Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những hình thức hợp tác quốc tế
hữu hiệu nhất hiện nay, là một hình thức quan trọng phổ biến trong mối quan
hệ kinh tế. Nó ra đời, tồn tại và phát triển là kết quả tất yếu của xu hướng
quốc tế hóa đời sống kinh tế xã hội và quá trình phân công lao động mở rộng
trên phạm vi toàn thế giới
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được xem như chiếc chìa khóa của
sự tăng trưởng kinh tế mỗi nước. Ngày nay việc thu hút vốn đầu tư FDI
không chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển mà còn cả ở các nước tư bản
phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu… Do vậy đã diễn ra một cuộc cạnh
tranh gay gắt để tìm kiếm nguồn vốn FDI. Quốc gia nào có sức hấp dẫn hơn,
có môi trường đầu tư thông thoáng hơn và thuận lợi hơn sẽ có nhiều thuận
lợi trong cuộc cạnh tranh này. Rõ ràng thu hút FDI mang tính quy luật chung
đối với tất các các nước, trong đó có Việt Nam.
Về mặt kinh tế, FDI là một hình thức đầu tư quốc tế được đặc trưng bởi
quá trình di chuyển tư bản từ nước này sang nước khác, trong đó chủ sở hữu
đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu
tư. Thực chất FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng cơ sở, chi
nhánh của nước ngoài và làm chủ từng phần hay toàn bộ cơ sở đó. Đây là
hình thức đầu tư mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào
lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành
đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), FDI là số vốn đầu tư được thực hiện để
thu lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế khác
với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng
nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó.
Định nghĩa này nhấn mạnh động cơ đầu tư và phân biệt FDI với đầu tư
gián tiếp (Portfolio Investment). Đầu tư gián tiếp có đặc trưng cơ bản là
nhằm thu hút được lợi nhuận từ việc mua bán các tài sản tài chính ở nước
ngoài, nhà đầu tư không quan tâm đến quá trình quản lý doanh nghiệp.
Trong khi đó, với đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư giành quyền kiểm soát các
quá trình quản lý.
Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì:
FDI là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam
vốn bằng tiền hoặc máy móc, thiết bị vật tư, khoa học công nghệ…được
chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng,
thành lập doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
hoặc thự hiện các dự án nước chủ nhà và đảm bảo lợi tức cổ phần nếu có.
FDI là hình thức chuyển giao lớn nhất về vốn, công nghệ, kinh nghiệm
quản lý thị trường
Từ những nhận xét trên có thể đưa ra định nghĩa về FDI như sau:
5
FDI là một hình thức di chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế.
Trong đó, một công ty (thường là công ty xuyên quốc gia) tạo ra hoặc mở
rộng chi nhánh ở nước khác, đầu tư để mở rộng thị trường, thiết lập quyền
sở hữu từng phần hoặc toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý quyết định
kinh doanh, cùng các đối tác nước sở tại chia sẻ rủi ro và hưởng lợi.
1.1.1.2 Các hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong thực tiễn, hoạt động FDI có nhiều hình thức tổ chức cụ thể khác
nhau tùy theo tính chất pháp lý và vai trò của mỗi bên trong quá trình hợp
tác đầu tư. Theo Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam những hình
thức FDI được áp dụng là:
1.1.1.2.1. Hơp đồng hợp tác kinh doanh
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa hai bên hoặc
nhiều bên để tiến hành đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam, trong đó quy định
trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên ma không thành
lập pháp nhân mới. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được hợp
tác với tổ chức, cá nhân ngươi ngoài đê thực hiện hợp đồng hợp tác kih
doanh.
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên
hợp doanh ký
- Trong quá trình kinh doanh, các bên hợp doanh được thỏa thuận thành
lập Ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh
doanh. Ban điều phối hợp tác kinh doanh không phải là đại diện pháp lý cho
các bên hợp doanh. Mỗi bên hợp doanh vẫn giữ pháp nhân riêng của mình
và tự quản lý, thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo hệ thống pháp luật khác
nhau: Bên Việt Nam theo luật pháp trong nước, bên nước ngoài theo luật
đầu tư nước ngoài
1.1.1.2.2. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam
trên cơ sở hợp đồng liên doan kkys giữa bên hoặc các bên Việt Nam với bên
hoặc các bên nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Doanh nghiệp
bên liên doanh mới là doanh nghiệp được thành lập giữa doanh nghiệp liên
doanh đã được phép hoạt động tại Việt Nam với nhà đầu tư nước ngoài hoặc
với Doanh nghiệp Việt Nam hoặc với doanh nghiệp liên doanh, Doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được phép hoạt động tại Việt Nam. Trong
6
trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp liên doanh có thể được thành lập trên cơ
sở hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài.
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hìh thức công ty trách
nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, tự chủ về tài
chính theo pháp luật, vốn pháp định do các bên liên doanh đóng góp, lợi
nhuận và rủi ro phân chia theo lượng vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh có
con dấu riêng, hoạt động trên nguyên tắc thanh toán độc lập, mỗi bên liên
doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia.
1.1.1.2.3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Theo điều 21 của Luật đầu tư nước ngoài (đã được sửa đổi và bổ xung).
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà
đầu tư nước ngoai, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản
lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp lý theo pháp luật Việt Nam, được
thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp phép đầu tư.
Ngoài 3 hình thức chủ yếu nêu trên đã được thực hiện tại Việt Nam còn
có nhiều hình thức khác tùy theo mục đích và đặc điểm trong yêu cầu tiếp
nhận đầu tư như sau:
- Hợp đồng Xây dựng-Kinh doanh-Chuyển giao (Build-Operate-
Tranfer-BOT): Là văn bản ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của
Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dưng, kinh doanh công trình kết
cấu hạ tầng trong một thời gian nhât định, hết thời hạn, nhà đầu tư nước
ngoài bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam. Nhà đầu tư nắm
quyền sở hữu, quản lý công trình BOT trong thời hạn hợp đồng.
- Hợp đồng Xây dựng-chuyển giao-Kinh doanh BOT
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. Sau
khi xây duwgj xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho
Việt Nam. Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công
trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư va lợi nhuận hợp
lý
- Hợp đồng Xây dựng và chuyển giao BT
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam
và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. sau
khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho
nhà nước Việt Nam, chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước
ngoài thực hiện các dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
7
1.1.2. Bản chất và đặc điểm chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1. Bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài được quy định bởi những
quy luật kinh tế hoàn toàn khách quan với những điều kiện cần và đủ chín
muồi nhất định, nó chỉ là một trong số nhưng mặt biểu hiện ra bên ngoài của
quá trình phân công lao động quốc tế và xã hội hóa sức sản xuất xã hội trên
quy mô quốc tế. Những nhân tố tác động khác có thể kìm hãm hay đẩy
nhanh hơn việc mở rộng dòng di chuyển vốn, song nếu kìm hãm cũng không
thể dập tắt được đường đi của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nhưng nơi có
lợi thế so sánh tốt hơn hoặc nếu có thúc đẩy cũng không vượt qua được
những điều kiện thực tế hiện có cho phép những điều kiện cần và đủ cả nơi
đầu tư lẫn nơi nhận đầu tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể xem là yếu tố tác động làm tạo ra
những bước thay đổi nhận thức ngày càng đúng hơn và chủ động hơn của
con người đối với quy luật kinh tế khách quanh về sự phát triển sức sản xuất
xã hội và phân công lao động xã hội đang mở ra một cách thực tế trên quy
mô quốc tế. Xu hướng này có ý nghĩa quyết định trong việc chi phối các
biểu hiện vận động khác nhau của đầu tư nước ngoài.
Quan hệ kinh tế quốc tế đã hình thành nên các dòng lưu chuyển vốn chủ
yếu: Dòng vốn từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển, dòng
vốn lưu chuyển trong nội bộ các nước đang phát triển. Sự lưu chuyển của
các dòng vốn diễn ra dưới nhiều hình thức như: Tài trợ phát triển chính thức
(gồm viện trợ phát triển chính thức ODA và các hình thức khác), nguồn vay
tư nhân (tín dụng từ các ngân hàng thương mại) và đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Mỗi nguồn vốn có đặc điểm riên của nó.
- Nguồn tài trợ phát triển chính thức là nguồn vốn do các tổ chức
quốc tế, chính phủ (hoặc đại diện của chính phủ) cung cấp. Loại vốn này có
đặc điểm là có sự ưu đãi nhất định về lãi suất, khối lượng cho vay lớn, và
thời hạn cho vay tương đối dài. Để giúp các nước đang phát triển, trong loại
vốn này đã giành một lượng vốn chủ yếu cho vốn viện trợ phát triển chinhs
thức-ODA, đây là loại vốn có nhiều ưu đãi, trong ODA, có một phần là viện
trợ không hoàn lại, phần này thường khoảng 25% tổng số vốn. Đây là điểm
khác biệt giữa viện trợ và cho vay, tuy vậy không phải khoản ODA nào cũng
dễ dàng, nhất là loại vố do các chính phủ cung cấp, nó thường găn với nhưng
ràng buộc nào đó về chính trị, kinh tế, xã hội, thậm chí cả về quân sự.
8
- Nguồn vay tư nhân: Đây là nguồn vốn thương không có những
điều kiện ràng buộc như vốn ODA, tuy nhiên đây là loại vốn có thủ tục cho
vay rất khắt khe, mức lãi suất cao, thời hạn trả nợ nghiêm ngặt.
Nhìn chung, sử dụng hai loại vốn trên đều để lại cho nền kinh tế của các
nước đi vay gánh nặng về nợ nần, một trong những yếu tố chứa đựng tiềm
ẩn về nguy cơ dẫn đến khủng hoảng, nhất là khủng hoảng về tiền tệ.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, đầu tư trực tiếp nước ngoài là
loại vốn có nhiều ưu điểm hơn so với các loại vốn kể trên. Nhất là đối với
các nước đang phát triển, khi khả năng tổ chức sản xuất đạt hiệu quả còn
thấp thì ưu điểm đó càng rõ rệt.
Về bản chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự gặp nhau về nhu cầu của
một bên là nhà đầu tư và một bên là nước nhận đầu tư
Đối với nhà đầu tư
Khi quá trình tích tụ tập trung vốn đạt tới một trình độ mà “mảnh đất” sản
xuất kinh doanh truyền thống của họ đã trở nên chật hẹp đến mức cản trở
khả năng hiệu quả của đầu tư, nơi mà ở đó nếu đầu tư vào, họ thu được số
lợi nhuận không được như ý muốn. Trong khi ở một số quốc gia khác xuất
hiện lợi thế mà họ có thể khai thác để thu được lợi nhuận cao hơn nơi mà họ
đang đầu tư. Có thể nói đây là yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy các nhà đầu tư
chuyển vốn của minh ra đầu tư ở nước khác, hay nói cách khác, việc tìm
kiếm theo đuổi lợi nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh
tranh là bản chất, là động cơ, là mục tiêu tư bản, xuyên suốt của các nhà tư
bản.
Thực chất, cơ bản bên trong của đầu tư nước ngoài bao gồm: Duy trì và
nâng cao hiệu quả sản xuất của chủ đầu tư (vấn đề vốn, kỹ thuật, sản
phẩm…). Khai thác các nguôn lực và xâm nhập thị trường của các nước
nhận đầu tư, tranh thủ lợi dụng chính sách khuyến khích của nước nhận
được đầu tư. Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp để thực hiện các ý đồ
kinh tế hoặc phi kinh tế mà các hoạt động khác không thực hiện được.
Đối với nước nhận đầu tư
Đây là những nước đang có một số lợi thế mà họ chưa có hoặc không có
điều kiện để khai thác. Các nước nhận đầu tư thuộc loại này thương là có
nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú, có nguồn lao động dồi
dào và giá nhân công rẻ, thiếu vốn, thiếu kĩ thuật, thiếu công nghệ tiên
tiến…Số này phần lớn thuộc các nước đang phát triển.
Các nước nhận đầu tư thuộc dạng khác, đó là các nước phát triển, đây llà
các nước có tiềm lực kinh tế cao, phần lớn là những nước có vốn đầu tư ra .
9
nước ngoài. Các nước này có đặc điểm là có cơ sở hạ tầng tốt, họ đã và đang
tham gia có hiệu quả vào quá trình phân công lao động quốc tế hoặc là thành
viên của các tổ chức kinh tế. Họ nhận đầu tư trong mối liên kết để giữ
nguyên quyền chi phối kinh tế thế giới.
Nói chung, đối với nước tiếp nhận đầu tư nước ngoài cho dù ở trình độ
phát triển cao hay thấp, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là do sự khéo léo
“ mời chào” hay do các nhà đầu tư tự tìm đến mà có. Những mức độ khác
nhau đầu tư trực tiếp nước đóng vai trò là nguồn vốn bổ xung, là điều kiện
quyết định sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực của một số lĩnh vực
sản xuất kinh doanh, là cơ hội, là cửa ngõ giúp nhiều nước thoát khỏi tình
trạng của một nước nghèo, bước vào quỹ đạo của sự phát triển và thực hiện
công nghiệp hóa.
1.1.2.2. Đặc điểm chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- FDI trở thành hình thức đầu tư chủ yếu trong đầu tư nước ngoài
Xét về ưu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất
lượng trong nền kinh tế thế giới. Gắn trực tiếp với quá trình sản xuất trực
tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều rộng và tạo
thành cơ sở của hoạt động của các công ty xuyên quốc gia và các doanh
nghiệp xuyên quốc tế.
- FDI đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển
Có nhiều lý do giải thích cho mức độ đầu tư cao giữa các nước công
nghiệp phát triển với nhau nhưng có thể thấy được hai nguyên nhân chủ yếu
sau:
Thứ nhất: Môi trường đầu tư ở các nước phát triển có độ tương hợp cao.
Môi trường này hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường công nghệ và
môi trường pháp lý
Thứ hai: Xu hướng khu vực hóa đã thúc đẩy các nước này xâm nhập thị
trường cuuả nhau
Từ hai lý do này ta có thể giải thích được xu hướng đang lên của FDI ở
các nước công nghiệp mới (NICs), các nước ASEAN và Trung Quốc. Ngoài
ra xu hướng tự do hóa và mở cửa nền kinh tế của ác nước đang phát triển
trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự thay đổi của dòng
chảy FDI.
Cơ cấu và phương thức FDI trở nên đa dạng hơn
Trong những năm gần đây cơ cấu và phương thức đầu tư trực tiếp nước
ngoài trở nên đa dạng hơn so với trước đây, điều này liên quan đến sự hình
thành hệ thống phân công lao động quốc tế thương mại toàn cầu.
10
Về cơ cấu, FDI đặc biệt là FDI vào các nước công nghiệp phát triển có
những thay đổi sau:
Vai trò và tỷ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao
tăng lên. Hơn 1/3 FDI tăng lên hàng năm là tập trung vào các ngành then
chốt như điện tử, chế tạo máy tính, chất dẻo, hóa chất. Trong khi đó nhiều
ngành công nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và là động, FDI giảm tuyệt
đối hoặc không đầu tư.
Tỷ trọng của các ngành công nghiẹp chế tạo giảm xuống trong khi FDI
vào các nghành dịch vụ tănh lên. Một số lĩnh vực được ưu tiên là dịch vụ
thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và giải trí.
Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa FDI và ODA, thương mại và chuyển
giao công nghệ
- FDI và thương mại có liên quan chặ chẽ với nhau. Thông thường một
chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào mục đích tăng
tiềm năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước ngoài được
lựa chọn ngành và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
- FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công
nghệ. Xu hướng hiện nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn
bó chặt chẽ với nhau. Đây chính là hìh thức có hiệu quả nhất của sự lưu
chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế.
- Sự gắn bó giữa FDI và ODA cũng là một đặc điểm nổi bật của sự lưu
chuyển các nguồn vốn, công nghệ trên phạm vi quốc tế trong nhưng năm
gần đây. Hơn nưa xu hướng này sẽ ngày càng trở nên mạnh hơn.
1.1.3. Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một đất
nước
1.1.3.1. Đối với nước đầu tư
Đối với nước đầu tư, đầu tư trực tiếp mang lại cho họ nhưng lợi ích sau
đây:
Thứ nhất, bằng đầu tư ra nước ngoài, họ tận dụng được nhưng lợi thế về
chi phí sản xuất thấp của nước nhận đầu tư (do giá nhân công rẻ, chi phí khai
thác nguyên vật liệu tại chỗ thấp) để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phi
vận chuyển đối với việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu của nước nhận
được đầu tư, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.
Thứ hai, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phép các công ty nay kéo dài
chu kỳ sống của sản phẩm mới được chế tao ra trong nước. Thông qua đầu
tư trực tiếp, các công ty của các nước phats triển chuyển được một phần các
sản phâm công nghệ ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống của chún sang các
11
nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng như sản phẩm mới ở các nước này, nhờ
đó mà tiếp tục duy trì được việc sử dụng các sản phẩm này, tạo thêm lợi
nhuận cho nhà đầu tư.
Thứ ba, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các công ty đi đầu tư xây dựng
được thị trường cung cấp tài nguyên ổn định với giá phải chăng. Nhiều nước
nhận đầu tư có tài nguyên dồi dao nhưng do hạn chế về tiền vốn, kỹ thuật,
công nghệ cho nên những tài nguyên đó chưa được khai thác, sử dụng một
cách có hiệu quả. Thông qua việc đầu tư khai thác vào những ngành tâì
nguyên, các nước chủ đầu tư đã tận dụng được những nguồn nguyên liệu
đó, nhập khẩu để phục vụ cho ngành sản xuất ở nước mình.
Thứ tư, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phép các nước chủ đầu tư bành
trướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị tăng cường ảnh
hưởng của minh trên thị trường quốc tế. Thông qua xây dựng nhà máy sản
xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, mà các nước xuất khẩu vốn mở
rộng được thị trường tiêu thụ, tránh đước hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các
nước. Nhờ đó mà giảm được giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh với
hàng hóa nhập khẩu từ nước khác.
Xét cho cùng thì mục tiêu chủ yếu của các chủ đầu tư ra nước ngoài là
làm cho đồng vốn được sử dụng hiệu quả cao nhất
1.1.3.2. Đối với nước nhận đầu tư
Để phát triển kinh tế xã hội các nước đang phát triển trước hết đều phải
đương đầu với sự thiếu vốn gay gắt, các yếu tố cần thiết cho sự phát triển.
Việc tiếp nhận FDI có tác dụng sau:
Thứ nhất: FDI giải quyết tình trạng thiếu vốn cho các nước này. Trong
giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, các nước chậm và đang phát triển đều
gặp phải vấn đề nan giải là thiếu vốn đầu tư do tích lũy nội bộ thấp hoặc
không có tích lũy. Điều đó hạn chế quy mô đầu tư và đổi mới kỹ thuật gây ra
tình trạng mất cân đối trong quá trình xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán
thương xuyên bị thiếu hụt, đất nước thiếu ngoại tệ. Việc thu hút nguồn vốn
nước ngoài có thể giải quyết được khó khăn về khả năng tích lũy vốn thấp và
bù đắp các khoản thiếu hụt ngoại tệ trong cán cân thanh toán.
Thứ hai: đầu tư nước ngoài giải quyết một phần tình trạng thất nghiệp ở
những nước này. Thông qua việc tạo ra các xí nghiệp mới hoặc làm tăng quy
mô của các đơn vị kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra công ăn việc
làm cho một số lượng khá lớn người lao động.
Thứ ba: cùng với việc cung cấp vốn, thông qua hoattj động FDI các công
ty nước ngoài đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang
nước nhận đầu tư do đó các nước này nhận được kỹ thuật tiên tiến (trong đó
12
có những công nghệ không thể mua được bằng quan hệ thương mại đơn
thuần), kinh nghiệm quản lý, năng lực maketing đội ngũ được dào tạo, rèn
luyện về mọi mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làm việc, kỹ thuật lao
động…)
Thứ tư: đầu tư trực tiếp nước ngoài làm cho các hoạt động đầu tư trong
nước phát triển, tính năng động và khả năng cạnh tranh trong nước ngày
càng được tăng cường, các tiềm năng cho phát triển kinh tế xã hội đất nước
có điều kiện khai thác và được khai thác. Điều đó có tác động mạnh mẽ đến
chuyển dịch co cấu kinh tế theo hướng tích cực.
Thứ năm: với việc tiếp nhận FDI, nước chủ nhà không phải lo trả nợ.
Thông qua việc hợp tác với nước ngoàim nước chủ nhà có điều kiện thâm
nhập vào thị trường thế giới. FDI tăng thu cho ngân sách nhà nước thông
qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài. Từ đó các nước đang phát triển
có nhiều khả năng hơn trong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án
phát triển.
Ngày nay FDI đã trở thanh một tất yếu khách quan trong điều kiện quốc
tế hóa nền sản xuất, lưu thông và được tăng cường mạnh mẽ. Có thể nói,
hiện nay khônng một quốc gia nào lại không cần đến nguồn vốn của FDI của
nước ngoài và coi đó là một nguồn lực cần khai thác để hòa nhập vào cộng
đồng quốc tế. Tuy nhiên theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư,
bên cạnh những ưu điểm đó thì FDI cũng có những hạn chế nhất định. Đó là:
- Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị thì nhà đầu tu
nước ngoài dễ bị mất vốn.
- Nếu nước sở tại không có quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học dẫn tới
sự đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác qua
mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Cũng như các nước đang phát triển để phá “cái vòng luẩn quẩn” và phát
triển kinh tế, đòi hỏi việt nam phải có biện pháp thu hút vốn đầu tư nước
ngoài nhất là FDI. Ngày 18-11-1977 nước ta thông qua Điều lệ đầu tư nước
ngoài. Ngày 29-12-1987 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc
hội thông qua và đến nay được bổ xung bốn lần vào tháng 6-1990, 12-1992,
11-1996 và tháng 6-2000. Qua các lần sửa đổi bổ sung luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam ngày càng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và
phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới FDI vì đối với nước ta hình thức
này có vai trò rất quan trọng . Điều này được thể hiện như sau:
- FDI giúp đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế đất nước. Để đạt
được những chỉ tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới
thì tốc độ phát triển bình quân hàng năm phải đạt ít nhất là 7% và nhu cầu về
13
vốn đầu tư có từ 4,2 tỷ USD trở lên mỗi năm (tức là tích lũy hàng năm phải
đạt 22% thu nhập quốc dân)
- FDI đang mang lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những
doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội
của nước ta tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của
người lao động, tăng thu ngân sách nhà nước.
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta tiếp nhận thành tựu
khoa học tiên tiến của thế giới, nhờ đó rút ngắn khoảng cách của ta so với
thế giới.
- Nhờ có FDI chúng ta sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nướ mà
nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ,
khoáng sản…
Ngoài ra trong quá trình tiếp nhận FDI chúng ta học được kinh nghiệm
quản lý kinh doanh và các làm thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường
của các nước tiên tiến.
Tóm lại, FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta nhanh chóng
hội nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực.
1.1.4. Kinh nghiệm của một số nước về thu hút và sử dụng đầu tư
trực tiếp nước ngoài để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Những thập niên gần đây, trong sự phát triển của một số nền kinh tế ta
thấy có sự tác động to lơn của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đối với mỗi
nước, có hoàn cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế khác nhau thì sự tác động
của đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có những sự khác nhau về chiều hướng,
mức độ, phạm vi cũng như lĩnh vực cụ thể. Thực tế ở nhiều nước trên thế
giới đầu tư trực tiếp nước ngoài gần như giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế quốc dân. Tham khảo kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động đầu tư trực
tiếp nước ngoài của một số nước trong quá trình công nghiệp hóa, ít nhièu có
điều kiện tương đồng với Việt Nam là việc làm cần thiết. Về lý luận, nó giúp
ta có thêm dữ liệu để hiểu rõ bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài, vừa là
điều kiện để đánh giá chuẩn xác hơn sự tác động của loại hìh kinh tế này đối
với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
Về thực tiễn, các nước tiến hành công nghiệp hóa trong một vài thập niên
gần đây chỉ có thể thành công khi tận dụng tối đa nhưng ưu thế của đầu tư
nước ngoài. Kinh nghiệm của các nước chính là cơ sở để chúng ta tham
khảo, học hỏi nhưng thành công và tránh những điều chưa hợp lý mà các
nước đi trước vấp phải.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét