Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

17 Phát triển sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ chứng khoán trong hệ thống Ngân Hàng Công Thương Việt Nam

2.3.1.4/. So sánh sản phẩm dịch vụ giữa Ngân h àng công thương Việt
nam và Ngân hàng liên d oanh, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 43
2.3.2/. Sự cần thiết của việc phát triển giao dịch ký quỹ chứng khoán
trong hệ thống Ngân hàng công thương Vi ệt nam 45
2.3.3/. Những thuận lợi và khó khăn khi phát triển giao dịch ký quỹ
chứng khoán trong hệ thống Ngân hàng công thương Vi ệt nam 46
2.3.3.1/. Những thuận lợi khi phát triển giao dịch ký quỹ chứng khoán
trong hệ thống Ngân hàng công thương Việt nam 46
2.3.3.2/. Những khó khăn khi phát triển giao dịch ký quỹ chứng
khoán trong hệ thống Ngân hàng công thương Việt nam 47
2.3.3.2.1/. Về khía cạnh pháp lý 47
2.3.3.2.2/. Về phía Ngân hàng công thương Vi ệt nam 48
2.3.3.2.3/. Về phía các nhà đầu tư 48
CHƯƠNG III : CHIẾN LƯỢC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT
TRIỂN NGHIỆP VỤ GIAO DỊCH KÝ QUỸ CHỨNG KHOÁN TRONG
HỆ THỐNG NGÂN H ÀNG CÔNG THƯƠNG VI ỆT NAM 50
3.1/. Chiến lược phát triển giao dịch ký quỹ chứng khoán trong hệ thống
Ngân hàng công thương Việt nam .50
3.1.1/. Nghiên cứu thị trường .50
3.1.2/. Xác định kênh phân phối 51
3.1.3/. Tăng cường công tác Marketing 52
3.1.4/. Quản lý rủi ro đối với hoạt động giao dịch ký quỹ chứng khoán 53
3.2/.Một số kiến nghị và giải pháp 54
3.2.1/. Kiến nghị đối với nhà nước 54
3.2.2/. Kiến nghị đối với Thị trường chứng khoán .55
3.2.3/. Kiến nghị đối với Ngân hàng công thương Vi ệt nam 57
3.2.3.1/. Đối với Ban lãnh đạo Ngân hàng công thương 57
3.2.3.2/. Đối với cán bộ ngân hàng 58
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Số liệu giao dịch ký quỹ chứng khoán ở Thị tr ường chứng khoán
NYSE 13
Bảng 2.1: Kết quả đánh giá hoạt động của Ngân h àng công thương Vi ệt nam
qua 3 năm 2005-2007 theo mô hình CAMELS 20
Bảng 2.2: Tiêu chí xếp loại NHTM theo Quyết định 400/2004/QĐ-
NHNN…. 21
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu tài chính của Ngân hàng công thương Việt nam từ
2005-2007 theo mô hình CAMELS 22
Bảng 2.4: Số liệu về tình hình niêm yết của các công ty chứ ng khoán từ 2005-
2007 28
DANH MỤC CÁC MÔ HÌNH
Mô hình 1.1: Tóm tắt quy trình giao dịch Giao dịch ký quỹ chứng khoán 7
Mô hình 2.1: Các yếu tố đánh giá hoạt động của Ngân h àng thương mại theo
mô hình CAMELS 19
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Dư nợ Giao dịch ký quỹ chứng khoán tại NYSE 14
Biểu đồ 2.1: Chỉ số VN-Index từ 1/1/2005-31/12/2007 28
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1.1 : So sánh giữa hình thức đầu tư bằng vốn tự có và đầu tư thông
qua tài khoản ký quỹ 61
Phụ lục 1.2 : Hợp đồng mở tài khoản Giao dịch ký quỹ 62
Phụ lục 2.1: Bảng cân đối kế toán qua 3 năm 2005-2007 của Ngân hàng
công thương Việt nam 66
Phụ lục 2.2 : Chú thích cách chấm điểm ở bảng 2.1 69
Phụ lục 2.3: Dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán tại các NHTMCP tr ên
địa bàn TPHCM trước và sau khi chỉ thị 03 ra đời 72
Phụ lục 2.4 : Báo cáo tình hình cho vay kinh doanh ch ứng khoán tại các
NHTMCP trên địa bàn TPHCM đến 31/12/2007 74
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TTGDCK : Trung tâm giao d ịch chứng khoán
CTNY : Công ty niêm y ết
UBCKNN : Ủy ban chứng khoán nh à nước
NHCTVN : Ngân hàng công thương Vi ệt Nam
NHCT : Ngân hàng công thương
NHTM : Ngân hàng thương m ại
NHTMCP : Ngân hàng thương m ại cổ phần
TCTD : Tổ chức tín dụng
NHNNVN : Ngân hàng nhà nư ớc Việt nam
CHNDTH : Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa
VILC : Vietnam International Leasing Company ( Công ty cho thuê tài c hính
quốc tế)
UDIC : Công ty cổ phần tài chính đầu tư phát triển hạ tầng đô thị
APEC : Asia Pacific Economic Cooperation (T ổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á
– Thái Bình Dương)
WTO : Word trade Organi zation ( Tổ chức Thương mại thế giới)
TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh
LỜI MỞ ĐẦU
1/. Lý do chọn đề tài
Việc gia nhập WTO đ ã mở ra những cơ hội phát triển mới cho thị
trường tài chính Việt Nam, nhằm tạo nên bức tranh toàn diện cho nền kinh tế
nước nhà với một bối cảnh thuận lợi cho một n ước đang phát triển. Tuy nhiên
bên cạnh đó, việc hội nhập trong lĩnh vực t ài chính - ngân hàng cũng đặt ra
nhiều thách thức và rủi ro đối với các NHTM Việt Nam. Sự hội nhập trong
lĩnh vực ngân hàng sẽ dẫn đến sự xuất hiện những sản phẩm t ài chính mới và
hoàn toàn xa lạ với không chỉ người dân, doanh nghiệp m à còn đối với chính
những cán bộ trực tiếp l àm việc trong lĩnh vực này. Trong khi đó, đối với các
nước phát triển trên thế giới, những sản phẩm đó đ ã hình thành và tồn tại lâu
đời, điển hình một trong số các sản phẩm đó chín h là “Giao dịch ký quỹ
chứng khoán” ( hay còn gọi là giao dịch ký quỹ trading chứng khoán). Chính
vì thế việc đẩy mạnh áp dụng các sản phẩm n ày ở nước ta là điều hiển nhiên
và cần thiết hơn bao giờ hết, bởi lẽ hoạt động n ày còn rất nhiều tiềm năng m à
đối thủ cạnh tranh lại còn quá ít. Kể từ ngày Việt Nam trở thành thành viên
thứ 150 của WTO - khi lĩnh vực ngân hàng đã bắt đầu mở cửa - thì việc đa
dạng hóa sản phẩm dịch vụ l à điều tất yếu nhằm phân tán rủi ro cũng nh ư đa
dạng hóa nguồn thu nhập. Hơn nữa nếu các ngân hàng nước ngoài hoạt động
tại Việt Nam được phép thực hiện nghiệp vụ giao dịch ký quỹ thì tại sao các
ngân hàng Việt nam của chúng ta lại không thực hiện ? Nhất là đó lại là một
ngân hàng quốc doanh lớn. Với những lý do tr ên nên tôi đã chọn đề tài “Phát
triển sản phẩm tài chính giao dịch ký quỹ chứng khoán trong hệ thống
Ngân Hàng Công Thương Vi ệt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
của mình.
2/. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn nhằm giới thiệu về sự ra đời v à phát triển của
sản phẩm mới trong ngành tài chính ngân hàng, m ột sản phẩm vẫn còn xa lạ
đối với thị trường tài chính ở Việt Nam, để từ đó có thể tiếp cận và đưa vào
hoạt động trong hệ thống NHCTVN.
3/. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu về cách thức hoạt động c ủa nghiệp vụ
“Giao dịch ký quỹ chứng khoán”, về tình hình hoạt động kinh doanh của
NHCTVN và về tình hình TTCKVN trong giai đoạn 2005-2007. Từ đó có cơ
sở đưa nghiệp vụ “Giao dịch ký quỹ chứng khoán” vào hoạt động trong hệ
thống NHCTVN .
4/. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên c ứu tổng hợp được sử dụng trong việc thực
hiện luận văn gồm: ph ương pháp hệ thống hóa, so sánh, thống k ê, phân tích,
tổng hợp và luận giải nhằm làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong quá tr ình
nghiên cứu.
5/. Giới hạn của đề tài
Giao dịch ký quỹ bao gồm hai trường hợp mua và bán chứng khoán
tương ứng với hai khuynh h ướng giá của chứng khoán. Tuy nhi ên nếu nghiên
cứu cả hai trường hợp thì quá rộng e rằng sẽ không thể phân tích sâu đ ược. Vì
vậy trong phạm vi đề t ài của mình, tôi chỉ nghiên cứu phần giao dịch ký quỹ
về chứng khoán đối với tr ường hợp mua chứng khoán nghĩa l à nhà đầu tư dự
đoán giá chứng khoán sẽ tăng.
6/. Hạn chế của đề tài
Đây là một đề tài còn khá mới, lần đầu được nghiên cứu trong luận văn
thạc sĩ cho nên nguồn tài liệu nghiên cứu chưa phong phú, chủ yếu dựa vào
các trang web từ mạng và công trình nghiên c ứu khoa học được thực hiện
2005. Do đó sẽ không tránh khỏi nhiều thiếu sót.
Do đề tài gắn liền với tình hình thị trường tài chính tiền tệ và TTCK do
đó có một số đặc điểm, diễn biến của thị tr ường có thể chỉ phát sinh đúng
ngay tại thời điểm tác giả nghi ên cứu chứ không đúng với thời điểm báo cáo
luận văn.
7/. Kết cấu của luận văn
Nội dung của luận văn gồm ba ch ương :
- Chương I : Tổng quan về sản phẩm t ài chính giao dịch ký quỹ
chứng khoán.
- Chương II : Thực trạng hoạt động và nhu cầu phát triển sản
phẩm tài chính giao dịch ký quỹ chứng khoán trong hệ thống Ngân h àng
công thương Việt nam .
- Chương III : Chiến lược và một số giải pháp nhằm phát triển
nghiệp vụ giao dịch ký quỹ chứng khoán trong hệ thống ngân h àng công
thương Việt nam.
1
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM T ÀI CHÍNH
GIAO DịCH KÝ QUỸ CHỨNG KHOÁN
1.1/. Giới thiệu về sản phẩm t ài chính giao dịch ký quỹ chứng khoán
1.1.1/. Khái niệm sản phẩm tài chính
Khái niệm sản phẩm tài chính rất rộng, theo FSR (Financial Services
Reform) nó bao gồm tất cả các sản phẩm liên quan đến :
- Đầu tư tài chính (cổ phiếu, giấy nợ, l ãi suất hưu trí, đầu tư vào bảo
hiểm nhân thọ và tiền gửi ngân hàng).
- Quản lý rủi ro tài chính (bảo hiểm chung và các sản phẩm phái sinh
được sử dụng để đầu cơ).
- Thực hiện những khoản thanh toán không d ùng tiền mặt (thẻ ghi nợ,
séc, thẻ thông minh và séc du lịch).
1.1.2/. Khái niệm giao dịch ký quỹ chứng khoán
1.1.2.1/.Lịch sử hình thành giao dịch ký quỹ
Giao dịch ký quỹ có nguồn gốc từ thị trường futures về hàng hóa. Thị
trường futures đã xuất hiện từ thời trung cổ, nó đ ược phát triển để đáp ứng
yêu cầu của giới nông dân v à lái buôn. Đi vào phân tích tình huống nông dân
ở thời điểm thu hoạch trong tương lai, giá c ả hàng hóa có thể rất cao nhưng
cũng có thể rất thấp và điều này ảnh hưởng rất nhiều đến họ nhất l à khi họ cần
tiền. Và tương tự, giới lái buôn cũng chịu rủi ro khi giá cả h àng hóa biến động
ở tương lai, trong khi họ là những người luôn cần hàng. Do vậy nông dân và
lái buôn gặp nhau trước thời điểm thu hoạch để thỏa thuận giá cả cho thời
điểm họ có hàng hoặc cần hàng trong tương lai. Đi ều đó có nghĩa là họ đã
thương lượng loại hợp đồng futures về h àng hóa – là loại hợp đồng cung cấp
2
cách thức mua bán hàng hóa giữa các bên để có thể loại trừ rủi ro do giá cả
hàng hóa không ổn định trong tương lai.
Sự phát triển của hoạt động futures, k èm theo sự gia tăng những rủi ro
dẫn đến việc xuất hiện hệ thống thanh toán b ù trừ các giao dịch. Nền tảng của
thanh toán bù trừ là một hệ thống tiền gửi hoặc bảo l ãnh tiền gửi, được yêu
cầu từ những người tham gia hoạt động futures. Trong thực tế trao đổi, những
khoản tiền gửi này được gọi là giao dịch ký quỹ, đó là số tiền mà khách hàng
phải trả vào tài khoản của công ty môi giới khi anh ta thiết lập vị thế, đ ược
gọi là ký quỹ, tỷ lệ ký quỹ thường 1-10% giá trị hợp đồng futures. Từ hoạt
động ký quỹ trong giao dịch h àng hóa đã được vận dụng sang các sản phẩm
tài chính khác như là ch ứng khoán (Giao dịch ký quỹ trên thị trường chứng
khoán), ngoại tệ (Giao dịch ký quỹ at FOREX), vàng (Gold giao dịch ký quỹ)
…và tiếp tục phát triển vào những năm 20 của đầu thế kỷ 20.
1.1.2.2/ Khái niệm giao dịch ký quỹ chứng khoán
Hiểu một cách đơn giản giao dịch ký quỹ chứng khoán có nghĩa là nhà
đầu tư sẽ dùng tiền vay mượn từ nhà môi giới (nhà môi giới có thể là ngân
hàng hoặc công ty chứng khoán đ ược phép cho vay đầu t ư chứng khoán
nhưng trong phạm vi đề tài này cho phép tôi xem nhà môi gi ới chính là ngân
hàng) sau khi đã đặt cọc một khoản cho nh à môi giới và toàn bộ số tiền đó
(số tiền ký quỹ và số tiền vay mượn) được dùng để đầu tư chứng khoán, đồng
thời chứng khoán đó sẽ được thế chấp cho ngân hàng. Tỷ lệ vay mượn phụ
thuộc vào loại chứng khoán đầu t ư cũng như chính sách của các ngân hàng,
nhưng thông thường khoảng 50% giá mua chứng khoán hoặc ít h ơn và một số
nhà môi giới lại yêu cầu mức ký quỹ lớn hơn 50% giá mua.
3
Sau đây tôi xin giải thích một số thuật ngữ dùng trong hoạt động giao
dịch ký quỹ :
- Cash account (Tài khoản tiền mặt): đây là một loại tài khoản thông
thường được sử dụng trong giao dịch chứng kho án, khi nhà đầu tư có nhu cầu
đầu tư, mua bán chứng khoán. Trong t ài khoản này, người chủ sở hữu giao
dịch mua bán bằng hình thức chi trả tiền mặt cho các loại chứng khoán – Full
payment.
- Curent market value (Giá trị thị trường hiện tại): Đây là giá trị thị
trường của các loại chứng khoán có trong t ài khoản của một nhà đầu tư vào
thời điểm đóng cửa của ng ày giao dịch hôm trước. Nó còn là mức giá tại thời
điểm đang xét (thời điểm hiện tại) của chứng khoán.
- Purchase Price (Giá mua) : là mức giá mua các loại chứng khoán
ngay tại thời điểm mua. Nó đ ược tính bằng cách lấy số l ượng chứng khoán
nhân với giá mỗi chứng khoán v ào thời điểm mua.
- Leverage Trading Rati o (Chỉ số đòn bẩy) : là tỷ lệ giữa số tiền nhà
đầu tư sử dụng để mua chứng khoán v à số tiền họ đặt cọc ban đầu.
- Giao dịch ký quỹ account (Tài khoản ký quỹ) : đây là loại tài khoản
được sử dụng trong giao dịch .
- Investor/Customer (Nhà đầu tư) : Là người đầu tư vào thị trường
chứng khoán, là người chủ tài khoản.
- Broker (Nhà môi giới) : Là người đứng ra cho nhà đầu tư vay tiền
hoặc chứng khoán trong giao dịch .
- Open Position Amount (Số tiền sẳn sàng để mua chứng khoán) :
Là khoản tiền nhà đầu tư được toàn quyền sử dụng để giao dịch mua bán sau
khi đã hoàn tất thủ tục ký quỹ mở t ài khoản giao dịch ký quỹ, hay nói cách
4
khác đây chính là giá tr ị của chứng khoán mà nhà đầu tư dự định dùng tài
khoản giao dịch ký quỹ để mua.
- Minimum Giao dịch ký quỹ (hoặc Minimum Account : Số tiền ký
quỹ tối thiểu) : Là số tiền tối thiểu mà nhà đầu tư phải nộp vào để tài khoản
giao dịch ký quỹ có thể hoạt động được.
- Giao dịch ký quỹ Requirements (Những yêu cầu về giao dịch ký
quỹ): đây là những quy định, những yêu cầu của các cấp ( cơ quan quản lý
cấp nhà nước, cơ quan quản lý tại sàn giao dịch, công ty chứng khoán, công ty
môi giới) trong quá trình giao dịch bằng tài khoản ký quỹ; nhằm đảm bảo sự
an toàn cho các công ty ch ứng khoán và các khách hàng trư ớc những rủi ro do
việc sử dụng đòn bẩy trong tài khoản ký quỹ. Những yêu cầu về giao dịch ký
quỹ gồm hai loại chính :
+ Initial giao dịch ký quỹ requirements ( hoặc Initial Giao dịch ký
quỹ viết tắt là IM- ký quỹ ban đầu) có thể tính bằng % hoặc tính bằng $ . Là
tỷ lệ giữa khoản tiền hoặc chứng khoán m à nhà đầu tư phải đặt cọc cho nhà
môi giới để mua chứng khoán so với tổng giá trị chứng khoán nh à đầu tư
muốn mua. Khoản đặt cọc n ày được quy định bằng IM% của giá mua chứng
khoán vào thời điểm mở tài khoản; với IM là một con số được xác định là
“mức tối thiểu quy định” bởi c ơ quan quản lý cấp nhà nước. Ngoài ra, tùy
theo từng sàn giao dịch và các công ty môi gi ới sẽ có nhiều mức IM khác
nhau , có thể được thay đổi tùy theo nhu cầu thị trường vào các thời điểm
khác nhau, nhưng nh ững mức IM này buộc phải cao hơn mức tối thiểu quy
định của cơ quan cấp nhà nước.
Công thức tính IM : IM = Purchase price x IM%
+ Maintenance giao dịch ký quỹ requirements (viết tắt là MM- ký
quỹ duy trì) : đây là mức ký quỹ tối thiểu phải có trong t ài khoản giao dịch

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét