Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai

“Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở vùng dân tộc Chăm ở nước ta hiện
nay” của Nguyễn Đức Ngọc (Luận án tiến sĩ triết học 2009), qua nghiên cứu
hệ thống chính trị cấp cơ sở vùng dân tộc Chăm, tác giả đã chỉ ra những thành
tựu, hạn chế và yếu kém trong tổ chức và hoạt động của hệ thống này cũng
như nguyên nhân của nó. Từ đó, xác định quan điểm, phương hướng và đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở
vùng dân tộc Chăm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
“Đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện xóa đói, giảm nghèo qua Chương
trình 135 giai đoạn II” của Giàng Seo Phử (Tạp chí Cộng sản, số 816/2010),
bài viết khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn
vùng đồng bào dân tộc và miền núi (giai đoạn 2006 - 2010) được thực hiện
trên địa bàn 50 tỉnh của đất nước. Từ những con số cụ thể, tác giả đã có
những đánh giá sát thực, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm hết sức
quý giá nhằm tiếp tục thực hiện Chương trình xóa đói, giảm nghèo giai đoạn
II đạt kết quả cao hơn.
“Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, hoàn thành tốt
các mục tiêu, kế hoạch đề ra” của Nguyễn Phú Trọng (Tạp chí Cộng sản, số
829/2011), bài viết đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội đất nước, nguyên
nhân của những khó khăn, thách thức hiện nay và xu hướng phát triển trong
thời gian tới. Từ đó, định hướng các giải pháp chủ yếu mà cả hệ thống chính
trị phải đồng tâm hiệp lực lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển
biến thực sự trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế,
nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh. Bên cạnh đó nhấn mạnh định
hướng chính sách, biện pháp bảo đảm an ninh lương thực gắn với bảo vệ môi
trường sinh thái, bảo đảm an ninh năng lượng và giữ vững ổn định chính trị,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Ngoài ra, một số công trình, luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí
khoa học chuyên ngành cũng bàn về vấn đề náy dưới nhiều hình thức và mức
5
độ khác nhau như: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân”
của Văn phòng Quốc hội (Nghiên cứu lập pháp, số 8/2001); “Hệ thống chính
trị cơ sở vùng sâu, vùng xa và những vấn đề đặt ra cần được giải quyết” của
Hồ Minh Dức (Dân vận, số 1 và 2/2002); “Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đối với việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay”
của Nguyễn Thị Hiền Oanh (Nxb Lý luận chính trị, H.2005); “Tồn tại và
không nên tồn tại HĐND cấp nào?” của Trần Hữu Trí (Đại Đoàn kết, số
139/2007); “Giả pháp nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị
cấp xã, phường, thị trấn ở Đồng Nai hiện nay” của Nguyễn Khánh Mậu
(Khoa học Chính trị, số 2/2007); “Đổi mới hệ thống chính trị để phát huy dân
chủ” của Đoàn Minh Duệ (Triết học, số 9/2007)…
Như vậy, nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở nói chung và hệ thống
chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng từng khu vực, vùng
dân tộc cụ thể đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, song chưa có
một công trình khoa học nào trực tiếp bàn về hệ thống chính trị cấp xã vùng
đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai, trong khi đối tượng nghiên cứu này
đang đặt ra những vấn đề cần được giải quyết kể cả ở tầm lý luận và thực tiễn.
Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề trên trong khuôn khổ một
Luận văn Thạc sỹ Triết học (chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học) với hy
vọng góp phần nhất định vào việc luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc
đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã nói
chung và hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng
của tỉnh Lào Cai.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích
Từ việc nghiên cứu mặt mạnh, mặt yếu và những vấn đề đặt ra trong
hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh
Lào Cai, luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất
6
lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu phát triển
hiện nay.
Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá quan niệm về hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào
dân tộc thiểu số và vai trò của nó đối với sự phát triển.
- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong hoạt động của hệ thống
chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai hiện nay.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số
tỉnh Lào Cai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng và những vấn
đề đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở
tỉnh Lào Cai.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hệ thống chính trị cấp xã
vùng đồng bào dân tộc thiểu số (không bao gồm: các phường, thị trấn) của
tỉnh Lào Cai trong những năm đầu thế kỷ XXI.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam, của tỉnh Lào Cai về những vấn đề liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu: Quá trình giải quyết những nội dung trong
luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp của phép biện chứng duy
vật (như phân tích và tổng hợp, lịch sử và lô gic, hệ thống và cấu trúc…), các
phương pháp so sánh, điều tra, thống kê, nghiên cứu văn bản…
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ thực trạng hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu
số trong mối quan hệ với sự phát triển của những vùng này ở tỉnh Lào Cai.
7
- Từ việc xác định rõ những vấn đề đang đặt ra trong hoạt động của hệ
thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai, luận văn
đề ra quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của hệ thống chính trị đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở cho các cấp lãnh
đạo, quản lý tỉnh Lào Cai tham khảo, vận dụng trong việc đề ra các chính sách
riêng, phù hợp và đạt hiệu quả cao hơn trong việc kiện toàn hệ thống chính trị
cấp xã vùng đồng bào dân tộc trong tỉnh.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy,
nghiên cứu và học tập về hệ thống chính trị cấp xã ở trường chính trị tỉnh và
các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
8
Chương 1
ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ
VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. QUAN NIỆM VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP XÃ VÙNG ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA
1.1.1. Khái niệm hệ thống chính trị cấp xã
Chính trị và hệ thống chính trị - với những quan hệ và hoạt động đặc thù
của chúng - là kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất, là con đẻ của
giai đoạn lịch sử nhất định trong sự phát triển của nền văn minh loài người,
hay nói chính xác hơn là thời gian xuất hiện các giai cấp và mâu thuẫn đối
kháng giai cấp. Và như vậy, từ khi xuất hiện các giai cấp và đối kháng giai
cấp cho tới khi nào mức năng suất lao động của con người còn chưa đạt tới
ranh giới cho phép xóa bỏ những khác biệt giai cấp trong việc thừa hưởng
phúc lợi vật chất, chưa xóa bỏ sự khác biệt giai cấp thì chính trị, hệ thống
chính trị và tổ chức chính trị của xã hội, trước và sau này cũng vậy, vẫn sẽ là
những thuộc tính của đời sống xã hội.
Trong mọi xã hội có giai cấp, đối kháng giai cấp, quyền lực của giai cấp
cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị
nhất định. Đó là hệ thống chính trị.
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức trong xã hội bao gồm các
đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên
kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của
đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp
với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Như vậy, hệ thống chính trị gắn liền với sự phân chia giai cấp trong xã
hội, nhưng giai cấp không phải là hiện tượng vĩnh hằng. Loài người đã và sẽ
trải qua các thời kỳ khác nhau của xã hội: xã hội chưa có giai cấp và đối
9
kháng giai cấp; xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp; và cuối cùng, lại trở
về xã hội không có giai cấp và đối kháng giai cấp, nhưng ở một trình độ cao
hơn. Từ một xã hội này chuyển sang một xã hội khác phải trải qua những thời
kỳ quá độ khác nhau và để chuyển từ một xã hội có giai cấp và đối kháng giai
cấp sang một xã hội không còn giai cấp và đối kháng giai cấp tất yếu phải trải
qua một thời kỳ quá độ chính trị lâu dài - thời kỳ chuyên chính cách mạng của
giai cấp vô sản, thời kỳ tồn tại hệ thống chính trị của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động.
Ở nước ta, mặc dù khái niệm hệ thống chính trị mới chỉ được đề cập, sử
dụng trong các văn kiện chính trị và các tài liệu khoa học từ sau đổi mới
(1986). Song, trên thực tế, hệ thống chính trị nước ta đã được hình thành và
phát triển gần 70 năm, như một hệ thống quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tại Hội
nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI), tháng 3 năm 1989,
Đảng ta lần đầu tiên đã sử dụng khái niệm hệ thống chính trị trong thời kỳ quá
độ đi lên chủ nghĩa xã hội thay thế cho khái niệm hệ thống chuyên chính vô
sản được sử dụng trước đó. Theo đó, hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ đi
lên CNXH ở nước ta là một chỉnh thể bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị - xã hội hợp
pháp, hoạt động theo một cơ chế nhất định nhằm từng bước hoàn thiện nền
dân chủ XHCN, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân và thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Việc sử dụng
khái niệm HTCT trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH thay thế cho khái niệm hệ
thống chuyên chính vô sản vừa kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, vừa phù hợp với xu thế của thời đại và
điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, đồng thời đáp ứng được nhu cầu
đổi mới trên lĩnh vực chính trị của xã hội ta nói riêng, nhu cầu đổi mới toàn
diện đất nước ta nói chung.
10
Như vậy, khái niệm HTCT xã hội chủ nghĩa ở nước ta được hiểu là một
hệ thống tổ chức bộ máy, hệ thống các thiết chế chính trị - xã hội, bao gồm:
Đảng Cộng sản Việt Nam (vai trò lãnh đạo); Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân (vai trò quản lý); Mặt trận tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân (Công đoàn, Hội Nông dân,
Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh), có vai trò tập hợp lực
lượng, thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc, hiệp trương chính trị, hợp tác
và phát triển xã hội. Đây là các tổ chức hợp pháp theo quy định của Hiến pháp
và pháp luật, được nhà nước bảo trợ, hoạt động công khai, nhằm thực hiện và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Theo chiều dọc, cấu trúc của hệ thống chính trị không chỉ là hệ thống các
tổ chức và các quan hệ về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan
hệ về cấp độ nhìn theo hai chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống. Cấp
độ của từng tổ chức (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể) được quy
định theo từng cấp với vị trí, vai trò, chức trách, thẩm quyền khác nhau, thể hiện
mối quan hệ thứ bậc giữa cấp trên và cấp dưới trong phạm vi một tổ chức. Hệ
thống chính trị ở nước ta được cấu thành bởi các tổ chức nêu trên cũng có các cấp
độ này, biểu hiện thành quan hệ tác động qua lại giữa Trung ương với địa phương
và cơ sở, phản ánh sự phân cấp về quyền lực trong HTCT.
Theo chiều ngang, hệ thống chính trị được biểu hiện thông qua mối quan
hệ về vị trí, vai trò và quyền hạn giữa các tổ chức khác nhau trong tổng thể
của hệ thống, bao gồm: Đảng chính trị, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức
chính trị - xã hội. Nếu như ở cấp trung ương, đảng chính trị giữ vai trò lãnh
đạo chung, nhà nước giữ vai trò quản lý chung thông qua các hoạt động đặc
thù, Mặt trận và các tổ chức chính trị giữ vai trò tập hợp lực lượng, tạo lập
khối đại đoàn kết, hiệp thương chính trị ; thì, ở cấp địa phương, mỗi chân rết
của các tổ chức nói trên sẽ chịu trách nhiệm chính các nhiệm vụ tương ứng,
song trong một địa bàn và không gian cụ thể.
11
Cơ sở là khái niệm để chỉ một cấp trong hệ thống quản lý hành chính của
Nhà nước chứ không phải là tất cả mọi loại hình cơ sở nói chung, đó chính là
xã, phường, thị trấn. Ở nước ta hiện nay, do số lượng xã chiếm đa số, gắn với
sản xuất và dân cư nông nghiệp nên trong quản lý hành chính hiện hành gọi
chung xã, phường, thị trấn là cấp xã. Đây là cấp cuối cùng trong hệ thống
quản lý hành chính, là cấp gần và sát dân nhất nên còn được gọi là cấp cơ sở.
Hiện nay ở nước ta có 10.925 đơn vị cơ sở xã, phường, thị trấn, trong đó
có 9.098 xã, 597 thị trấn và 1.230 phường. Đây là địa bàn cư trú, làm ăn của
nhân dân lao động, nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội. Đó vừa là
nơi diễn ra các hoạt động sản xuất - kinh doanh của người lao động, của các
hộ gia đình, của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; vừa là nơi
diễn ra quá trình trao đổi, lưu thông hàng hóa, là đầu mối của thị trường, là
nơi hình thành các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất và tiêu dùng. Nói
đến cơ sở là nói tới nơi diễn ra các hoạt động của người dân và cuộc sống của
họ; là nói tới các hình thức tổ chức hoạt động sống của cộng đồng và các mối
quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân cới cộng đồng. Mỗi cơ
sở là một cộng đồng xã hội, ở đó có các hoạt động kinh tế, văn hóa và đồng
thời tất yếu hình thành nên cộng đồng chính trị - xã hội. Tại đây, vai trò lãnh
đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động của các tổ chức chính
trị - xã hội đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an
ninh, trật tự xã hội và tổ chức đời sống chính trị của công dân. Tổng hợp của
các tổ chức trên, đó chính là HTCT cấp cơ sở.
Như vậy, HTCT cấp cơ sở là hệ thống chỉnh thể các tổ chức đảng, chính
quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn, được tổ chức và
hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, đặt dưới sự lãnh đạo
của Đảng nhằm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phát
triển mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị trên địa bàn.
12
HTCT cấp cơ sở ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng bộ hay Chi bộ cơ sở;
chính quyền cơ sở (gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã); Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Hội nông dân, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh ở cơ sở. Mỗi bộ phận
hợp thành HTCT cấp cơ sở có vị trí, vai trò và chức năng khác nhau nhưng có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Cụ thể:
- Đảng bộ hay Chi bộ cơ sở, mà nòng cốt là Ban Chấp hành Đảng bộ là
hạt nhân chính trị, trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua việc ra các
nghị quyết, chỉ thị định hướng cho chính quyền triển khai các hoạt động quản
lý, điều hành trên phạm vi địa bàn; bằng hoạt động của các đảng viên trong bộ
máy chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng việc giới
thiệu đảng viên ưu tú tham gia giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền và
các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở; bằng công tác tuyên truyền, vận động
thuyết phục; bằng sự gương mẫu của đảng viên; bằng công tác kiểm tra, giám
sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, luật pháp, chính sách của
Nhà nước đối với cán bộ và đảng viên.
- Chính quyền là trụ cột của HTCT cấp cơ sở, có vai trò quản lý, điều
hành toàn bộ các hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi địa bàn theo Hiến pháp
và pháp luật. Trong chính quyền cơ sở, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở
cơ sở, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trên địa
bàn, thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng trên đại bàn theo
quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng
nhân dân, là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở. Ủy ban nhân dân thực hiện
những nhiệm vụ theo nghị quyết của Hội đồng nhân dân, những nhiệm vụ do cơ
quan hành chính nhà nước cấp trên ủy quyền và chỉ đạo tổ chức thực hiện, đôn
đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ tự quản của địa phương.
- Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội có chức năng tuyên
truyền, vận động quần chúng nhân dân ở cơ sở thực hiện đường lối, chủ
13
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương của
chính quyền cơ sở; củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; chăm lo lợi ích và bên vực quyền lợi chính
đáng của hội viên, đoàn viên; đồng thời thực hiện chức năng giám sát đối với
hoạt động của chính quyền, đối với cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở và
tham gia một số công việc quản lý xã hội ở cơ sở và từng thôn xóm.
Bên cạnh đó, ở cấp cơ sở hiện nay còn rất nhiều tổ chức, hội đoàn do
nhân dân tự nguyện lập ra, hoạt động theo phương thức tự quản và tuân thủ
pháp luật, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, liên kết cộng đồng, cùng nhau tổ chức
đời sống trong cộng đồng, góp phần tạo ra sự đoàn kết, đồng thuận trong xã
hội. Những tổ chức này tuy không phải là bộ phận hợp thành HTCT cơ sở
nhưng có mối quan hệ mật thiết với hệ thống này. Vì vậy, nếu HTCT cấp cơ
sở biết cách tạo điều kiện, phát huy tác dụng của các tổ chức này thì sức
mạnh đoàn kết - hợp tác - sáng tạo của cộng đồng xã hội ở cơ sở sẽ được nhân
lên gấp bội. Điều đó sẽ làm cho nền tảng xã hội của Đảng, Nhà nước và của
cả chế độ được củng cố vững mạnh ngay từ cơ sở. Đó chính là sự kết hợp sức
mạnh giữa các thiết chế chính trị quan phương và phi quan phương, giữa tính
nhân dân và tính tự quản cộng đồng để tạo nên sự ổn định ở cơ sở, tạo sức bật
cho cơ sở phát triển.
1.1.2. Quan niệm về hệ thống chính trị cấp xã vùng đồng bào dân tộc
thiểu số ở nước ta hiện nay
Trong quá trình đổi mới, kiện toàn HTCT xã thời gian qua, dường như
chúng ta, cả ở cấp Trung ương lẫn địa phương, chưa chú ý đúng mức đến tính
đặc thù của từng loại hình cơ sở xã, phường, thị trấn. Từ việc ban hành các
văn bản pháp luật, các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong
HTCT cấp xã đến chế độ chính sách với đội ngũ cán bộ này vẫn còn trong
tình trạng cào bằng, rập khuôn giữa các loại hình xã khác nhau.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét