4
+ Về không gian: Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005, các KCN nằm trong khu
kinh tế chịu sự điều chỉnh của các cơ chế, chính sách riêng áp dụng cho khu kinh tế. Do đó,
luận án tập trung nghiên cứu việc xây dựng, ban hành chính sách đầu tư phát triển KCN do
cấp Trung ương ban hành và áp dụng cho các KCN nằm ngoài khu kinh tế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận án là vận dụng một cách tổng hợp nhiều phương
pháp nghiên c
ứu cơ bản định tính và định lượng, bao gồm: phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, phương pháp điều tra lấy ý kiến thông qua phỏng vấn trực tiếp và gửi
phiếu điều tra, phương pháp phân tích hệ thống, phân tích tổng hợp và so sánh nhằm mô tả,
phân tích đánh giá thực trạng kết hợp lý luận với thực tiễn để đưa ra những kết luận có cơ s
ở
khoa học cho các giải pháp hoàn thiện hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN ở nước ta
trong thời gian tới. Đồng thời, luận án cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, bổ sung và
phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn mới phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận
án.
6. Đóng góp khoa học của luận án
- Luận án làm rõ nội hàm khái niệm chính sách đầu tư
phát triển KCN theo hướng bền
vững.
- Xác định vai trò của hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN và những nội dung
cơ bản của quy trình hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN.
- Từ thực tiễn hoạch định chính sách phát triển KCN của một số nước và vùng lãnh thổ
trong khu vực, luận án rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện hoạch định chính sách
đầu tư
phát triển KCN Việt Nam trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của
luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Một số lý luận cơ bản về hoạch định chính sách đầu tư phát triển
KCN
Chương 2. Thực trạng hoạch định chính sách đầu tư phát tri
ển KCN ở Việt Nam
Chương 3. Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện hoạch định chính sách
đầu tư phát triển KCN ở Việt Nam trong thời gian tới
5
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN ÁN
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của khu công nghiệp
Trên thế giới, các KCN đã có quá trình phát triển lâu dài. Hiện nay quan niệm về KCN
ở các nước cũng rất khác nhau. Ở một số nước châu Á như Thái Lan, Philipin, Indonesia quan
niệm KCN là một khu vực diện tích được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế
hoạch tổng thể nhằm cung cấp địa điểm cho hoạt động của các xí nghiệp sản xuất công
nghiệp với cơ sở hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ phát triển; trong KCN không có dân cư sinh
sống. Trung Quốc và một số nước Châu Âu lại quan niệm KCN là một khu hành chính kinh
tế, gồm các phân khu chức năng như hành chính, sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch
vụ, nhà ở dân cư… Ở Việt Nam, trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Đầu tư nước ngoài
năm 1996, Luật Đầu tư năm 2005 đã định nghĩa: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được
thành lập theo quy định của Chính phủ.
Trên cơ sở nghiên cứu mô hình KCN trên thế giới và thực tiễn Việt Nam, luận án đưa
ra khái niệm tổng quát về KCN như sau:
KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản
xuất công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được thành lập và
hoạt động theo cơ chế, chính sách quản lý của Chính phủ.
Từ khái niệm nói trên cho phép rút ra những đặc điểm của KCN như sau:
Thứ nhất, KCN là khu vực có ranh giới xác định, sử dụng chung về kết cấu hạ
tầng và
xã hội nên mỗi xí nghiệp công nghiệp đều tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất. Đây là đặc điểm
thể hiện tính chất riêng biệt của KCN, tính quy hoạch không gian và vị trí xác định của việc
xây dựng KCN.
Thứ hai, KCN là khu tập trung các xí nghiệp công nghiệp và các đơn vị dịch vụ phục
vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp. Đây là đặc điểm thể hiệ
n tính quy hoạch ngành của
KCN, thể hiện mục tiêu của KCN là phát triển công nghiệp.
Thứ ba, trong KCN không có dân cư sinh sống. Đây là đặc điểm, đồng thời là điều
kiện để thành lập KCN, đảm bảo tính tập trung công nghiệp và hạn chế ảnh hưởng của việc
xen lẫn dân cư với công nghiệp.
6
Thứ tư, KCN có một Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế tạo thuận lợi và
hiệu suất tối đa cho các doanh nghiệp. Các xí nghiệp trong KCN tập trung được hưởng một
quy chế hoạt động riêng, khác với phân bố ngoài KCN.
Thứ năm, khả năng hợp tác sản xuất giữa các xí nghiệp sản xuất trong KCN tập trung
tùy thuộc vào doanh nghiệp tự liên kết với nhau trong quá trình phát triển để đạt hiệu qu
ả cao.
Nhà nước chỉ quy định những ngành và xí nghiệp loại nào được khuyến khích phát triển và
hoạt động trong KCN do yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và quốc phòng an ninh.
Tùy theo mục tiêu thành lập, cách thức tổ chức, chế độ ưu đãi và tính chất hoạt động
mà ngoài loại KCN thông thường còn có nhiều loại hình KCN khác như khu chế xuất (KCX)
là KCN chỉ gồm các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất hàng hoá để xu
ất
khẩu; khu công nghệ cao (KCNC) là KCN gắn với các hoạt động phát triển công nghệ cao….
Mỗi loại có những nét đặc thù riêng và vai trò nhất định đối với nền kinh tế, do đó Nhà nước
cần có những chính sách đầu tư phát triển riêng. Trong luận án này, tác giả chỉ tập trung
nghiên cứu chính sách áp dụng cho loại hình KCN phổ biến, không đi sâu vào từng loại hình
cụ thể là KCX và KCNC.
1.1.2. Khái niệm và nội dung chính sách đầu tư phát triển KCN
- Phát triển KCN được xem xét trên hai góc
độ:
Một là, dưới góc độ vi mô (phát triển nội tại KCN): đảm bảo duy trì sự bền vững và
hiệu quả trong hoạt động của bản thân KCN, thể hiện ở việc: đạt các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của KCN; nâng cao khả năng cạnh tranh của các
KCN Việt Nam (tính chất vượt trội trong quan hệ so sánh) với các đối thủ cạnh tranh khác có
cùng tiêu chí so sánh; bảo đảm chất lượng môi trường trong nội bộ KCN.
Hai là, dưới góc độ vĩ mô (tác động lan toả tích cực của KCN đến hoạt động kinh tế,
xã hội và môi trường của địa phương, khu vực có KCN và phạm vi toàn quốc gia.
Từ những phân tích nói trên, có thể hiểu đầu tư phát triển KCN là việc huy động và sử
dụng các nguồn lực sản xuất nhằm tăng trưởng số lượng, chuyển dịch quy mô, cơ cấu, nâng
cao chất lượng, hiệu quả hoạt động KCN gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu phát triển
bền vững hệ thống kinh tế-xã hội của đất nước.
- Về khái niệm chính sách đầu tư phát triển KCN: Trên cơ sở phân tích những khái
niệm về chính sách công và nội dung phát triển KCN nói trên, luận án đi đến khái niệm tổng
quát về chính sách đầu tư phát triển KCN như sau:
Chính sách đầu tư phát triể
n KCN là cách thức tác động của Nhà nước để khuyến
khích và hỗ trợ các hoạt động đầu tư trong những giai đoạn nhất định nhằm bảo đảm tăng
trưởng số lượng, chuyển dịch quy mô, cơ cấu, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động KCN
7
gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững hệ thống kinh tế-xã hội của đất
nước.
Từ khái niệm trên cho phép rút ra những đặc điểm của chính sách đầu tư phát triển
KCN như sau:
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bao
gồm các cơ quan Trung ương và địa phương).
Thứ hai, chính sách đầu tư phát triển KCN tậ
p trung giải quyết một hoặc một số vấn đề
về phát triển KCN đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo những mục tiêu xác định mà
Nhà nước đề ra trong từng giai đoạn.
Thứ ba, chính sách gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau, mang tính hệ thống,
ổn định và phù hợp với quan điểm phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Các quyết định
chính sách đầu tư phát triể
n KCN là những quyết định hành động của Nhà nước, bao gồm cả
những hoạt động thực thi trên thực tiễn và được thể chế thành các quy định của pháp luật.
Thứ tư, đối tượng điều chỉnh của chính sách là các hoạt động đầu tư liên quan đến sự
hình thành và phát triển của KCN, bao gồm cả những hoạt động đầu tư trong và ngoài hàng
rào KCN, có tác động lan tỏa tới môi trường số
ng của khu vực phát triển KCN.
Thứ năm, chính sách đầu tư phát triển KCN có phạm vi tác động trên cả 3 góc độ là
kinh tế, xã hội và môi trường. Đây cũng chính là đặc điểm phát triển KCN theo hướng bền
vững.
Thứ sáu, chính sách đầu tư phát triển KCN có ảnh hưởng to lớn đến quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia, bao gồm cả cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ
, nhằm
đạt các kết quả mang tính dài hạn, do đó nó đòi hỏi một môi trường pháp lý, kinh tế, chính trị,
xã hội tương đối ổn định.
Trong phạm vi nghiên cứu, luận án chủ yếu tập trung vào các chính sách đầu tư phát
triển KCN do cấp Trung ương ban hành và áp dụng cho các KCN không nằm trong các khu
kinh tế.
- Mục tiêu và nhiệm vụ của chính sách:
Mục tiêu bao trùm của chính sách đầu tư phát triển KCN của nước ta trong giai đoạn
tới là phả
i góp phần vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế-xã
hội ở nước ta thời kỳ đến năm 2010 và một số năm tiếp theo, nhằm đưa nước ta về cơ bản trở
thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Bám sát các chủ trương và các mục tiêu phát
triển kinh tế-xã hội đã được xác định, chính sách đầu tư phát triển KCN tập trung vào thực
hiện 2 m
ục tiêu chung sau:
Một là, bảo đảm hoạt động KCN đạt được tăng trưởng kinh tế ổn định và hiệu quả, bao
gồm: Thu hút được các nguồn lực đầu tư để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của các
8
doanh nghiệp trong KCN; Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát
triển KCN; Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết, hợp tác với nhau để nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế; Bảo đảm các
yêu cầu về bảo vệ môi trường; giảm thiếu tối đa những tác động đối vớ
i môi trường sinh thái
do các hoạt động sản xuất công nghiệp gây ra.
Hai là, hình thành hệ thống các KCN có vai trò chủ đạo, dẫn dắt sự phát triển công
nghiệp quốc gia, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá trên cơ sở phát triển bền vững, cân đối giữa kinh tế, xã hội và môi trường, bao gồm: Tăng
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng kết hợp hài hòa sự phát triển công
nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế; Bảo đảm sự ổn định về
kinh tế-xã hội và phát triển cân đối giữa các vùng trong cả nước; Sử dụng tài nguyên hợp lý,
có hiệu quả gắn với bảo vệ môi trường sinh thái nhằm nâng cao chất lượng sống cho thế hệ
hôm nay và các thế hệ mai sau.
Căn cứ vào những mục tiêu trên, chính sách
đầu tư phát triển KCN có những nhiệm vụ
chủ yếu như sau:
+ Tăng cường thu hút vốn đầu tư và khuyến khích các hoạt động đầu tư để phát triển
các KCN, KCX.
+ Hướng dẫn, điều chỉnh các luồng vốn và các hoạt động đầu tư để sử dụng có hiệu
quả các nguồn vốn đầu tư, tạo điều kiện phát triển sản xuất và những ngành, lĩnh vực mà Nhà
nước ưu tiên phát triển trong các KCN, KCX.
+ Hỗ trợ và tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp KCN như tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng, ổn định, hoàn thiện và nâng
cấp kết cấu hạ tầng và các loại dịch vụ phục vụ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
- Các bộ phận chính sách đầu tư phát tri
ển KCN
+ Bộ phận chính sách bảo đảm và hỗ trợ đầu tư (thường mang tính cơ chế) bao gồm
các biện pháp nhằm thiết lập môi trường pháp lý, chính trị, hành chính ổn định, tin cậy để các
chủ đầu tư yên tâm đầu tư dài hạn. Đó chính là hệ thống pháp luật bảo đảm quyền lợi lâu dài
cho nhà đầu tư, các biện pháp bảo đảm các điều kiện môi trường bình thường cho các hoạt
độ
ng đầu tư như sự phát triển của các thị trường yếu tố sản xuất, hoạt động của các định chế
tài chính trung gian
+ Bộ phận chính sách khuyến khích đầu tư: bao gồm hệ thống các biện pháp tác động
theo hướng khuyến khích hoặc kìm hãm (hạn chế) hoạt động đầu tư phát triển KCN tuỳ theo
các mục đích của tác động chính sách. Các tiêu chí thường được dùng để xác định mức độ
khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư là ngành nghề, địa bàn, nguồn vốn, lĩnh vực, mức độ sử
dụng lao động, tỷ lệ doanh số xuất khẩu Bằng các chính sách khuyến khích đầu tư tuỳ theo
9
các tiêu chí khác nhau mà Nhà nước định hướng các hoạt động đầu tư phát triển nhằm đạt các
mục tiêu phát triển KCN.
- Một số công cụ của chính sách đầu tư phát triển KCN: Để khuyến khích hay hạn
chế đầu tư phát triển KCN, thu hút đầu tư vào KCN một số ngành hay lĩnh vực, địa bàn cụ thể
nào đó, Nhà nước thường sử dụng một số công cụ chủ yếu như thuế, lãi su
ất, các công cụ ưu
đãi về giá các yếu tố đầu vào như giá cho thuê đất, giá thuê kết cấu hạ tầng, điện, nước, lao
động nhằm kích thích, thu hút đầu tư; các công cụ mang tính kỹ thuật như: quy hoạch phát
triển KCN, biện pháp hành chính (hạn chế cấp giấp phép đầu tư, cấm đầu tư, điều kiện đầu
tư); hỗ trợ về thủ tục hành chính nhằm giúp các doanh nghiệp giả
m bớt chi phí tài chính, thời
gian trong quá trình thực hiện các thủ tục đầu tư.
1.1.3. Khái niệm hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN
- Chu trình chính sách: Chính sách luôn được xem xét dưới góc độ hệ thống là chu
trình chính sách, bao gồm các hoạt động liên quan lẫn nhau được tiến hành từ khi vấn đề
chính sách nảy sinh cho đến khi nó được giải quyết bởi các chủ thể tham gia vào chu trình
này. Trên thực tế, mô hình chu trình chính sách có khác nhau về chi tiết, song nhìn chung có
thể quy về 3 giai đoạn cơ b
ản là: (i) hoạch định chính sách; (ii) thực thi chính sách và (iii)
đánh giá chính sách.
- Hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN: Từ nghiên cứu các quan niệm hoạch
định chính sách, luận án đưa ra khái niệm tổng quát về hoạch định chính sách đầu tư phát
triển KCN như sau:
Hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN là quá trình nghiên cứu, đề xuất ra một
chính sách bao gồm các mục tiêu đầu tư phát triển KCN, những giải pháp cần thiết được cơ
quan có thẩm quy
ền thông qua và ban hành chính sách dưới hình thức văn bản quy phạm.
Theo định nghĩa này, quá trình hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN mang
những đặc trưng chủ yếu sau:
+ Là một quá trình bao gồm một chuỗi các công việc liên hoàn, có ảnh hưởng lẫn nhau
và thúc đẩy lẫn nhau. Do đó, việc xác định rõ các giai đoạn của quá trình hoạch định chính
sách có ý nghĩa quan trọng để từ đó có thể định rõ phạm vi trách nhiệm và sự liên kết gi
ữa các
chủ thể tham gia xây dựng chính sách, phát huy vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước
trong quá trình này.
+ Tham gia vào quá trình hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN có nhiều chủ
thể tham gia; mỗi chủ thể có vai trò nhất định của mình trong việc hoạch định chính sách và
kết quả hoạch định chính sách của chủ thể này ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hành vi
hoạch định chính sách của chủ thể kia.
10
+ Thể hiện sự phân công, phối hợp giữa các chủ thể trong quá trình soạn thảo, thảo
luận, thông qua và ban hành chính sách dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Do đó,
cần phải có sự liên kết giữa các công đoạn trong quá trình hoạch định chính sách để đảm bảo
sự phối kết hợp và thống nhất với nhau, để vừa đảm bảo được tính khách quan, dân chủ, lại
vừa đảm bảo
được tính tập trung và thống nhất ý chí trong quá trình chuyển hóa các vấn đề lý
luận và thực tiễn vào trong cuộc sống thành các chính sách quản lý, điều hành của Nhà nước,
đồng thời vẫn phù hợp với định hướng chính trị của Đảng.
1.2. Nguyên tắc, nội dung các bước và nhân tố ảnh hưởng đến hoạch định chính
sách đầu tư phát triển KCN
- Các nguyên tắc hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN: (i) nguyên tắc vì lợi
ích công c
ộng; (ii) nguyên tắc quản lý; (iii) nguyên tắc hệ thống; (iv) nguyên tắc tập hợp các
quyết định; (v) nguyên tắc liên đới; (vi) nguyên tắc kế thừa lịch sử và (vii) nguyên tắc quyết
định đa số.
- Nội dung các bước hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN: Hoạch định chính
sách là một quá trình bao gồm một chuỗi các công việc liên hoàn được mô tả trong Hình vẽ
dưới đây:
+ Xác định vấn đề chính sách: Vấn đề
chính sách được hiểu là mâu thuẫn xuất hiện
trong đời sống kinh tế-xã hội hoặc một nhu cầu cần được đáp ứng, đòi hỏi Nhà nước ban
hành chính sách để giải quyết theo những mục tiêu mong muốn. Thực tiễn hiện nay có rất
nhiều các vấn đề về phát triển KCN, nhưng rõ ràng không thể giải quyết tất cả ngay một lúc,
do đó, trong số hàng loạt vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển của các KCN, các c
ơ
quan quản lý nhà nước phải lựa chọn ra những vấn đề cần thiết để đưa ra thành chính sách.
Căn cứ để xác định vấn đề cho các chính sách đầu tư phát triển KCN là tính quan trọng
và tính bức xúc của nó, được nhìn nhận như một mâu thuẫn ngày càng gay gắt hoặc cản trở
đối với sự phát triển bền vững của các KCN cũng như của đất nước.
Xác
định
mục
tiêu
Lập các
phương
án chính
sách
Chọn
phương
án tối
ưu
Xác
định căn
cứ
Xác
định
vấn đề
chính
sách
Ban
hành
chính
sách
11
+ Xác định căn cứ hoạch định chính sách: Để đưa ra quyết định chính xác về xây
dựng và ban hành một chính sách phát triển KCN cần xem xét trên một số căn cứ : định
hướng phát triển theo các quan điểm chính trị của Nhà nước trong mỗi thời kỳ; hệ thống pháp
luật hiện hành; điều kiện phát triển kinh tế-xã hội cụ thể của đất nước.
+ Xác định mục tiêu chính sách: Mục tiêu củ
a chính sách là những giá trị kinh tế-xã
hội mà chính sách đó phải đạt tới. Mục tiêu được đề ra phải dựa trên cơ sở vấn đề chính sách
đã được xác định và định hướng giải quyết vấn đề đó, trong đó có tính đến nguồn lực và khả
năng thực hiện mục tiêu của chính sách.
+ Dự thảo các phương án chính sách: Xuất phát từ đặc thù KCN là một phương thức
tổ ch
ức các hoạt động sản xuất công nghiệp tập trung, chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế-
xã hội khác nhau nên trong thực tế các nhà quản lý vĩ mô có thể giải quyết các vấn đề phát
sinh bằng nhiều cách khác nhau. Vì thế cần xây dựng nhiều phương án chính sách khác nhau
để giúp cho các cơ quan quản lý và đối tượng thực thi có điều kiện lựa chọn được phương án
tốt nhất.
+ Lựa chọn phươ
ng án chính sách tối ưu: Lựa chọn phương án chính sách là bước tiếp
theo của việc xây dựng chính sách, nhằm xác định được phương án tối ưu trong số các
phương án dự thảo chính sách. Tuy nhiên ở khâu này, việc lựa chọn không mang tính chất bộ
phận, chi tiết mà là sự lựa chọn mang tính hệ thống ở tầm bao quát toàn bộ chính sách. Để lựa
chọn phương án chính sách tối ưu, không nên dừng lại ở cấp hoạch đị
nh, mà cần mở rộng đến
các chủ thể tham gia thực thi hoặc chịu tác động của chính sách (như các doanh nghiệp kinh
doanh hạ tầng KCN, các doanh nghiệp thuê đất trong KCN và người dân sống trong khu vực
quy hoạch phát triển KCN) để vừa đảm bảo tính khách quan, vừa tạo nên sự đồng thuận giữa
chủ thể và khách thể trong quá trình lựa chọn.
+ Quyết nghị chính sách và công bố chính thức: Sau khi trải qua các bước từ xác định
vấn đề
đến lựa chọn phương án chính sách tối ưu, chúng ta đã có đầy đủ cơ sở để kết luận về
tính khả thi, tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách. Những kết luận đó cho phép quyết định có
đưa chính sách vào thực thi trong cuộc sống hay không, nếu đưa vào sử dụng thì cần phải
thực hiện các thủ tục pháp lý hoá chính sách.
Luận án cũng đã phân tích 3 mô hình hoạch định chính sách, đó là mô hình tiến hoá,
mô hình độc lập và mô hình hỗn hợp. Ở nước ta, việc hoạch định chính sách thường xuất phát
từ thực trạng hiện có để đưa ra những đề xuất đổi mới, song các phương án chính sách đề ra
luôn hướng tới tính hợp lý tối ưu, đồng thời cân nhắc các yếu tố tác động đến sự lựa chọn
quyết định.
Khi tiến hành hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN, ngoài việc d
ựa vào các
nguyên tắc hoạch định nêu trên, các nhà hoạch định chính sách còn phải chú ý tới một số
12
nhân tố có thể ảnh hưởng tới tính khả thi và hiệu lực của chính sách. Luận án đã chỉ ra 6 nhân
tố chủ yếu, đó là: tư duy, nhận thức của người lãnh đạo hoạch định chính sách; bối cảnh kinh
tế-xã hội trong và ngoài nước; sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là
ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành của Chính phủ; năng lực của đội ngũ cán b
ộ
hoạch định chính sách KCN; khả năng nguồn lực thực thi chính sách của Nhà nước; khả năng
tham gia của các đối tượng thực thi chính sách.
1.3. Kinh nghiệm hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN ở một số nước
và vùng lãnh thổ khu vực châu Á
Qua tìm hiểu tổ chức và phương thức hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN ở
Thái Lan, Malaysia, Đài Bắc Trung Quốc và một số nước khác ở
khu vực Châu Á, luận án rút
ra những bài học thành công, thất bại và một số kinh nghiệm cho Việt Nam để hoàn thiện
hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN như sau:
Thứ nhất, chính sách đầu tư phát triển KCN cần được xây dựng trên nền tảng vững
chắc của khoa học chính sách và theo cách tiếp cận thống nhất với chiến lược phát triển công
nghiệp dài hạn của quốc gia, gắn với mục tiêu phát tri
ển kinh tế-xã hội tổng thể và vì lợi ích
chung của cả đất nước.
Thứ hai, áp dụng mô hình hoạch định chính sách phù hợp với đặc thù phát triển của
đất nước trong từng giai đoạn.
Thứ ba, nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác dự báo, phân tích chính sách
ngay từ giai đoạn đề xuất chính sách để có thể đưa ra các giải pháp cụ thể và khoa học, làm cơ
sở cho việc so
ạn thảo văn bản thể chế hóa chính sách sau này.
Thứ tư, cần xây dựng một cơ chế khuyến khích và thu hút sự tham gia của các tổ chức,
cơ quan và cá nhân có liên quan vào quá trình hoạch định định chính sách.
Thứ năm, phân định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách, các cơ
quan có liên quan tham gia hoạch định chính sách; tăng cường tính trách nhiệm của các cơ
quan và cá nhân trong việc soạn thảo đề án chính sách.
Thứ sáu, cần coi trọng công tác thố
ng kê và thông tin dữ liệu về KCN.
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1. Tình hình thực hiện chính sách đầu tư phát triển KCN ở Việt Nam
13
Luận án đã khái quát các chính sách đầu tư phát triển KCN qua 4 giai đoạn: giai đoạn I
(1991-1995), giai đoạn II (1996-2000), giai đoạn III (2001-2005) và giai đoạn IV từ năm
2006 đến nay.
Tính đến cuối năm 2008, đã có 223 KCN, KCX (bao gồm 220 KCN và 03 KCX)
được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 57.264 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp
có thể cho thuê là 37.588ha, chiếm 65% tổng diện tích đất tự nhiên. Đến cuối năm 2008, các
KCN cả nước đã thu hút được 3.363 d
ự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký
khoảng 36,760 tỷ USD và 3.416 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư hơn 232,146
nghìn tỷ đồng. Hiện đã có 2.412 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 2.292 dự án đầu tư trong
nước tại các KCN cả nước đã đi vào sản xuất kinh doanh với tổng vốn đầu tư thực hiện
đạt
hơn 15,8 tỷ USD và 99,415 nghìn tỷ đồng (tương ứng với 38% và 49% tổng số vốn đăng ký
vào KCN). Trong năm 2008, các doanh nghiệp KCN đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp đạt
hơn 28,9 tỷ USD, chiếm 30% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước; giá trị xuất khẩu
đạt khoảng 14,5 tỷ USD, bằng 24,7% tổng giá trị xuất khẩu cả nước; nộp ngân sách đạt
khoảng 1,3 tỷ
USD; tạo việc làm cho trên 1,17 triệu lao động trực tiếp và khoảng 1,5 triệu lao
động gián tiếp.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, chính sách đầu tư phát triển
KCN thời gian qua vẫn còn nhiều tồn tại, trong đó nổi lên 4 vấn đề tồn tại lớn, đó là: (i) số
lượng các KCN tăng nhanh nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao; (ii) phát triển KCN chưa
bảo đảm bền vững trên các khía cạnh xã hội, môi trường; (iii) các KCN phát triển nhanh
nhưng chưa tính đến mục tiêu dài hạn về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu công nghệ và (iv) nguồn
nhân lực tại các KCN chưa đáp ứng được cả về chất lượng và số lượng.
2.2. Thực trạng hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN ở Việt Nam
- Từ những phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện nay quy đị
nh về hoạch định
chính sách nói chung và hoạch định chính sách đầu tư phát triển KCN nói riêng, luận án rút ra
một số nhận xét sau:
Thứ nhất, chưa có quy định rõ ràng về khái niệm chính sách, đề án chính sách, về quy
trình xây dựng đề án và nội dung cấu thành của đề án, mà chỉ có hướng dẫn về quy trình đăng
ký đề án vào chương trình xây dựng chính sách, pháp luật của Chính phủ, trong đó yêu cầu
thể hiện rõ tên đề án, tư tưởng nội dung chính của đề
án, cấp quyết định (Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ), thời hạn trình đề án.
Thứ hai, các quy định pháp luật về nội dung hoạch định chính sách được đề cập một
cách thiếu tập trung, thiếu thống nhất trong các loại văn bản quy phạm pháp luật với các thứ
bậc hiệu lực pháp lý khác nhau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét