Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

TRUNG QUỐC VÀO WTO (TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI): CƠ HỘI VÀ THỬ THÁCH


Trần Quốc Hùng, Trung Quốc vào WTO: cơ hội và thử thách


35
quan trọng so với chế độ kế hoạch hoá trước đó); cũng như cho
phép rất nhiều doanh nghiệp được trực tiếp kinh doanh xuất nhập
khẩu. Cải cách hối suất năm 1995, cụ thể là việc giảm tỷ giá ngoại
hối của đồng Nhân Dân Tệ xuống 8,3 trên 1 US$, hay giảm giá 80%
so với 1978, đã giúp cho hàng xuất khẩu TQ khôi phục được tính
cạnh tranh trước đó đã bị mất vì tỷ giá quá cao.
Nói chung, kinh nghiệm TQ chứng tỏ là trong ngoại thương,
càng tự do hoá chế độ xuất nhập khẩu, kể cả đơn phương cắt giảm
hàng rào bảo hộ mậu dịch, nhất là thuế nhập khẩu, thì càng giúp
cho kinh tế phát triển. Kinh nghiệm Ấn Ðộ chứng minh điều ngược
lại : càng duy trì bảo hộ mậu dịch thì càng gây khó khăn cho việc
phát triển kinh tế. Ngay trong bản thân nền kinh tế Ấn Ðộ, ngành
công nghiệp có nhiều bảo hộ như xe hơi thì trì trệ, lạc hậu, còn
ngành công nghiệp không có bảo hộ như tin học, công nghệ phần
mềm thì phát triển mạnh, rất hiện đại và có khả năng cạnh tranh
trên thị trường thế giới.
Nhờ luôn luôn xuất siêu, và thêm luồng đầu tư trực tiếp của
nước ngoài, lượng dự trữ ngoại tệ TQ tăng nhanh lên tới mức US$
240 tỷ hiện nay. Ðó là chưa kể dự trữ ngoại tệ trên US$ 112 tỷ của
Hông Kông.
Ðầu Tư Trực Tiếp của Nước Ngoài (FDI)
Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài đã góp phần rất to lớn
trong việc phát triển ngoại thương TQ. Thương vụ của các doanh
nghiệp này chiếm tỷ lệ 48% trên kim ngạch xuất khẩu, và 52% trên
kim ngạch nhập khẩu. Ðiều này chứng tỏ tầm quan trọng của đầu
tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình phát triển TQ.
Từ khi mở cửa, TQ đã thu hút lượng FDI ngày càng tăng. Trong
nửa sau thập kỷ 1980, TQ nhận trung bình US$ 2,3 tỷ một năm. Con
số này tăng lên US$ 16,1 tỷ trong nửa đầu thập kỷ 1990, và US$ 40,6
tỷ trong nửa sau. Hiện nay, TQ thu hút hàng năm khoảng US$ 40-
45 tỷ vốn FDI, tương đương với khoảng 5% GDP hay 25-30% luồng
FDI cho tất cả các nước đang phát triển. (Luồng FDI vào Ấn Ðộ chỉ
bằng 0,4% GDP của nước này). Như thế, TQ là nước nhận FDI lớn
thứ nhì trên thế giới sau Mỹ, và là nước ÐPT nhận FDI lớn nhất.
Khối FDI được tích lũy ở TQ trong hai thập kỷ qua ước tính trị giá

THỜI ÐẠI số 8


36
US$ 400 tỷ, khoảng 37% so với GDP. Tỷ lệ này cao nhất thế giới,
phản ánh một khía cạnh khác của tính chất “mở” của nền kinh tế
TQ. Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài chiếm 16% tổng sản
lượng công nghiệp TQ. Tỷ lệ này tương đương với Mỹ, và cao hơn
các nước Châu Âu và Nhật.
Hiện nay khoảng 54% luồng FDI vào TQ bắt nguồn từ Hông
Kông, Ðài Loan và Singapore, và đã giảm khá nhiều so với tỷ lệ
66,6% trong đầu thập kỷ 1990. Trong những năm vừa qua, việc TQ
sắp tham gia WTO đã thu hút nhiều công ty đa quốc gia ở Mỹ,
Châu Âu và Nhật đầu tư trực tiếp vào TQ. Diễn tiến này cũng góp
phần giảm bớt tình trạng thổi phồng số thống kê FDI vì việc xuất
vốn chui, thường là qua Hông Kông, và đầu tư trở lại vào TQ để
được hưởng ưu đãi dành cho FDI (hiện tượng đầu tư vòng). Không
kém phần quan trọng trong việc giảm hiện tượng đầu tư vòng là
việc đối xử bình đẳng hơn giữa đầu tư trong nước và nước ngoài.
Tỷ lệ đầu tư vòng trên luồng FDI lên tới 25% trong những năm đầu
thập kỷ 1990, và giảm xuống còn 7% trong năm 1996
7
.
Luồng FDI vào TQ tập trung vào công nghiệp chế biến (60%),
với khoảng một nửa tổng số vào các ngành chế biến dùng nhiều lao
động như dệt may, chế biến thực phẩm, bàn ghế, đồ chơi ; và một
nửa vào các ngành công nghiệp có trình độ khoa hoc và công nghệ
cao như đồ điện và điện tử, máy móc các loại. Khoảng 24% được
đầu tư vào lãnh vực địa ốc, khách sạn ; khoảng 6% trong lãnh vực
phân phối (giao thông, bán sỉ và lẻ); phần còn lại trong các ngành
xây dựng, khai thác sản phẩm cơ bản. Về hình thức đầu tư, trong
năm 1990 quan trọng nhất là hình thức liên doanh, đến nay hình
thức quan trọng nhất là công ty 100% vốn nước ngoài.
Trong những năm gần nay, các doanh nghiệp TQ cũng đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài: TQ đứng hàng thứ bảy trên thế giới trong
việc xuất FDI, và đứng hàng đầu trong các nước ÐPT. TQ không chỉ
đầu tư trực tiếp sang các nước ÐPT khác trong khu vực Châu Á, mà
còn sang các nước bạn hàng lớn như Mỹ, Úc để dễ tiếp cận thị
trường. Một hướng đầu tư khác, có tính cách chiến lược, nhằm đa
phương hoá nguồn nhập khẩu dầu khí, tập trung vào Indonesia.
Trong năm nay, công ty khai thác dầu ngoài khơi China National

Trần Quốc Hùng, Trung Quốc vào WTO: cơ hội và thử thách


37
Offshore Oil Company (CNOOC) đã mua lại với giá US$ 585 triệu
từ công ty Tây Ban Nha Repsol-YPF một số mỏ dầu và khí đốt thiên
nhiên có trữ lượng cao ở Indonesia. Công ty PetroChina cũng mua
các giếng dầu và khí từ công ty Devon Energy Corporation với giá
US$ 262 triệu
8
.
Ðầu tư trực tiếp của nước ngoài đã góp phần quan trọng trong
việc phát triển kinh tế TQ. Trước tiên, nó giúp tăng đầu tư vào khối
tư bản cố định, qua đó tăng GDP. Trong thập kỷ 1990, hiệu ứng này
đã đóng góp 0,4 chấm phần trăm (percentage points) vào suất tăng
trưởng GDP hàng năm
9
. Quan trọng hơn, FDI đã hiện đại hoá công
nghệ, phương thức sản xuất và quản lý doanh nghiệp, góp phần
tăng năng suất tổng thể (TFP: Total Factor Productivity). Phần đóng
góp này được ước tính là 2,5 chấm phần trăm mỗi năm. Nói chung,
FDI đã đóng góp hàng năm khoảng 3 chấm phần trăm cho suất
tăng trưởng GDP.
Ảnh hưởng trực tiếp của FDI vào nền kinh tế TQ là thông qua
hoạt động của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Các doanh
nghiệp này năng động và có năng suất cao nhất trong nền kinh tế,
bình quân cao gấp đôi năng suất của các doanh nghiệp trong nước.
Qua hợp tác và cạnh tranh, các doanh nghiệp có vốn nước ngoài đã
tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh và hiện đại, tác động
tích cực lên các doanh nghiệp trong nước. Việc xuất hiện một loạt
các doanh nghiệp lớn trong nước, có công nghệ sản xuất tiên tiến,
sản phẩm có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thế giới đã
chứng tỏ điều này.
Các doanh nghiệp có vốn nước ngoài cũng góp phần tạo công
ăn việc làm. Hiện nay các doanh nghiệp này sử dụng khoảng 6 triệu
nhân công, hay 3% lực lượng lao động thành thị. Nếu tính cả ảnh
hưởng gián tiếp, thì hiệu ứng nhân dụng của FDI còn cao hơn nữa.
Hiện đại hoá doanh nghiệp trong nước
Ðầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng trong việc hiện đại
hoá doanh nghiệp trong nước. Dựa vào nguốn vốn đầu tư nước
ngoài, TQ đã khai thác những mặt mạnh của mình để xây dựng
công nghiệp viễn thông và tin học
10
.

THỜI ÐẠI số 8


38
• Thị trường có tầm cỡ khổng lồ : trong năm 2000, hệ thống
điện thoại hữu tuyến có thêm 35,6 triệu người thuê bao ;
trong khi hệ thống điện thoại di động có thêm 42 triệu
người đăng ký sử dụng. Nhờ vậy, TQ đã qua mặt Nhật để
thành thị trường điện thoại di động lớn thứ hai trên thế
giới. Trong năm 2001, TQ cũng đã vượt qua Mỹ để trở
thành thị trường lớn nhất thế giới. Trong năm nay, China
Mobile có thể qua mặt Vodafone để trở thành công ty điện
thoại di động lớn nhất thế giới. Thị trường máy ảnh kỷ
thuật số (digital camera) và máy vi tính cá nhân (PC) của
TQ cũng lớn thứ hai sau Mỹ. Trong khi thị trường viễn
thông thế giới bị suy thoái trong hai năm vừa qua, thị
trường TQ vẫn tăng nhanh, vì thế có sức hấp dẫn rất lớn
đối với các công ty viễn thông quốc tế.
• Hệ thống nối mạch hiện đại: trong khi nhiều nước trên thế
giới vẫn còn lúng túng trong việc đơn giản hoá luật lệ viễn
thông và xử lý tình trạng công ty viễn thông hiện độc
quyền (thường là của nhà nước) muốn duy trì và khai thác
tối đa hệ thống hữu tuyến sẵn có, TQ đã mạnh dạn phá vỡ
tình trạng độc quyền bằng cách cho phép 7 công ty viễn
thông cùng hoạt động và cạnh tranh, và mới đây lại cho
phép các công ty truyền hình cáp quang (cable TV) được
phép cung cấp dịch vụ điện thoại địa phương. Chính phủ
cũng không thiên vị dối với một công nghệ viễn thông
nào. Vì vậy, các công ty đã đua nhau nối mạng các thành
thị, sử dụng cáp quang (optical fiber) và các công nghệ
băng tần số rộng (broadband) tiên tiến nhất. Kết qủa là TQ
sẽ có hệ thống nối mạch viễn thông thuộc loại hiện đại
nhất thế giới.
• Nguồn nhân lực dồi dào, rẻ và có kỷ luật, đặc biệt là số
sinh viên Ðại Học có năng lực về các ngành kỹ sư và toán,
được đào tạo trong nước lẫn từ nước ngoài (mỗi năm TQ
có khoảng 420.000 kỹ sư tốt nghiệp Ðại Học, so với
160.000 ở Nhật, và 15.000 ở Thái Lan). Ðiều này đã thu hút

Trần Quốc Hùng, Trung Quốc vào WTO: cơ hội và thử thách


39
nhiều công ty viễn thông, tin học nước ngoài, kể cả Ðài
Loan, vào đầu tư.
• TQ đã trở thành cơ sở sản xuất và chế biến dụng cụ và
thiết bị viễn thông, tin học lớn thứ ba trên thế giới, và
trong năm nay có khả năng vượt qua Nhật để đứng thứ
hai sau Mỹ. Thí dụ: 29 công ty ở TQ sẽ sản xuất 200 triệu
chiếc máy điện thoại di động cầm tay trong năm nay,
nhiều hơn bất cứ một nước nào khác. TQ cũng phát triển
công nghiệp tin học phần mềm, nhưng đặt ưu tiên phục
vụ nhu cầu trong nước, chứ không tập trung vào việc xuất
khẩu hay gia công phục vụ thị trường nước ngoài như Ấn
Ðộ. Cách làm của TQ có khả năng phổ biến rộng rãi việc
sử dụng công nghệ phần mềm trong các doanh nghiệp
TQ, so với cách làm của Ấn Ðộ. Ngay trong lãnh vực gia
công hay xuất khẩu phần mềm, trong vòng 5 năm tới, TQ
cũng có khả năng cạnh tranh và đuổi kịp Ấn Ðộ.
Một số công ty trong nước như Legend (sản xuất PC) hay
Huawei (dụng cụ, thiết bị viễn thông) đã đạt được thị phần cao
nhất trong thị trường nội địa so với hàng nhập hay sản phẩm của
các doanh nghiệp có vốn nước ngoài, và đã bắt đầu xuất ra nước
ngoài với thương hiệu riêng của mình.
Hậu qủa tiêu cực của quá trình cải cách
Bên cạnh những thành tựu, quá trình cải cách của TQ cũng đã
gây ra nhiều vấn đề kinh tế và xã hội nghiêm trọng.
Trước hết, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng suất tăng trưởng
trong gần một phần tư thế kỷ qua đã bị thổi phồng, hoặc vì tồn tại
của chủ nghĩa thành tích, hoặc vì những khiếm khuyết trong công
tác thống kê. Theo sự nghiên cứu của World Bank, Trung tâm
nghiên cứu kinh tế quốc dân TQ và Tổ Chức Hợp tác và Phát Triển
Kinh Tế (OECD), suất tăng trưởng đã bị thổi phống từ 1,2% lên đến
3,8% hàng năm.
11
Thí dụ như trong năm 1998, khi nhiều nước Châu
Á còn đang trong khủng hoảng, chính phủ TQ ra chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế là 8%. Tất cả các tỉnh đều báo cáo GDP của tỉnh tăng
hơn 8% nhiều; nhưng chính quyền trung ương công bố GDP cả

THỜI ÐẠI số 8


40
nước tăng 7,8%. Có nhà nghiên cứu cho rằng suất tăng trưởng thật
sự dưới 4%.
12

Quan trọng hơn việc thổi phồng suất tăng trưởng là chất lượng
của sự tăng trưởng. Nhiều mặt hàng, phần lớn do doanh nghiệp
nhà nước và xí nghiệp hương trấn sản xuất cho thị trường trong
nước, kém chất lượng và mẫu mã xấu, bị tồn kho vì không bán
được. Sản xuất để tồn kho tăng GDP nhưng không giúp ích gì cho
nền kinh tế và là sự phí phạm tài nguyên rất lớn. Trong giai đoạn
1990-1999, tính bình quân sản xuất để tồn kho chiếm khoảng 5,3%
so với tỷ lệ 0,4% ở Mỹ. (Tỷ lệ hàng tồn kho đã giảm xuống trong
thời gian gần đây). Sự phí phạm tài nguyên trong thời gian dài là
một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô.
Lãnh đạo TQ cũng ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này, và
đã nhiều lần khuyến cáo doanh nghiệp phải tìm cách hạn chế việc
sản xuất hàng không bán được. Do ảnh hưởng của nền kinh tế kế
hoạch và sự ấu trĩ của cơ chế thị trường trong những năm đầu cải
cách, TQ đã xây dựng một công suất sản xuất lớn, nhưng có nhiều
bộ phận dư thừa, lỗi thời và làm ra hàng hoá không phù hợp với
nhu cầu hiện nay. Xây dựng từ con số không tương đối dễ, nhưng
cải tạo một cơ cấu sản xuất đã thành hình để nó hiện đại và hữu
hiệu thì khó hơn nhiều.
Cũng giống như nhiều nước Ðông Á trước đây, suất tăng
trưởng nhanh của TQ trong thời gian qua là do sử dụng rất nhiều
tài nguyên, tư bản lẫn lao động, trong quá trình sản xuất. Trong
thập kỷ 1990, tỷ lệ đầu tư trên GDP lên đến 40%, cao hơn nhiều so
với tỷ lệ trung bình 20%-25% ở các nước đang phát triển. Trong thời
gian đó, năng suất tổng thể (TFP) không tăng lên bao nhiêu.
Cải cách doanh nghiệp nhà nước
Tuy đã qua nhiều đợt cải cách, gồm cả cổ phần hoá và niêm yết
trên thị trương chứng khoán, khu vực doanh nghiệp nhà nước
(DNNN)vẫn còn yếu kém, và ngày càng trở nên gánh nặng cho
ngân sách nhà nước và cho nền kinh tế. Hiện nay, các DNNN chỉ
chiếm 28,3% tổng sản lượng công nghiệp, nhưng sử dụng 53% lực
lượng lao động công nghiệp và 2/3 lượng tín dụng ngân hàng – thể

Trần Quốc Hùng, Trung Quốc vào WTO: cơ hội và thử thách


41
hiện một sự phí phạm tài nguyên rất trầm trọng. Tỷ lệ lợi nhuận
của các DNNN có tăng từ 1,5% trong những năm 1996-97 lên tới
trên 6%, nhưng tỷ lệ các DNNN bị lỗ cũng tăng lên tới khoảng 45%.
Tỷ lệ nợ so với vốn (debt to equity ratio) có giảm xuống trong
những năm gần nay, nhưng vẫn còn ở mức 150%. Tỷ lệ này không
thấp lắm so với tỷ lệ trung bình ở các nước Ðông Nam Á (ÐNÁ)
trong thời kỳ trước khủng hoảng (1992-96): Thái Lan 209%,
Indonesia 196%, Singapore 98% và Mã Lai 92%. Quan trọng hơn là
tỷ lệ nợ dài hạn (trên một năm) trên tổng dư nợ rất thấp, chỉ có
dưới 8% so với tỷ lệ khoảng 30-40% ở các nước ÐNÁ, khiến cho
doanh nghiệp luôn luôn phải cần tái tài trợ. Vì thua lỗ, nhiều
DNNN phải quỵt nợ hoặc tìm cách trả nợ ngân hàng (để có thể tiếp
tục vay vốn lưu thông (working capital)) bằng cách chậm hay
không trả lương và hưu bổng cho công nhân. Cộng thêm vào việc
viên chức, cán bộ tham nhũng, ăn chận tiền lương và tiền hưu, đây
là yếu tố trực tiếp gây ra sự phẫn nộ và phản kháng trong giai cấp
công nhân TQ.
Phát triển không đồng đều
Ngoài việc kém chất lượng, sự tăng trưởng trong thời gian qua
không được phân bố đồng đều trên phạm vi cả nước. Sự phát triển
và tăng lợi tức bình quân đầu người tập trung ở các tỉnh duyên hải
và Ðông Nam, trong khi các tỉnh trong nội địa, ở phía Tây và Ðông
Bắc thì vẫn còn nghèo và chậm phát triển. Các sự khác biệt và phân
hoá giữa hai vùng hiện đã lớn, và trong nhiều lãnh vực có khuynh
hướng ngày càng tăng cao thêm. Cộng thêm với tinh thần “địa
phương chủ nghĩa”, sự kiện này đã đưa tới tình trạng cạnh tranh
giữa các tỉnh và địa phương để thu hút đầu tư và bảo vệ thị trường
cho hàng hoá trong tỉnh. Giữa nhiều vùng đã thành hình hàng rào
bảo hộ mậu dịch, đầu tư và lao động với các biện pháp thuế, phí và
luật lệ. Như thế, trong khi TQ mở cửa và hội nhập với kinh tế thế
giới, thì trong nước đã xảy ra tình trạng chia cắt, phân hoá thị
trường. Ðiều này không những chỉ hạn chế việc phát huy khả năng
tích cực của phân công và hợp tác lao động trong một thị trường
khổng lồ như TQ, làm giảm suất tăng trưởng tiềm năng ; mà còn
gây ra nhiều vấn đề xã hội và chính trị bức xúc.

THỜI ÐẠI số 8


42
Vấn đề nông thôn và xí nghiệp hương trấn
Vấn đề bức xúc nhất hiện nay là sự chênh lệch lợi tức đầu người
giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn thêm, gần đến
tỷ lệ 4:1. Theo World Bank, sự chênh lệch thu nhập đầu người giữa
thành thị và nông thôn thường tăng thêm trong giai đoạn đầu quá
trình phát triển. Nhưng mức độ chênh lệch tiếp tục tăng cao trong
thời gian dài như ở TQ là hiếm thấy. Lý do chính yếu là vì chiến
lược phát triển của TQ trong thời gian qua dựa trên việc thu hút tài
nguyên từ nông thôn để xây dựng thành thị. Trước hết, tỷ giá giữa
hàng công nghiệp và nông phẩm luôn luôn diễn biến bất lợi cho
nông thôn. Thứ hai, chế độ và chính sách tài chính, ngân sách (so
sánh giữa nộp và được chi ngân sách) cũng như ngân hàng (so sách
giữa ký thác ngân hàng và được cho vay) có tác dụng rút vốn từ
nông thôn cung cấp cho thành thị. Việc giảm phân bổ ngân sách
trung ương cho nông thôn đã đưa đến việc chính quyền địa
phương phải dặt ra các loại thuế và phí bất hợp pháp (hiện lên tới
20% lợi tức của nông dân), gây ra sự bất bình rất lớn trong nông
dân. Thứ ba, cho mãi tới gần nay, TQ đã đặt nặng mục tiêu tự túc
lương thực, nên bắt nông dân phải trồng lúa và các loại ngũ cốc ; vì
thế họ không thể đa canh để tăng thu nhập. Sau cùng, TQ đã dùng
chế độ hộ khẩu để hạn chế số nông dân được chính thức chuyển cư
về thành phố. Chính sách này đã góp phần làm cho lợi tức đầu
ngưới giảm, thất nghiệp trá hình tăng rất cao, ở nông thôn. Ðồng
thời, nó tạo ra đội quân lao động thời vụ và bất hợp pháp ở thành
thị – những công nhân này không được hưởng quyền lợi an sinh xã
hội, vừa bị bóc lột vừa là ổ sinh ra tội phạm. Số lao động thời vụ
này hiện nay ước tính khoảng 150 triệu người, và là một nhân tố có
thể gây mất ổn định trong xã hội TQ.
Trong đầu thập kỷ 1980, TQ đã tìm cách giải quyết các vấn đề
nông thôn nói trên qua việc xây dựng các xí nghiệp hương trấn theo
khẩu hiệu “ly nông bất ly hương”. Trong bối cảnh lúc đó của một
nền kinh tế thiếu hàng hoá, thừa lao động, các xí nghiệp hương trấn
đã có tác dụng rất tích cực trong việc tạo ra công việc và thu nhập,
tăng sức mua trong nông thôn và cung cấp các mặt hàng dân dụng
cần thiết. Trong bối cảnh hiện nay của nền kinh tế mở cửa, có một

Trần Quốc Hùng, Trung Quốc vào WTO: cơ hội và thử thách


43
số công suất dư thừa, thị hiếu của giới tiêu thụ được nâng cấp, các
xí nghiệp hương trấn đã bộc lộ những mặt tiêu cực của chúng. Với
cơ ngơi sản xuất tương đối nhỏ, sử dụng công nghiệp, máy móc
thiết bị lạc hậu, các xí nghiệp này có năng suất thấp, phí phạm năng
lượng, gây ô nhiễm môi trường, làm ra hàng hoá chất lượng xấu
không cạnh tranh nổi với hàng của các doanh nghiệp nhà nước và
hàng nhập. Vì thế chúng bị thua lỗ, nợ nần chồng chất không trả
nổi, và trở thành gánh nặng bù lỗ cho ngân sách chính quyền địa
phương. Nhưng vì các xí nghiệp này thu dụng khoảng 25% lực
lượng lao động trong nông thôn, chính quyền địa phương phải bù
lỗ để duy trì chúng, vì nếu đóng cửa thì sợ thất nghiệp tăng lên.
Ðược bao cấp và bù lỗ, các xí nghiệp này tiếp tục sản xuất và bán
phá giá, phá hoại thị trường và gây tình trạng giảm phát trong nền
kinh tế, khiến cho các doanh nghiệp nhà nước cũng bị khốn đốn.
Gần đây, việc bán hàng hoá chất lượng kém với giá rẻ mạt đã lan
tràn sang các nước lân cận, nhất là Việt Nam.
Cải cách ngân hàng: xử lý món nợ xấu
Mặt trái của tình trạng thua lỗ ở các doanh nghiệp nhà nước và
xí nghiệp hương trấn là món nợ xấu rất lớn trong bảng cân đối tài
chính các ngân hàng thương mại nhà nước. TQ đă tìm cách giải
quyết vấn đề nợ xấu bằng cách thành lập các công ty quản lý tài sản
(Asset Management Companies), do ngân sách nhà nước tài trợ,
nhằm mục đích mua chiết khấu các món nợ xấu của các ngân hàng
thương mại nhà nước. Trong hai năm 1999-2000, các công ty quản
lý tài sản đã mua NDT 1,4 ngàn tỷ nợ xấu từ các ngân hàng (khoảng
14% tổng dư nợ, hay 15,5% GDP), và sẽ dần dà tái cấu trúc hay
thanh lý các công ty con nợ. Tuy vậy, tỷ lệ nợ xấu ở các ngân hàng
thương mại nhà nước vẫn còn rất cao, khoảng 30,4% tổng dư nợ
vào cuối năm 2001. Nếu tính cả các món nợ xấu tại các tổ chức tín
dụng trong cả nước, tổng số nợ không trả được và sẽ gây thiệt hại
cho ngân hàng có thể lên tới 70% GDP.
Vì sợ làm tăng suất thất nghiệp, ngân hàng cũng như công ty
quản lý tài sản không dám mạnh tay tái cấu trúc hay thanh lý các
công ty con nợ. Như thế, vô hình chung chính phủ – qua việc bù lỗ
các ngân hàng hay tài trợ các công ty quản lý tài sản – vẫn tiếp tục

THỜI ÐẠI số 8


44
bao cấp cho các doanh nghiệp yếu kém, thua lỗ. Tình trạng này
khiến cho cả hệ thống doanh nghiệp lẫn ngân hàng bị èo uột, lỗ lã
khó phát triển mạnh mẽ được, đồng thời cũng là một gánh nặng
cho ngân sách nhà nước.
Công trái và thiếu hụt ngân sách
Phân tích nói trên cho thấy việc bội chi trong ngân sách nhà
nước đã trở thành một cột trụ chính yếu nâng đỡ nền kinh tế. Ngân
sách nhà nước không những phải tài trợ các khoản đầu tư vào tài
sản cố định nhằm mục đích kích cầu, mà còn phải bù lỗ cho các
doanh nghiệp và ngân hàng thương mại nhà nước, và tài trợ ngân
hàng và công ty quản lý tài sản để xử lý các món nợ xấu. Ngoài ra
ngân sách nhà nước còn phải gánh chịu sự thiếu hụt của quỹ hưu
bổng. Quỹ hưu bổng được thành lập năm 1995, theo chế độ tài trợ
bởi ngân sách đương kỳ (“pay as you go”), nên không có tài sản.
Quỹ chỉ dành cho công nhân thành thị (nông dân chưa được hưởng
chế độ hưu bổng công cộng), và đã bắt đầu thiếu hụt. Ðến năm
2010, tiêu sản (liability) của quỹ ước tính sẽ lên tới US$ 110 tỷ. Nếu
tính gộp tất cả các khoản tiêu sản của khu vực công quyền thì tỷ lệ
tiêu sản trên GDP đã lên tới 100%, chứ không phải chỉ có 16% như
tỷ lệ công trái/ GDP như hiện nay. Tỷ lệ 100% thuộc loại rất cao trên
thế giới, chỉ thấp hơn so với tỷ lệ công trái/GDP khoảng 140% ở
Nhật.
Thực trạng của tỷ lệ tiêu sản trên GDP rất quan trọng, vì nó sẽ
giới hạn khả năng huy động ngân sách của chính phủ để hỗ trợ cho
nền kinh tế. Từ năm 1997 cho đến nay, vì nghĩ rằng tỷ lệ công trái
còn thấp, chính phủ TQ đã mạnh dạn bội chi ngân sách để kích cầu,
nhằm giữ suất tăng trưởng kinh tế trên 7,5% một năm (nếu tăng
trưởng dưới mức này thì suất thất nghiệp sẽ tăng lên). Nếu tỷ lệ
tiêu sản trên GDP sắp tăng cao hơn 100%, thì khả năng của chính
phủ dùng bội chi ngân sách để kích cầu và bù lỗ sẽ bị hạn chế.
Nói tóm lại, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao, cơ cấu
kinh tế của TQ cũng đã bộc lộ nhiều nhược điểm trầm trọng, làm
cho nền kinh tế khó có thể tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ như thời
gian vừa qua. Vì vậy, thử thách của TQ là: một mặt phải giữ suất
tăng trưởng kinh tế trên 7,5% một năm để thất nghiệp không tăng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét