Quy hoạch mạng lưới đô thị
A. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI
ĐÔ THỊ .
1. Quy hoạch mạng lưới đô thị là sự tổ chức, xắp xếp không gian sống theo
đô thị và các khu vực đô thị trên cở sở điều tra, dự báo, tính toán, phân tích đặc
điểm, vai trò, nhu càu và nguồn lực củ đô thị nhằm cụ thể hóa chính sách phát
triển, giảm thiểu tác động có hại phát dinh trong quá trình đô thị hóa, tận dụng
mọi nguồn lực và hướng tới sự phát triển bền vững.
2. Phương hướng phát triển mạng lưới đô thị theo sự phê duyệt của thủ
tướng chính phủ.
- Một bản quy hoạch mạng lưới đô thị cần có sự phê duyệt của thủ tướng
chính phủ.
- Quan điểm định hướng chung: Phát triển không gian đô thị ( đầu tue, xây
dựng mới) để tận dụng mọi nguồn lực, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát
triển công nghiệp, dịch vụ để tạo sự phát triển bền vững có hiêu quả. Từ đô\ó đưa
ra các chỉ tiêu tổng hưpj dự báo…
3. Sự cần thiết phải tiến hành quy hoạch mạng lưới đô thị
Những năm gần đây, do quá trình đổi mới về kinh tế, thu hút đầu tư, tăng
trưởng nhanh, hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung và các khu công
nghiệp địa phương thu hút một lượng lớn dân cư từ các tỉnh cả nước về thủ đô
dẫn đến cở hạ tầng kỹ thuật và xã hội của Hà Nội đang quá tải, gặp nhiều khó
khăn trong đáp ứng nhu cầu về nhà ở, các công trình dịch vụ công cộng, trường
học, bệnh viện, công viên cây xanh, nơi vui chơi giải trí, giao thông, cấp thoát
nước, vệ sinh môi trường, cấp điện, nghĩa trang, bãi chôn lấp chất thải, đất phát
triển các đầu mối hạ tầng kỹ thuật, đất phát triển đô thị mới
5
Designed by Group 8_KHA
5
Quy hoạch mạng lưới đô thị
Song song đó, các tỉnh xung quanh Thủ đô đất chật người đông, bình quân diện
tích đất nông nghiệp trên đầu người thấp (503m2/người); nguồn lao động đồi dào
nhưng trình độ còn thấp, các kỳ nông nhàn thường di cư tự do ra Thủ đô làm tăng
sự di cư bất hợp pháp; hệ thống hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém; mật độ dân số cao,
kinh tế chủ đạo vẫn dựa vào nông nghiệp, tài nguyên khoáng sản nhìn chung
nghèo, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, đời sống nhân dân chỉ ở mức
dưới hoặc trung bình. Cho thấy, sự phát triển của các tỉnh xung quanh ảnh hưởng
lớn đến Thủ đô và sự phát triển của Thủ đô cũng là động lực để phát triển của các
tỉnh xung quanh.
Để có sự phát triển ổn định, hiệu quả và bền vững cho Thủ đô và các tỉnh xung
quanh thì một số vấn đề liên quan đến quy hoạch và xây dựng đô thị, đào tạo lực
lượng lao động, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng kỹ thuật và xã hội không thể giải quyết trong phạm vi từng tỉnh riêng lẻ mà
cần sự liên quan và phối hợp của toàn vùng như: các khu công nghiệp, các khu đô
thị mới, nguồn nước mặt, các bãi đỗ xe, nhà máy nước, trạm xử lý nước thải,
công viên, nghĩa trang, bãi chôn lấp rác Việc lập quy hoạch mạng lưới đô thị
thủ đô Hà nội và vung lân cận cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương
và các Bộ, ngành liên quan đồng thời phù hợp với quy hoạch xây dựng vùng Thủ
đô làm cơ sở cho việc chỉ đạo thống nhất và phát huy hiệu quả vốn đầu tư.
4.Căn cứ xác định các điểm quy hoạch
Khi tiến hành quy hoạch mạng lưới đô thị cần có các văn bản pháp lí quy định
các tiêu chuẩn về điều kiện tự nhiên,dân số; tỉ trọng công nghiệp, môi trường, kết
cấu hạ tầng … có đạt tiêu chuẩn thành phố loại 1,2,3,4,5 không
6
Designed by Group 8_KHA
6
Quy hoạch mạng lưới đô thị
B. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG, DỰ BÁO VÀ
ĐỊNH HƯỚNG CÁC NGUỒN LỰC VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT
TRIỂN
I. Đặc điểm về vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên
Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và mối quan hệ với các huyện thị trấn
tiếp giáp và với cả nước
Như chúng ta đã biết, quy hoạch tổng thể mang tính chiến lược, chỉ đạo phát triển
kinh tế xã hội trong tương lai. Và quy hoạch đô thị là bước cụ thể hoá của quy hoạch
tổng thể, chịu sự điều chỉnh của quy hoạch tổng thể. Vì vậy, ta cần xem xét vai trò,
chức năng của mạng lưới đô thị mà ta quy hoạch trong định hướng phát triển chung
cũng như trong quá trình chuyển dịch cơ cấu của cả nước. Để từ đó bố trí, sắp xếp
các đô thị thành một mạng lưới một cách hợp lý, khoa học phù hợp với mục đích
phát triển của vùng cũng như của cả nước và quốc tế.
7
Designed by Group 8_KHA
7
Quy hoạch mạng lưới đô thị
Trước hết muốn quy hoạch mạng lưới đô thị chúng ta cần biết được vị trí địa lý và
tài nguyên thiên nhiên của vùng, vì nó là điều kiện cơ bản để hình thành và phát
triển đô thị.Khi quy hoạch mạng lưới đô thị chúng ta cần phân tích dựa trên những
tiêu chí sau:
- Khu đô thị nằm ở đâu? Phía nào? Tiếp giáp với những huyện nào? Từ đó chúng
ta thấy được những điều kiện thuận lợi gì phù hợp với quy hoạch và những khó khăn
cần khắc phục cũng như mối quan hệ với các vùng lân cận.
- Trong khu đô thị có trung tâm kinh tế (thương mại) gì? Có vai trò quan trọng
như thế nào đến kinh tế của đô thị quy hoạch? Và chúng ta cần bao nhiêu trung tâm
kinh tế như vậy trong đô thị là vừa?
- Thứ hai, chúng ta cần biết được đặc điểm địa hình, khí hậu của khu đô thị.
Đánh giá địa hình khu đô thị xem có thuận lợi cho hoạt động kinh tế của người dân
hay ko? nhất là trong hướng đưa cơ giới hoá vào sản xuất và phát triển đô thị.
Đặc biệt chúng ta cần đánh giá được cấu trúc đất để lựa chọn được quy hoạch mạng
lưới đô thị phù hợp. Theo các chuyên gia lựa chọn đất đai xây dựng đô thị cần đảm
bảo các yêu cầu sau:
- Địa hình thuận lợi cho xây dựng, có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có độ dốc thích
hợp
- Địa chất công trình bảo đảm để xây dựng các công trình cao tầng ít phí tổn gia
cố nền móng. Đất không có hiện tượng trượt, hố ngầm, động đất, núi lửa.
- Khu đất xây dưng có điều kiện tự nhiên tốt, có khí hậu trong lành thuận lợi cho
việc tổ chức sản xuất và đời sống, chế độ mưa gió ôn hoà.
- Vị trí khu đất xây dựng đô thị có liên hệ thuận tiện với hệ thống đường giao
thông, đường ống kỹ thuật điện nước, hơi đốt của quốc gia hay vùng.
- Đất xây dựng đô thị cố gắng không chiếm dụng đất canh tác, đất sản xuất nông
nghiệp và tránh các khu vực có tài nguyên khoán sản, khu nguồn nước, khu khai
quật di tích cổ, các di tích lịch sử và các di sản văn hoá khác.
8
Designed by Group 8_KHA
8
Quy hoạch mạng lưới đô thị
- Nên chọn vị trí có điểm dân cư để cải tạo và mở rộng, hạn chế lựa chọn chỗ hoàn
toàn mới thiếu các trang thiết bị kỹ thuật đô thị. Phải đảm bảo đầy đủ điều kiện phát
triển mở rộng của đô thị trong tương lai.
Khí hậu cũng là một yếu tố quan trọng khi quy hoạch đô thị nó ảnh hưởng đến sinh
hoạt đời sống dân cư. Lượng mưa và biến động thời tiểt tác động đến cơ sở hạ tầng
và tuyến giao thông…
Cuối cùng chúng ta cần đánh giá tài nguyên thiên của vùng quy hoạch và khả năng
phối hợp phát triển của vùng với các vùng khác và quốc tế. Thể hiện mối quan hệ
thống nhất trong phạm vi toàn quỗc, khu vực và trên thế giới. Đánh giá những lợi thế
và hạn chế về tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh hợp tác và cùng phát triển theo
xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá. Bên cạnh đó phải xác định được khả năng khai
thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững trong điều kiện hợp tác phát
triển không lệ thuộc, cùng có lợi.
Như vậy trên cơ sở đánh giá những khả năng về tài nguyên thiên nhiên, địa lý phong
cảnh, điều kiện địa hình, có thể xác định những yếu tố thuận lợi nhất ảnh hưởng đến
phương hướng hoạt động về mọi mặt của thành phố. Căn cứ vào đặc điểm tình hình
và khả năng phát triển của đô thị, mỗi đô thị có một tính chất riêng phản ánh vị trí,
vai trò và tính chất khai thác ở đô thị đó về mặt kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và
môi trường. Trên cơ sở đó người ta hình thành các loại đô thị có những tính chất
riêng và chức năng riêng trong tổng thể mạng lưới đô thị.
Bên cạnh đó, việc xác định triển vọng liên kết với các huyện, thị trấn tiếp giáp trong
vùng là điều rất quan trọng. Do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và nguồn lực nên
mỗi đô thị, mỗi vùng đều có những lợi thế riêng. Vì vậy, cần chủ động hợp tác liên
kết và phân công sản xuất để có thể phát huy tối đa tiềm năng của từng vùng đồng
thời hỗ trợ nhau cùng phát triển thúc đẩy sự phát triển theo hướng đồng đều. Do đó
cần đánh giá được thế mạnh của đô thị là gì? Thế mạnh của vùng tiếp giáp là gì? Và
9
Designed by Group 8_KHA
9
Quy hoạch mạng lưới đô thị
có thể hợp tác được với nhau ở những lĩnh vực nào? Để có phương án quy hoạch
hợp lý.
Đặc biệt cần khại thác hợp lý nhất tiềm năng du lịch của đô thị. Việc quy hoach đô
thị không chỉ tính đến nhu cầu của dân cư và cơ sở sản xuất trong vùng mà cần phải
đáp ứng tốt nhu cầu của khách du lịch, các dịch vụ du lịch nhằm phát triển thế mạnh
cuả mình từ đó tạo đòn bẩy cho phát triển chung toàn vùng và quốc gia.
Liên hệ Hà nội
1. Vị trí địa lý
Thủ đô Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ. Hà Nội tiếp giáp với 5 tỉnh:
Thái Nguyên ở phía Bắc; Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía Đông; Vĩnh Phúc ở phía Tây;
Hà Tây ở phía Nam. Vị trí địa lý và địa thế tự nhiên đã khiến cho Hà Nội sớm có
một vai trò đặc biệt trong sự hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Từ năm
1010, Hà Nội đã được Vua Lý Công Uẩn chọn làm thủ đô của cả nước.
Tính đến năm 2004, Hà Nội có 9 quận nội thành (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà
Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên ) với 125
phường, có diện tích 84,3 km² (chiếm 9% diện tích toàn thành phố) và 5 huyện ngoại
thành (Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì và Từ Liêm) với diện tích là 836,67
km² (chiếm 91% diện tích) với 99 xã và 5 thị trấn.
Nghị quyết 15/NQ - TW ngày 15/12/2000 về “Phương hướng, nhiệm vụ phát triển
thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001-2010” và Pháp lệnh Thủ đô đã xác định: “Hà Nội
là trái tim của cả nước, đầu não về chính trị - hành chính, trung tâm lớn về văn hoá,
khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế”. Là trung tâm của vùng Bắc Bộ, là
đầu mối giao thông quan trọng đi các tỉnh và là thủ đô của cả nước, Hà Nội có khả
năng to lớn để thu hút các nguồn lực của cả nước, của bên ngoài cho sự phát triển
của mình. Đồng thời, sự phát triển của Hà Nội có vai trò to lớn thúc đẩy sự phát triển
10
Designed by Group 8_KHA
10
Quy hoạch mạng lưới đô thị
của cả vùng, cũng như cả nước; sự phát triển của thủ đô Hà Nội là niềm tự hào của
người dân Hà Nội, đồng thời cũng là niềm tự hào của đất nước, của dân tộc.
2. Đặc điểm địa hình
Thành phố Hà Nội nằm ở vùng trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, độ cao
trung bình từ 5 – 20 m so với mặt nước biển (chỉ có khu vực đồi núi phía Bắc và Tây
Bắc của huyện Sóc Sơn thuộc rìa phía Nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20 m
– 400 m, với đỉnh cao nhất là núi Chân Chim cao 462 m). Địa hình Hà Nội thấp dần
từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông.
Địa hình chủ yếu của Hà Nội là địa hình đồng bằng được bồi đắp bởi các dòng
sông với các bãi bồi hiện đại và các bãi bồi cao, ngoài ra còn có các vùng trũng với
các hồ đầm (dấu vết của các dòng sông cổ). Riêng các bậc thềm sông chỉ có ở phần
lớn huyện Sóc Sơn và ở phía Bắc huyện Đông Anh, nơi có địa thế cao so với các
vùng của Hà Nội. Ngoài ra, Hà Nội còn có các dạng địa hình núi, tập trung ở khu
vực đồi núi Sóc Sơn với diện tích không lớn lắm.
Xét về mặt thời gian hình thành lớp phù sa, có thể phân bố thành phố Hà Nội
thành 2 vùng: vùng phù sa cũ (đại bộ phận nằm ở phía tả ngạn sông Hồng, phía Tây
quốc lộ 1. Đất được hình thành trên nền trầm tích thuộc thời kỳ thứ 4, khả năng chịu
nén tốt). Vùng phù sa mới (nằm ở phía Nam ngoại thành Hà Nội, phần lớn ở huyện
Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm. Đất ở đây chủ yếu do phù sa mới của sông Hồng hình
thành, nền đất yếu hơn vùng trên)
Trên cơ sở quá trình tạo thành và cấu trúc địa hình hiện đại, có thể phân bố lãnh
thổ thành phố Hà Nội thành 2 vùng chính sau: vùng đồng bằng (địa hình đặc trưng
của Hà Nội, chiếm tới 90% diện tích đất tự nhiên, bao gồm toàn bộ nội thành, các
huyện Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì và một phần phía Nam của huyện
Sóc Sơn; Độ cao trung bình của vùng từ 4 – 10 m, cao nhất khoảng 20 m so với mặt
nước biển. Nơi đây tập trung đông dân cư, với nền văn minh lúa nước, trồng hoa
11
Designed by Group 8_KHA
11
Quy hoạch mạng lưới đô thị
màu, chăn nuôi gia súc) và vùng đồi núi (chiếm 10% diện tích tự nhiên, tập trung
chủ yếu ở phía Tây Bắc huyện Sóc Sơn. Địa hình của vùng khá phức tạp, phần lớn là
các đồi núi thấp có độ dốc trên 8°, độ cao trung bình từ 50 - 100 m. Vùng này tầng
đất rất mỏng, thích hợp phát triển các cây trồng lâm nghiệp).
3. Khí hậu
Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm tiếp nhận được
lượng bức xạ mặt trời dồi dào. Tổng lượng bức xạ trung bình hằng năm khoảng 120
kcal/cm², nhiệt độ trung bình năm 24°C, độ ẩm trung bình 80 - 82 %, lượng mưa
trung bình 1.660 mm/năm.
Đặc điểm khí hậu rõ nét nhất là sự thay đổi khác biệt giữa hai mùa nóng, lạnh. Từ
tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa, từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm
sau là mùa lạnh và khô. Giữa hai mùa lại có 2 thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và
tháng 10, nên xét ở góc độ khác có thể nói Hà Nội có đủ 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.
Mùa xuân bắt đầu vào tháng 2 (hay tháng giêng âm lịch) kéo dài đến tháng 4. Mùa
hạ bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 8, nóng bức nhưng lại mưa nhiều. Mùa thu bắt đầu
từ tháng 8 đến tháng 10, trời dịu mát, lá vàng rơi. Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến
tháng 1 năm sau, thời tiết giá lạnh, khô hanh. Ranh giới phân chia bốn mùa chỉ có
tính chất tương đối, vì Hà Nội có năm rét sớm, có năm rét muộn, có năm nóng kéo
dài, nhiệt độ lên tới 40°C, có năm nhiệt độ xuống thấp dưới 5°C.
4 Tài nguyên
Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nội là 92.097 ha, trong đó diện tích đất ngoại
thành chiếm 90,86%, nội thành chiếm 9,14%. Trong đó đất nông nghiệp chiếm tới
47,4%, đất lâm nghiệp chiếm 8,6%, đất chuyên dùng chiếm 22,3%, đất nhà ở chiếm
12,7%, đất chưa sử dụng chiếm 9%.
12
Designed by Group 8_KHA
12
Quy hoạch mạng lưới đô thị
Hệ thống đất của Hà Nội gồm các nhóm: đất phù sa thuộc hệ thống sông Hồng
vừa có quy mô diện tích lớn (91,4% diện tích nhóm) phân bố tập trung, vừa ít chua
và hầu hết các chỉ tiêu lý hoá học đều cao hơn đất phù sa của các sông khác. Đất phù
sa sông Hồng rất màu mỡ, màu nâu tươi, thành phần cơ giới trung bình, cấu tượng
tốt, phản ứng từ trung tính đến kiềm tính yếu, thích hợp với nhiều loại cây trồng
nhiệt đới. Đất phù sa được bồi đắp bởi các sông khác có màu nâu đậm, thành phần
cơ giới nhẹ hơn đất phù sa sông Hồng; nhóm đất xám bạc màu (diện tích 17.663 ha,
bằng 19,23% diện tích đất tự nhiên) tuy nghèo sét, nghèo dinh dưỡng song phân bố
hầu hết ở địa bàn cao, thoát nước là điều kiện thuận lợi để gieo trồng cây trồng cạn;
nhóm đất đỏ vàng (đất dốc) chiếm 8.386,3 ha. Tuy phân bố hầu hết ở địa hình dốc
dưới 15°, độ phì đạt mức trung bình, song hầu hết tầng mỏng, chỉ thích hợp trồng
cây hoa màu ngắn ngày, diện tích thích hợp với cây lâu năm chỉ có 780 ha ở tầng dày
hơn 50 cm.
Tài nguyên rừng
Hà Nội có 6.740 ha đất rừng, chiếm 7,3% diện tích tự nhiên toàn thành phố, phân
bố chủ yếu ở huyện Sóc Sơn và một phần không đáng kể ở huyện Đông Anh, Gia
Lâm. Hà Nội không có rừng tự nhiên. Khu vực phụ cận quanh Hà Nội cách từ 50 -
100 km có những khu rừng nổi tiếng như Vườn quốc gia Cúc Phương, Vườn quốc
gia Ba Vì, rừng Tam Đảo.
Diện tích rừng trồng của Hà Nội đạt 6.720 ha, chiếm 99,7% đất rừng toàn thành
phố, trong đó huyện Sóc Sơn 6.656 ha, chiếm 99%. Rừng chủ yếu là bạch đàn,
keo…Ngoài ra, còn có một số loại cây như sơn, gió, quế, cánh kiến, thông là những
loại làm nguyên liệu cho công nghiệp và dược liệu. Tổng trữ lượng rừng nói chung
khoảng 106.000 m³ gỗ bạch đàn và 286.000 tấn củi.
Rừng của Hà Nội là tài nguyên quan trọng để cân bằng môi trường sinh thái,
chống thoái hoá đất đồi. Ngoài ra, rừng còn tạo ra cảnh quan thiên nhiên phục vụ
13
Designed by Group 8_KHA
13
Quy hoạch mạng lưới đô thị
cho các hoạt động du lịch, xây dựng các khu nghỉ dưỡng cuối tuần của nhân dân và
du khách.
Tài nguyên khoáng sản
Khoáng sản của Hà Nội và vùng phụ cận rất phong phú và đa dạng. Trên diện tích
35.000 km² của Hà Nội và vùng phụ cận có hơn 800 mỏ và điểm quặng của gần 40
loại khoáng sản khác nhau đã được phát hiện và đánh giá, khai thác ở các mức độ
khác nhau. Khoáng sản cháy rắn có than đá, than nâu, than bùn: đã phát hiện 51 mỏ
quặng và điểm quặng, trong đó có 2 mỏ trung bình, 18 mỏ nhỏ, tổng trữ lượng
khoảng hơn 200 triệu tấn, chủ yếu là than đá (gần 190 triệu tấn), phân bố theo 2
hướng: Tây Hà Nội và Đông Hà Nội. Khoáng sản kim loại đen có trữ lượng 393,7
triệu tấn chủ yếu phân bố ở phía Bắc – Tây Bắc Hà Nội; măng gan và titan trữ lượng
không đáng kể. Khoáng sản kim loại màu: có khoảng 42 mỏ và điểm quặng đồng,
chì, kẽm, trữ lượng thấp; khoáng sản kim loại quý chủ yếu là vàng: xác định tại Hà
Nội và vùng lân cận có 20 mỏ và điểm quặng vàng; trong đó có 4 mỏ được đánh giá
sơ bộ có trữ lượng dưới 1 tấn (Trại Cau, Hòn Khê, Na Lương, Chợ Bến). Khoáng
sản vật liệu xây dựng: Hà Nội và khu vực xung quanh có 2/3 diện tích là đồi núi,
phần lớn là đá vôi và các loại mác ma khoảng 1/3 diện tích còn lại là vùng đồng
bằng lấp đầy các loại sét, cát, cuội, sỏi; đá vôi có trữ lượng khoảng 4 tỉ tấn; đá hoa
có trữ lượng 80 triệu tấn; có khoảng 85 mỏ sét các loại trữ lượng khoảng 1 tỉ tấn,
trong đó sét gạch ngói là chủ yếu, số còn lại là sét chịu lửa, sét gốm sứ. Các mỏ sét
này đều được lộ ra trên mặt đất và hầu hết đang được khai thác. Các loại đá vụn:
cuội, sỏi, cát, đá ong…đều có trữ lượng đáng kể, chất lượng tốt, đá được sử dụng
rộng rãi trong xây dựng và sản xuất công nghiệp.
5 Tiềm năng kinh tế
lĩnh vực kinh tế lợi thế
14
Designed by Group 8_KHA
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét