Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
* Vai trò của nghiệp vụ bán hàng:
- Đối với xã hội: Bán hàng là một nhân tố hết sức quan trọng thúc đẩy
quá trình tái sản xuất cho xã hội. Nếu bán đợc nhiều hàng hoá tức là hàng
hoá đợc chấp nhận, bán đợc nhiều, do đó nhu cầu mới phát sinh cần có
hàng hoá mới cho nên điều tất yếu là cần tái sản xuất cũng nh mở rộng sản
xuất.
- Đối với thị trờng hàng hoá: bán hàng thực hiện quá trình trao đổi giá
trị. ngời có giá trị sử dụng (ngời sản xuất) lấy đợc giá trị sử dụng hàng hoá
và phải trả bằng giá trị.
- Đối với doanh nghiệp thơng mại: Với chức năng là trung gian nối
liền giữa sản xuất và tiêu dùng nên doanh nghiệp thơng mại có nhiệm vụ
cung cấp dịch vụ hàng hoá cho ngời tiêu dùng. Trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp thơng mại, quá trình lu chuyển hàng hoá đợc diễn ra nh
sau: Mua vào- Dự trữ - Bán ra, trong đó bán hàng hoá là khâu cuối cùng nh-
ng lại có tính chất quyết định đến khâu trớc đó. Bán hàng quyết định xem
doanh nghiệp có nên tiếp tục mua vào hay dự trữ nữa hay không? số lợng là
bao nhiêu? Vậy bán hàng là mục đích cuối cùng của doanh nghiệp thơng
mại cần hớng tới và rất quan trọng, nó quyết định đến việc thành công hay
thất bại của doanh nghiệp. Do đó thực hiện tốt khâu bán hàng sẽ giúp
doanh nghiệp thơng mại:
+ Thu hồi vốn nhanh, quay vòng tốt để tiếp tục hoạt động kinh doanh.
+ Đẩy mạnh tốc độ chu chuyển vốn lu động quản lý vốn tốt giảm
việc huy động vốn từ bên ngoài (lãi xuất cao).
+ Thực hiện tốt quá trình chu chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp
thơng mại, điều hoà lợng hàng hoá mua vào, dữ trữ bán ra hợp lý.
+ Xác định đợc kết quả kinh doanh để hoạch định kế hoạch kinh
doanh cho năm tiếp theo đợc tốt hơn.
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
5
Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
+ Hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nớc cũng
nh thực hiện nghĩa vụ thanh toán với các bên liên quan nh: ngân hàng, chủ
nợ,
Có thể thấy rằng nghiệp vụ bán hàng đóng vai trò quan trọng trong
doanh nghiệp thơng mại nhất là trong cơ chế thị trờng hiện nay cạnh tranh
rất khốc liệt. Do đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải tìm ra đợc chỗ
đứng cho riêng mình trên thơng trờng cũng nh mỗi doanh nghiệp thơng mại
cần phải tìm ra đợc biện pháp để thúc đẩy quá trình bán hàng để đứng vững
và ngày càng phát triển hơn trong thị trờng này. Doanh nghiệp thơng mại
cần quan tâm tới chất lợng hàng hoá, giá cả, các dịch vụ sau bán, chính
sách thu hút khách hàng (quảng cáo, tiếp thị, giảm giá )
Nếu trong kinh doanh, quá trình bán hàng đợc thực hiện trôi chảy thì
các quá trình khác cũng sẽ đợc thực hiện tốt do chúng có mối quan hệ ảnh
hởng trực tiếp đến nhau.
II. đặc điểm của nghiệp vụ bán hàng
1. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán nghiệp vụ bán hàng.
a. Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng.
ở bất cứ một hoạt động nào của xã hội yêu cầu quản lý cũng đợc đặt
ra hết sức quan trọng và cần thiết. ở hoạt động bán hàng, vấn đề quản lý đ-
ợc đặt ra với bộ phận kế toán bán hàng là rất cần thiết.
Kế toán bán hàng cần hạch toán chi tiết tình hình biến động của từng
mặt hàng tiêu thụ, cần quản lý từng khách hàng về số lợng mua nh thanh
toán công nợ, quản lý doanh thu của từng khách hàng qua đó biết đợc từng
mặt hàng nào tiêu thụ nhanh hay chậm, từ đó có những biện pháp quản lý
xúc tiến hoạt động kinh doanh một cách hợp lý.
Ngoài ra, nghiệp vụ bán hàng có nhiều phơng thức bán hàng khác
nhau do đó hiệu quả kinh doanh của từng phơng thức cũng khác nhau do số
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
6
Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
lợng, giá cả hàng hoá và phơng thức thanh toán của từng phơng thức bán
hàng.
Vấn đề đặt ra đối với nhà quản lý là phải ghi chép, đối chiếu , so sánh
chính xác để xác định đợc phơng thức bán hàng hiệu quả nhất cho doanh
nghiệp mình. Do bán hàng là quá trình chuyển hoá tài sản của doanh
nghiệp từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ, cho nên quản lý nghiệp
vụ bán hàng phải quản lý cả hai mặt tiền và hàng. Tiền liên quan đến tình
hình thu hồi tiền bán hàng, tình hình công nợ và thu hồi công nợ của khách
hàng điều này yêu cầu kế toán cũng nh thủ quỹ phải quản lý theo từng
khách hàng, từng khoản nợ tiếp theo từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Hàng
liên quan đến quá trình bán ra, dự trữ hàng hoá , các khoản giảm trừ, chiết
khấu thơng mại, giảm giá hàng bán Để đảm bảo tính liên tục trong kinh
doanh phải có thông tin về tình hình hàng hoá bán ra, trả lại để có kế hoạch
kinh doanh ở kỳ tiếp theo một cách kịp thời. Thêm vào đó kế toán phải th-
ờng xuyên kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng và thực hiện các
chính sách có liên quan đến hoạt động đó: giá cả, chi phí bán hàng, quảng
cáo tiếp thị đồng thời phải tính toán và đa ra kế hoạch về hoạt động đó
một cách hợp lý.
b. Nhiệm vụ của kế toán bán hàng
Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần các thông tin, số liệu chi
tiết, cụ thể về hoạt động của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp th-
ơng mại thì cần phải có số liệu thống kê về hoạt động bàn hàng là đầu ra
của mình. Từ những thông tin này có thể biết mức độ tiêu thụ, phát hiện kịp
thời những sai sót trong quá trình quản lý, luân chuyển hàng hoá để từ đó
có những biện pháp cụ thể thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngày càng phát
triển. Do đó, kế toán nghiệp vụ bán hàng cung cấp các số liệu liên quan đến
tình hình tiêu thụ hàng hoá có những đặc điểm cơ bản sau:
- Ghi chép, phản ánh kịp thời chính xác đầy đủ tình hình bán hàng
của doanh nghiệp trong kỳ. Ngoài kế toán tổng hợp trên từng tài khoản, kế
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
7
Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
toán bán hàng cần phải theo dõi, ghi chép về số lợng, kết cấu loại hàng bán,
ghi chép doanh thu bán hàng, thuế GTGT đầu ra của từng nhóm, mặt hàng
theo từng đơn vị trực thuộc.
- Tính toán giá mua thực tế của từng mặt hàng đã tiêu thụ, nhằm xác
định kết quả bán hàng.
- Kiểm tra tình hình thu tiền bán hàng và quản lý tiền bán hàng: đối
với hàng hoá bán chịu cần phải mở sổ sách ghi chép theo từng khách hàng,
lô hàng, số tiền khách hàng nợ, thời hạn và tình hình trả nợ.
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin cần thiết về tình
hình bán hàng phục vụ cho việc chỉ đạo, điều hành hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
2. Các phơng thức bán.
Bán hàng là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ hình thái hàng
hoá sang hình thái tiền tệ. Đây chính là giai đoạn cuối cùng và cũng là khâu
quan trọng nhất trong toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thơng
mại.
Các doanh nghiệp thơng mại có thể bán hàng theo các phơng thức và
hình thức khác nhau sau:
a.Bán buôn
Bán buôn là phơng thức bán hàng cho các đơn vị. tổ chức kinh tế
khác nhằm mục đích tiếp tục chuyển bán hoặc tiêu dùng cho sản xuất.
Hàng hoá bán buôn là hàng hoá vẫn nằm trong lĩnh vực lu thông, cha
đi vào lĩnh vực tiêu dùng vì vậy giá trị sử dụng của hàng hoá cha đợc thực
hiện. Hàng thờng đợc bán với số lợng lớn.
Ưu điểm của phơng thức này thời gian thu hồi vốn nhanh, có điều
kiện để đẩy nhanh vòng quay của vốn và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Tuy nhiên phơng thức này có nhợc điểm là chi phí lớn, tăng nguy cơ
ứ đọng, d thừa hàng hoá.
Có hai hình thức bán buôn chủ yếu:
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
8
Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
* Bán buôn qua kho: Là phơng thức bán buôn hàng hoá mà trong đó
hàng bán phải đợc xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp, trong phơng
thức này có hai hình thức.
- Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Căn cứ vào
hợp đồng đã ký kết, bên mua cử cán bộ đến nhận hàng tại kho của doanh
nghiệp. Khi nhận hàng xong, ngời nhận hàng ký nhận vào hoá đơn bán
hàng và hàng đó đợc xác định là tiêu thụ.
- Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: theo hình thức này,
doanh nghiệp xuất kho hàng hoá, dùng phơng tiện vận tải của mình hoặc đi
thuê ngoài, chuyển đến kho của bên mua hợc địa điểm quy định trong hợp
đồng. Hàng hoá chuyển bán nhng vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp cho nên hàng cha đợc xác định là tiêu thụ và cha ký nhận doanh thu.
Hàng hoá chỉ đợc xác định là tiêu thụ khi nhận đợc giấy báo của bên mua
nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán hoặc giấy báo có của ngân hàng
bên mua đã thanh toán tiền hàng. Chi phí bán hàng do hai bên thoả thuận,
nếu doanh nghiệp thơng mại chịu ghi vào chi phí bán hàng, nếu bên mua
chịu thì phải thu tiền của bên mua.
* Bán buôn vận chuyển thẳng: Theo phơng thức này, doanh nghiệp
thơng mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua không đa về nhập kho mà
chuyển bán thẳng cho bên mua. Phơng thức này có thể thực hiện theo hai
hình thức sau:
- Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (còn
gọi là hình thức giao tay ba): doanh nghiệp thơng mại sau khi mua hàng,
giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho ngời bán. Sau khi giao,
nhận, đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hàng
hoặc chấp nhận nợ, hàng đợc xác nhận là tiêu thụ.
- Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Hàng hoá
doanh nghiệp mua của nhà cung cấp không chuyển về nhập kho mà gửi đi
bán thẳng. Hàng đợc gửi đi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp cho
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
9
Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
đến khi nhận đợc thông báo chấp nhận thanh toán của khách hàng thì
quyền sở hữu về hàng hoá mới đợc chuyển giao cho khách hàng, hàng hoá
chuyển đi mới đợc xác định là tiêu thụ.
b. Bán lẻ.
Bán lẻ là hình thức bán hàng trực tiếp cho ngời tiêu dùng hoặc các tổ
chức kinh tế
Hàng hoá bán lẻ đã ra khỏi lĩnh vực lu thông và đi vào lĩnh vực tiêu
dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng đã đợc thực hiện. Khối lợng khách
hàng lớn, khối lợng hàng bán nhỏ, hàng hoá phong phú về mẫu mã, chủng
loại và thờng xuyên biến động theo nhu cầu thị trờng.
Ưu điểm: Doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách
hàng, do vậy có thể nắm bắt nhanh nhạy đối với sự thay đổi của nhu cầu, sự
thay đổi của thị hiếu tiêu dùng, từ đó có những biện pháp, phơng án thích hợp.
Nhợc điểm: Khối lợng hàng hoá bán ra chậm, thu hồi vốn chậm.
c. Phơng thức bán hàng trả góp:
Theo phơng thức này, khi giao hàng cho ngời mua thì hàng hoá đợc
coi là tiêu thụ. Ngời mua phải thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua
một phần số tiền, số tiền còn lại đợc trả hàng tháng và phải chịu một lãi
suất nhất định. Thông thờng giá bán trả góp thờng lớn hơn giá bán theo ph-
ơng thức thông thờng.
d. Phơng thức bán hàng đại lý, ký gửi:
Đối với hàng hoá nhận đại lý thì đây không phải là hàng hoá của
doanh nghiệp, nhng doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn.
Khi nhận hàng hoá đại lý, ký gửi, kế toán ghi đơn tài khoản 003 và phải mở
sổ (thẻ) chi tiết để ghi chép phản ánh cụ thể theo từng mặt hàng. Đơn vị
nhận đợc một khoản hoa hồng theo tỉ lệ khi bán đợc hàng.
3. Các phơng thức thanh toán.
Công tác bán hàng trong doanh nghiệp thơng mại có thể tiến hành
theo nhiều phơng thức, hình thức khác nhau nhng việc bán hàng nhất thiết
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
10
Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
phải gắn với việc thanh toán với ngời mua. Việc thanh toán với ngời mua đ-
ợc tiến hành theo các phơng thức chủ yếu sau:
- Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt hoặc phơng thức hàng đổi
hàng:Việc giao hàng và thành toán tiền hàng đợc thực hiện ở cùng một thời
điểm và giao hàng ngay tại doanh nghiệp, do vậy việc bán hàng đợc hoàn
tất ngay khi giao hàng và nhận tiền.
- Thanh toán chậm: Hình thức này có đặc trng cơ bản là từ khi giao
hàng tới lúc thanh toán hàng có một khoản thời gian nhất định (tuỳ thuộc
vào hai bên mua, bán).
- Thanh toán qua ngân hàng: có hai hình thức.
+ Thanh toán bằng phơng thức chuyển khoản qua ngân hàng với điều
kiện ngời mua đã chấp nhận thanh toán, việc bán hàng đợc xem là đã đợc thực
hiện, doanh nghiệp chỉ cần theo dõi việc thanh toán với ngời mua.
+ Thanh toán bằng phơng thức chuyển khoản qua ngân hàng với điều
kiện ngời mua có quyền từ chối không thanh toán một phần hoặc toàn bộ
giá trị hàng mua do khối lợng hàng gửi đến cho ngời mua không phù hợp
với hợp đồng về số lợng hoặc chất lợng và quy cách: hàng hoá đợc chuyển
đến cho ngời mua nhng cha thể xem là bán hàng, doanh nghiệp cần theo
dõi tình hình chấp nhận hay không chấp nhận để xử lý trong thời hạn quy
định đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp.
4. Thời điểm ghi nhận doanh thu
Doanh thu đợc xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu về
hoặc sẽ thu đợc. Doanh thu phát sinh từ giao dịch đợc xác định bởi thoả
thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó đợc xác
định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu đợc sau khi trừ
các khoản chiết khấu thơng mại, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị
trả lại.
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
11
Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
Khi hàng hoá hoặc dịch vụ đợc trao đổi để lấy hàng hoá hoặc dịch vụ
khác không tơng tự thì việc trao đổi đó đợc coi là một giao dịch tạo ra
doanh thu.
Trờng hợp này doanh thu đợc xác định bằng giá trị hợp lý của hàng
hoá hoặc dịch vụ nhận về sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tơng đơng
tiền trả thêm hoặc thu nhập thêm. Khi không xác định đợc giá trị hợp lý của
hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu đợc xác định bằng giá trị hợp
lý của hàng hoá hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản
tiền hoặc tơng đơng trả thêm hoặc thu thêm.
Doanh thu bán hàng đợc ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả các
điều kiện sau:
- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu hàng hoá hoặc sản phẩm cho ngời mua.
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá nh ngời
sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá.
- Doanh thu đợc xác định tơng đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu đợc hoặc sẽ thu đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch
bán hàng.
- Xác định đợc chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và
lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá cho ngời mua trong từng trờng
hợp cụ thể. Trong hầu hết các trờng hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn
rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp
pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hoá cho ngời mua.
Trờng hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với
quyền sở hữu hàng hoá thì giao dịch không đợc coi là hoạt động bán hàng
và doanh thu không đợc ghi nhận. Doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro gắn
liền với quyền sở hữu hàng hoá dới nhiều hình thức khác nhau nh:
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
12
Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
- Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản đợc
hoạt động bình thờng mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo
hành thông thờng.
- Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn cha chắc chắn vì phụ thuộc
vào ngời mua hàng hoá đó.
- Khi hàng hoá đợc giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là một
phần quan trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp cha hoàn thành.
- Khi ngời mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó
đợc nêu trong hợp đồng và doanh nghiệp cha chắc chắn về khả năng hàng
bán có bị trả lại hay không.
Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với
quyền sở hữu hàng hoá thì việc bán hàng đợc xác định và doanh thu đợc ghi
nhận.
Doanh thu bán hàng đợc ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp
nhận đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch. Trờng hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch
bán hàng còn phụ thuộc vào yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh
thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong. Nếu doanh thu đã đợc
ghi nhận trong trờng hợp cha thu đợc tiền thì khi xác định khoản tiền nợ
phải thu này là không thu đợc thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh
doanh trong kỳ và không đợc ghi giảm doanh thu. Khi xác định khoản phải
thu là không chắc chắn đợc thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà
không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định
thực sự là không đòi đợc thì bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó
đòi.
Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải đợc ghi
nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Các chi phí bao gồm cả chi phí
phát sinh sau ngày giao hàng (nh chi phí bảo hành và chi phí khác), thờng
đợc xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu đợc thoả mãn.
Các khoản tiền nhận trớc của khách hàng không đợc ghi nhận là doanh thu
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
13
Luận văn tốt nghiệp Bùi Xuân Thọ
mà đợc ghi nhận là một khoản nợ phải trả tại thời điểm nhận tiền trớc của
khách hàng. Khoản nợ phải trả về số tiền nhận trớc của khách hàng chỉ đợc
ghi nhận là doanh thu khi đồng thời thoả mãn 5 điều kiện quy định ở trên.
III. phơng pháp xác định giá bán, giá vốn hàng hoá
1. Phơng pháp xác định giá bán hàng hoá.
Giá bán hàng hoá là một trong những nhân tố có tác động lớn đến thị
trờng. Giá cả kích thích hoặc hạn chế cung, cầu, do đó ảnh hởng đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, đối với doanh nghiệp thơng
mại, việc xác định đúng đắn giá bán một cách hợp lý sẽ đảm bảo khả năng
tiêu thụ, tránh ứ đọng vốn, hạn chế thua lỗ, bù đắp chi phí và có lãi.
Giá bán đợc xác định theo công thức sau:
Giá bán = Giá mua + Thặng số thơng mại
Trong đó:
= Giá mua x
Trong thực tế kinh doanh, việc quyết định một mức giá phù hợp là
một vấn đề phức tạp đòi hỏi nhà kinh doanh phải có tầm nhìn bao quát,
phải có khả năng kiểm soát nghiên cứu các yếu tố để quyết định mức giá
cho phù hợp. Việc xác định mức giá phải đạt các mục tiêu sau:
- Giá bán phải kích thích khối lợng hàng hoá bán ra.
- Xác định giá bán phải đảm bảo cho doanh nghiệp thu đợc lợi nhuận.
Giá bán cao hay thấp tuỳ thuộc vào khối lợng bán ra và phơng thức bán
hàng, nhng phải đảm bảo nguyên tắc bù đắp đợc các chi phí bỏ ra và hình
thành lợi nhuận dự kiến, tuy nhiên phải phù hợp với giá cả thị trờng.
Đối với các doanh nghiệp tính thuế theo phơng pháp khấu trừ thì giá
mua, giá bán và các chi phí liên quan (nếu có) là giá cha có thuế. Đối với
doanh nghiệp tính thuế theo phơng thức trực tiếp thì giá bán, giá mua và
các chi phí liên quan (nếu có) là giá đã có thuế.
2. Phơng pháp tính giá vốn hàng hoá.
Khoa Kế toán - Tài chính Lớp: K31- DK1
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét