài sản và
hoạt động phát hiện, thu thập, bảo quản và xử lý
- 7 -
vật chứng trong điều tra vụ án cớp giật tài sản
1.1. Nhận thức chung về tội phạm cớp giật tài sản
1.1.1. Khái niệm tội phạm cớp giật tài sản
Tội phạm cớp giật tài sản đợc quy định tại Điều 136 Bộ luật Hình sự n-
ớc Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1999 nh sau:
1. Ngời nào cớp giật tài sản của ngời khác thì bị phạt tù từ một năm
đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba
năm đến mời năm:
a/ Có tổ chức;
b/ Có tính cất chuyên nghiệp;
c/ Tái phạm nguy hiểm;
d/ Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ/ Hành hung để tẩu thoát;
e/ Gây thơng tích và tổn hại cho sức khoẻ của ngời khác mà tỷ lệ thơng
tật từ 11% đến 30%;
g/ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mơi triệu đồng đến dới hai trăm
triệu đồng;
h/ Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội một trong các trờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm
đến mời lăm năm:
a/ Gây thơng tích và tổn hại cho sức khoẻ của ngời khác mà tỷ lệ thơng
tật từ 31% đến 60%;
- 8 -
b/ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dới năm trăm
triệu đồng;
c/ Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mời
hai năm đến hai mời năm hoặc tù chung thân:
a/ Gây thơng tích và tổn hại cho sức khoẻ của ngời khác mà tỷ lệ thơng
tật từ 61% trở lên hoặc làm chết ngời;
b/ Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
c/ Gây hiệu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Ngời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mời triệu đồng đến một trăm
triệu đồng. [4, tr 92-94]
Trong điều luật không mô tả hành vi cớp giật tài sản đợc thực hiện nh
thế nào, nhng căn cứ vào lý luận và thực tiễn điều tra và xét xử thì cớp giật tài
sản đợc hiểu là hành vi công khai, nhanh chóng giật lấy tài sản trên ngời của
ngời khác hoặc đang trong sự quản lý của ngời có trách nhiệm quản lý đối với
tài sản đó rồi nhanh chóng tẩu thoát mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực hoặc bất cứ thủ đọan nào nhằm uy hiếm tinh thần của ngời quản lý tài
sản. Nh vậy, có thể rút ra định nghĩa tội phạm cớp giật tài sản nh sau: Cớp giật
tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của ngời khác một cách công
khai rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tội phạm cớp giật tài sản có các đặc điểm
pháp lý nh sau:
* Khách thể của tội phạm: Tội phạm cớp giật tài sản xâm hại trực tiếp
đến quyền sở hữu tài sản của ngời khác đợc luật hình sự bảo vệ, mặt khác
trong nhiều trờng hợp các vụ cớp giật tài sản đã gây ra nhhững hậu quả
nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của ngời bị hại nh các vụ cớp giật tài
sản của ngời đang điều khiển xe môtô làm cho họ ngã xe gây thơng tích, rất
nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của họ. Mặc dù những hiệt hại về tính
- 9 -
mạng, sức khỏe không phải là đối tợng mà ngời phạm cớp giật tài sản nhằm
vào, nhng trớc khi thực hiện hành vi cớp giật tài sản ngời phạm tội nhận thức
đợc tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu quả nguy hiểm của hành vi nhng
vẫn thực hiện, muốn ra sao thì ra. Do vậy Bộ luật Hình sự năm 1999 đa vào
trong cấu thành tội phạm dấu hiệu về thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của
ngới khác và coi đây là những tình tiết định khung hình phạt. Nh vậy khách
thể của tội phạm cớp giật tài sản cùng một lúc xâm hại đến hai khách thể là
quan hệ sở hữu và quan hệ nhân nhân, nhng chủ yếu là xâm hại quan hệ sở
hữu về tài sản của ngời khác .
*Mặt khách quan của tội phạm: Có các dấu hiệu sau:
- Hành vi giật tài sản một cách công khai: Đây là hành vi đặc trng của
tội phạm cớp giật tài sản, thể hiện là giằng mạnh lấy tài sản về mình một cách
nhanh chóng, tức thì. Hành vị giật tài sản nhanh chóng đã tạo ra yếu tố bất ngờ
đối với ngới đang quản lý tài sản làm cho ngời này không kịp phản ứng giữ lại
đợc tài sản đang quản lý. Ví dụ: A nhìn thấy chị B đeo sợi dây chuyền vàng
trên cổ đang điều khiển xe môtô trên đờng, nên A cho xe của mình chạy vợt
lên kè sát bất ngờ dung tay giật sợi dây chuyền của chị B rồi phóng xe rất
nhanh tẩu thoát, hành vi giật tài sản của A đợc thực hiện một cách nhanh
chóng, bất ngờ làm cho chị B bị bất ngờ, không kịp phản ứng giữ lại tài sản mà
chỉ có thể kêu cớp, cớp mà thôi. Để giật đợc tài sản, ngời phạm tội lợi dụng
sơ hở của ngời quản lý tài sản để nhanh chóng tiếp cận tài sản nhanh chóng
giật lấy tài sản. Sơ hở của ngời quản lý tài sản có thể do ngời quản lý tài sản
vô tình tạo ra sơ hở (nh đeo dây chuyền lộ ra rên cổ, túi sách để ở giỏ xe
không ràng buộc chắc chắn) hoặc chính ngời phạm tội tìm cách tạo ra sơ hở
của ngời quản lý tài sản (nh giả vờ tiếp cận hỏi thăm chuyện với ngời quản lý
tài sản, vào của hàng giả vờ xem mua tài sản) để làm cho ngời quản lý tài
sản sơ hở từ đó ngời phạm tội nhanh chóng giật lấy tài sản về mình.
- 10 -
Ngời phạm tội thực hiện hành vi giật tài sản một cách công khai, tức là
tức là hoàn toàn không có ý thức che giấu hành vi của mình đối với ngời quản
lý tài sản và ngời khác, trớc, trong hoặc ngay sau khi bị mất tài sản ngời quản
lý tài sản biết ngay ngời giật tài sản của mình. Đây cũng là một dấu hiệu đặc
trng để phân biệt với các trờng hợp phạm tội khác nh hành vi trộm cắp, lừa đảo
chiếm đoạt tài sản không có tính công khai, trắng trợn. Ngời phạm tội có ý
thức làm sao nhanh chóng giật đợc tài sản mà không có ý thức hay hành vi
dùng vũ lực hay uy hiếp tinh thần ngay tức khắc đối với nạn nhân để chiếm
đoạt tài sản.
- Hành vi nhanh chóng tẩu thoát: Sau khi lợi dụng sơ hở của ngời quản
lý tài sản để nhanh chóng tiếp cận và giật tài sản một cách công khai sẽ bị ng-
ời bị hại truy hô lên cho nhiều ngời xung quanh biết và đuổi bắt, nên ngời
phạm tội có ý thức là sau khi giật đợc tài sản phải bỏ chạy một cách nhanh
nhất, trốn tránh đợc sự truy bắt của ngời quản lý tài sản hoặc ngời dân xung
quanh. Nhanh chóng tẩu thóat là dấu hiệu phản ánh thủ đoạn của ngời phạm
tội cớp giật tài sản, dấu hiệu này để phân biệt với trờng hợp phạm tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản.
Nhiều trờng hợp ngời phạm tội lúc đầu chỉ có ý định cớp giật tài sản nh-
ng trog quá trình thực hiện hành vi bị ngời quản lý tài sản chống cự giữ lấy
hoặc giằng lấy lại tài sản, ngời phạm tội đã có hành vi dung vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt bằng đợc tài sản thì hành vi
phạm tội không còn là hành vi cớp giật tài sản mà hành vi này đã là hành vi c-
ớp tài sản (đây là sự chuyển hóa từ tội phạm này sang tội phạm cớp tài sản)
Do đặc trng là nhanh chóng giật tài sản, nhanh chóng tẩu thoát nên đối
tợng của tội phạm cớp giật tài sản thờng là những tài sản gọn nhẹ, có giá trị,
dễ giật lấy và dễ mang đi khi tẩu thoát nh: Túi sách, dây chuyền, bông tai,
đồng hồ. Tuy nhiên cũng có trờng hợp ngời phạm tội cớp giật tài sản cả
những tài sản kồng kền nh: Xe môtô, xe đạp nhng tài sản này cũng dể mang đi
- 11 -
vì sau khi giật đợc loại tài sản này thì ngời phạm tội lại dùng ngay hừng tài
sản giật đợc làm phơng tiện tẩu thoát.
- Hậu quả của tội phạm cớp giật tài sản trớc hết là những thiệt hại về tài
sản, ngoài ra còn có những thiệt hại về tính mạng sức khỏe hoặc những thiệt
hại khác. Tuy điều luật không quy định, nhng về mặt lý luận tội phạm cớp giật
tài sản có cầu thành vật chất, do đó chỉ khi đã cớp giật đợc tài sản thì tội phạm
cớp giật tài sản mới hoàn thành, nếu có hành vi giật nhng cha giật đợc tài sản
thì thuộc trờng hợp phạm tội cha đạt. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt không phải
là hấu hiệu cấu thành tội phạm cớp giật tài sản nh đối với tội trộm cắp, tội
công nhiên chiếm đoạt, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnDo đó ngời phạm tội
cớp giật tài sản có giá trị lớn hay giá trị rất nhỏ vẫn là phạm tội cớp giật tài
sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt và các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc
các thiệt hại khác chỉ là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt thuộc các
Khoản 2, Khoản 3 hoặc Khoản 4, Điều 136 Bộ luật hình sự.
*Mặt chủ quan: Tội phạm đợc thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp với động
cơ, mục đích vụ lợi, ngời phạm tội nhận thức đợc tính chất nguy hiểm của
hành vi, thấy trớc hậu quả do mình gây ra và mong muốn cho hậu quả xảy ra.
* Chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự
và từ đủ 16 tuổi (khoản 1) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 2, 3 và 4 ).
- Hình phạt đối với tội cớp giật tài sản :
+ Khoản 1: Đây là khung cấu thành cơ bản có mức hình phạt từ 1 năm
đến 5 năm (thuộc tội phạm nghiêm trọng).
+ Khoản 2: Đây là khung có những tình tiết tăng nặng có mức hình phạt
từ 3 năm đến 10 năm (thuộc tội phạm rất nghiêm trọng) khi có một trong tám
trờng hợp sau:
Một là, có tổ chức: Cớp giật tài sản có tổ chức là trờng hợp có sự câu
kết chặt chẽ giữa những ngời cùng thực hiện tội phạm, trong đó có ngời tổ
- 12 -
chức, ngời thực hành, ngời xúi giục, ngời giúp sức. Tình tiết này đợc thể hiện
ở những mức độ nguy hiểm khác nhau tuỳ theo quy mô tổ chức và phạm vi
hoạt động. Nếu tình tiết này đồng thời lại mang dấu hiệu của một tội phạm
khác thì tuỳ tính chất của hành vi phạm tội mà có thể xử thêm tội đó theo
nguyên tắc phạm nhiều tội nh trờng hợp cớp giật tài sản và sử dụng trái
phép vũ khí quân dụng, cớp giật tài sản và cố ý gây thơng tích
Hai là, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Phạm tội cớp giật tài sản
có tính chất chuyên nghiệp là những trờng hợp phạm tội có tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội rất cao thể hiện ngời phạm tội thực hiện tội phạm
nhiều lần và lấy các hoạt động phạm tội làm nguồn sống chính cho mình.
Ba là, ngời phạm tội thuộc trờng hợp tái phạm nguy hiểm: Trờng hợp
này, chỉ cần xác định ngời phạm tội có đầy đủ dấu hiệu quy định tại khoản 2
Điều 49 BLHS. Đây là tình tiết thuộc về nhân thân ngời phạm tội, không phụ
thuộc vào hành vi phạm tội cụ thể của tội phạm này hay tội phạm khác.
Bốn là, dùng thủ đoạn nguy hiểm: Dùng thủ đoạn nguy hiểm để thực
hiện hành vi cớp giật tài sản là trờng hợp ngời phạm tội đã có những thủ đoạn
gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân nh dùng xe máy giật
dây chuyền của ngời đang điều khiển xe gắn máy hoặc xe đạp, hoặc ngời ngồi
sau xe máy hoặc xe đạp làm cho nạn nhân bị ngã
Năm là, hành hung để tẩu thoát: Đây là trờng hợp sau khi giật đợc tài
sản, ngời phạm tội bị đuổi bắt hoặc đã bị bắt đã có hành vi dùng vũ lực sức
mạnh chống lại việc bắt giữ của ngời quản lý tài sản hoặc ngời khác để tẩu
thoát. Việc chống trả này không đòi hỏi có gây thơng tích đáng kể không, mục
đích chống trả là nhằm tẩu thoát. Nếu dùng vũ lực chống lại ngời quản lý tài
sản hoặc ngời khác nhằm để chiếm đoạt bằng đợc tài sản vừa cớp giật đợc thì
đã chuyển hóa sang tội cớp tài sản.
- 13 -
Sáu là, gây thơng tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của ngời khác mà tỉ lệ
thơng tật từ 11% đến 30%: Đây là trờng hợp không chỉ do thực hiện hành vi
giật tài sản gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ngời quản lý tài
sản mà bao gồm cả trờng hợp sau khi giật đợc tài sản, ngời phạm tội có hành
vi hành hung để tẩu thoát nên đã gây thơng tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ của
ngời quản lý tài sản hoặc của ngời khác và phải có tỷ lệ từ thơng tật từ 11%
đến 30 %.
Bảy là, chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dới 200 triệu đồng:
Việc xác định giá trị tài sản là căn cứ vào giá thị trờng vào thời điểm phạm tội.
Trong trờng hợp các cơ quan tiến hành tố tụng không tự mình xác định đợc giá
trị tài sản thì phải trng cầu giám định (định giá).
Tám là, gây hậu quả nghiêm trọng: Khi xác định cần căn cứ vào các
thiệt hại về thể chất, về tài sản, phi vật chất do hành vi cớp giật tài sản gây ra.
Đây là trờng hợp do hành vi phạm tội cớp giật tài sản nên đã gây những thiệt
hại khác ngoài những thiệt hại đã đợc quy định là yếu tố định tội hoặc định
khung hình phạt. Hậu quả nghiêm trọng do hành vi cớp giật tài sản gây ra nh:
Gây thơng tích hoặc gây tổn hai sức khỏe cho nhiều ngời với tỉ lệ thơng thơng
tật mỗi ngời dới 11%, nhng tổng tỉ lệ thơng tật của tất cả những ngời này từ
11% đến 30%; gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mơi triệu đồng chó đến
duới hai trăm triệu đồng, nhng không phải là giá trị tài sản mà ngời phạm tội
cớp giật; các thiệt hại phi vật chất nh ảnh hởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn
xã hội, gây hoang mang cho nhiều ngời trên một địa bàn nhất định làm cho
nhiều ngời vì qua sợ hãi phải bỏ học, bỏ việc làm, không giám buôn bán
+ Khoản 3: Đây là khung quy định hình phạt tù từ bảy năm đến mời lăm
năm (thuộc tội phạm rất nghiêm trọng) nếu thuộc một trong ba trờng hợp: Gây
thơng tích và tổn hại cho sức khoẻ của ngời khác mà tỷ lệ thơng tật từ 31%
đến 60%; chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dới năm trăm
triệu đồng; gây hậu quả rất nghiêm trọng.
- 14 -
+ Khoản 4: Đây là khung quy định hình phạt tù từ mời hai năm đến hai
mời năm hoặc tù chung thân (thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng) nếu thuộc
một trong ba trờng hợp: Gây thơng tích và tổn hại cho sức khoẻ của ngời khác
mà tỷ lệ thơng tật từ 61% trở lên hoặc làm chết ngời; chiếm đoạt tài sản có giá
trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; gây hiệu quả đặc biệt nghiêm trọng. Các tr-
ờng hợp này cũng tơng tự nh quy định tại khoản 2 nhng ở mức độ nghiêm
trọng và nguy hiểm hơn.
1.1.2. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án cớp giật tài sản
Theo điều 63 Bộ luật TTHS quy định, những vấn đề cần phải chứng
minh trong vụ án hình sự nh sau:
1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và
những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2. Ai là ngời thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do
cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động
cơ phạm tội;
3. Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. [5,
tr 54-55]
Đối với vụ án cớp giật tài sản, căn cứ vào quy định tại Điều 63 - Bộ luật
TTHS thì cần chứng minh những vấn đề cơ bản sau đây:
- Có vụ cớp giật tài sản xảy ra hay không: Chứng minh làm rõ vấn đề này
có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì kết quả chứng minh có thể dẫn đến đình chỉ
điều tra nếu vụ án cớp giật khi trên thực tế không xảy ra. Trong giai đoạn này
Cơ quan điều tra phải khẩn trơng xác minh làm rõ có hành vi cớp giật tài sản
xảy ra hay không, hay chỉ là vụ báo cớp giật tài sản giả tạo để nhằm chiếm đoạt

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét