Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Công ty Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may

Luận văn tốt nghiệp
chuyền công nghệ nhằm sản xuất các mặt hàng nhập khẩu ngay tại trong nước. Việc
đầu tư này giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm hơn so với hàng nhập. Người
tiêu dùng thì có lợi vì mua sản phẩm được với giá rẻ hơn mà chất lượng thì tương
đương hàng ngoại, còn nhà sản xuất thì giảm được chi phí, có thể dung phần vốn đó
để tái sản xuất hay đầu tư vào lĩnh vực khác mà cũng mang lại lợi nhuận.
Thứ ba, nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.
Nhập khẩu vừa thoả mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về mặt hàng tiêu dùng, vừa
đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động. Hoạt động
nhập khẩu giúp người dân có thể tiếp cận với những nền kinh tế cao hơn thông qua
các sản phẩm mà trong nước chưa sản xuất được. Quá trình nhập khẩu cũng qua nhiều
khâu, vì vậy tạo điều kiện cho nhiều người tham gia và chuyên môn cũng khác nhau.
Thứ tư, nhập khẩu có vai trò tích cực thúc đẩy sản xuất, thể hiện ở chỗ nhập
khẩu tạo điều kiện phát triển đầu vào cho hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi
cho việc xuất khẩu hàng hoá Việt Nam ra nước ngoài. Ở Việt Nam hiên nay, hàng
xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng có công nghệ thấp như lương thực, giày da, may
mặc…Các mặt hàng này mang lại lợi nhuận không cao, lãi nhiều thì đầu vào của
chúng ta còn thiếu. Chính vì thế thông qua hoạt động nhập khẩu chúng ta có thể nhập
vào những nguyên vật liệu và từ đó sản xuất ra thành phẩm ngay tại trong nước. Bên
cạnh đó, nhờ thực hiện các giao dịch trong quá trình nhập khẩu mà có thể hình thành
các mối quan hệ đa chiều với các đối tác ở nhiều nước trên thế giới.
Thứ năm, thông qua việc phát triển kinh doanh nhập khẩu, chúng ta mới có
điều kiện mở mang dân trí, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để đầu tư vào sản
xuất và phục vụ đời sống. Trên cơ sở phân công lao động quốc tế, hợp tác và liên kết
quốc tế để đẩy mạnh kết hợp giữa công nghiệp với cuộc sống văn minh của nhân loại,
tạo điều kiện khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của đất nước.
Nhờ có hoạt động nhập khẩu mà các doanh nghiệp trong nước có cơ hội
tham gia cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Khi tham gia cạnh tranh bắt buộc các
doanh nghiệp phải hình thành một chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp với thị
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
5
Luận văn tốt nghiệp
trường, đồng thời hoàn thiện tốt công tác quản lý phù hợp với xu thế chung nhằm tạo
ra nhiều cơ hội mới thông qua quan hệ với các đối tác nước ngoài trên cơ sở lợi ích
của cả hai bên.
Phát huy được vai trò của hoạt động nhập khẩu là một vấn đề không đơn
giản, nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự lựa chọn đúng đắn để xác định rõ các
nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu, có như thế mới khai thác được các lợi
thế so sánh và đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.2 Các hình thức nhập khẩu
1.1.2.1 Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là việc doanh nghiệp này uỷ thác cho doanh nghiệp khác
đứng ra giao dịch trực tiếp với đối tượng nước ngoài để làm thủ tục nhập khẩu và
nhận được một khoản phí hoa hồng gọi là khoản phí uỷ thác. Hình thức này được sử
dụng khi một bên thì có vốn, còn một bên thì có kinh nghiệm.
Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp uỷ thác chỉ cần bỏ thêm một
khoản tiền để trả cho người được uỷ thác mà không phải tham gia vào bất kỳ một quá
trình nào của hoạt động nhập khẩu. Đồng thời tránh được các rủi ro do chính bản thân
mình gây ra khi thực hiện hoạt động nhập khẩu này. Những tổn hại do bên được uỷ
thác phải chịu trách nhiệm.
Tuy nhiên nhược điểm của nó là bên uỷ thác sẽ phải mất một số tiền nhất
định mà nếu tự làm thì họ sẽ giảm được chi phí nhập khẩu và việc lựa chọn được bên
nhận uỷ thác thực sự có đủ năng lực thay họ làm công việc nhập khẩu cũng gặp nhiều
khó khăn.
1.1.2.2 Nhập khẩu tự doanh
Đây là hoạt động nhập khẩu trực tiếp của một đơn vị kinh tế được phép
nhập khẩu độc lập. Khi doanh nghiệp tự cảm thấy có thể nhập khẩu độc lập mặt hàng
nào đó thì sẽ sử dụng hình thức này sẽ thu được mọi khoản lợi nhuận nhưng cũng
phải chịu mọi tổn thất do hoạt động này gây nên.
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
6
Luận văn tốt nghiệp
Hình thức nhập khẩu này đòi hỏi doanh nghiệp cần xem xét kỹ lưỡng từng
bước, từ nghiên cứu thị trường, đầu vào, đầu ra cho đến ký kết và thực hiện hợp
đồng… để tránh gây tổn thất.
1.1.2.3 Nhập khẩu hàng đổi hàng
Đây là hình thức nhập khẩu được áp dụng đối với các nước có mối quan hệ
thân quen, mang tính hỗ trợ nhau. Nó là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu,
thanh toán trong trường hợp này không dùng đến tiền mà sử dụng khối lượng hàng
hoá có giá trị tương đương để trao đổi.
Đặc điểm của hình thức nhập khẩu hàng đổi hàng:
Thứ nhất, hoạt động nhập khẩu này mang lại lợi ích lớn hơn cho các bên
liên quan bởi cùng một hợp đồng mà có thể tiến hành cùng một lúc cả hoạt động xuất
và nhập, do đó có thể thu lãi từ cả hai hoạt động này.
Thứ hai, hàng hoá xuất và nhập tương đương nhau về giá trị.
Thứ ba, bạn hàng trong hoạt động xuất khẩu cũng là bạn hàng trong hoạt
động nhập khẩu.
Nhược điểm của hình thức nhập khẩu hàng đổi hàng là nghiệp vụ rất phức
tạp vì xuất khẩu kết hợp với nhập khẩu, người mua đồng thời là người bán nên khó
tách bạch được quyền lợi và nghĩa vụ nếu xảy ra sai sót.
1.1.2.4 Nhập khẩu liên doanh
Đây là hoạt động nhập khẩu hàng hoá dựa trên cơ sở thảo thuận liên kết
giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp cùng nhau tiến hành giao dịch và đưa ra
phương hướng tối ưu để thúc đẩy hoạt động này theo hướng có lợi nhất cho cả hai
bên, do đó cả hai sẽ cùng hưởng lợi nhuận và cùng chịu rủi ro. Nhập khẩu liên doanh
thường được tiến hành khi cả hai bên cùng góp vốn.
Ưu điểm của hình thức nhập khẩu liên doanh là so với nhập khẩu tự doanh,
các doanh nghiệp chịu ít rủi ro hơn bởi mỗi doanh nghiệp tham gia nhập khẩu liên
doanh chỉ phải góp một phần vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên
cũng phân bổ theo số vốn góp.
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
7
Luận văn tốt nghiệp
Nhược điểm của hình thức nhập khẩu này là lợi nhuận bị chia sẻ, doanh
nghiệp đứng ra nhập khẩu hàng được tính kim ngạch nhập khẩu, nhưng khi đưa hàng
về tiêu thụ chỉ được tính doanh số trên số hàng tính theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế
doanh thu trên doanh số đó.
1.1.2.5 Nhập khẩu tái xuất
Đây là hoạt động nhập khẩu hàng hoá vào trong nước nhưng không tiêu
dùng nội địa mà để xuất khẩu sang nước thứ ba. Loại hàng nhập này không qua chế
biến ở nước tái sản xuất. Chính vì thế mà doanh nghiệp tham gia nhập khẩu theo hình
thức này sẽ không phải mất thuế nhập khẩu, họ sẽ được hoàn thuế sau khi kết thúc
hoạt động.
Nhập khẩu tái xuất có những đặc điểm riêng, khác với các hình thức nhập
khẩu khác đó là:
Thứ nhất, doanh nghiệp nhập khẩu ở nước tái xuất phải tính toán chi phí,
ghép mỗi bạn hàng xuất và bạn hàng nhập, bảo đảm sao cho có thể thu được số tiền
lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động này.
Thứ hai, doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim ngạch xuất
nhập khẩu, doanh số tính trên giá trị hàng xuất khẩu đó vẫn phải chịu thuế doanh thu.
Thứ ba, doanh nghiệp nước tái xuất phải lập hai bản hợp đồng, một hợp
đồng xuất khẩu và một hợp đồng nhập khẩu và không phải chịu thuế xuất nhập khẩu
về các hình thức kinh doanh.
Thứ tư, để bảo đảm thanh toán, hợp đồng tái xuất thường dùng thư tín dụng
giáp lưng (Back to Back L/C).
1.1.3 Nội dung của hoạt động nhập khẩu
Giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ ngoại thương được thực hiện trên
phạm vi quốc tế, do đó nội dung của hoạt động kinh doanh nhập khẩu phức tạp hơn
so với việc mua bán trao đổi hàng hoá, dịch vụ trong nước. Các nghiệp vụ chính của
hoạt động nhập khẩu bao gồm:
1.1.3.1 Nghiên cứu thị trường nhập khẩu
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
8
Luận văn tốt nghiệp
Đối với các đơn vị kinh doanh quốc tế, việc nghiên cứu thị trường nước
ngoài có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho công tác nhập khẩu có đầy đủ thông tin
cần thiết để từ đó đưa ra những quyết định chính xác về thị trường nhập khẩu.
Những nội dung cần nắm vững về thị trường nước ngoài gồm: Tình hình
kinh tế - chính trị, luật pháp và chính sách thương mại quốc tế, tỷ giá hối đoái, điều
kiện vận tải và tình hình giá cước Đây là những nét khái quát cơ bản để đánh giá
tình hình kinh tế - xã hội của nước đối tác. Bên cạnh những điểm này, đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu phải thực hiện các bước sau:
- Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu
- Nghiên cứu dung lượng thị trường và các yếu tố ảnh hưởng
- Nghiên cứu giá cả hàng hoá và sự biến động của giá cả trên thị trường
thế giới
- Lựa chọn bạn hàng
- Lựa chọn mặt hàng nhập khẩu
1.1.3.2. Lựa chọn phương thức giao dịch
a. Giao dịch thông thường
Giao dịch thông thường là một trong những phương thức buôn bán phổ biến
nhất, thường thấy nhất, nó có thể diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc trên cơ sở tự nguyện của
các bên.
Giao dịch thông thường có thể là giao dịch trực tiếp giữa bên mua với bên
bán, cũng có thể là giao dịch thông qua thương nhân trung gian.
a1. Giao dịch thông thường trực tiếp
Bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, việc mua và việc bán
không ràng buộc nhau. Bên mua có thể chỉ mua mà không bán, bên bán có thể chỉ bán
mà không mua.
Các bước tiến hành giao dịch gồm:
- Hỏi giá: Đây là việc người mua đề nghị người bán báo cho mình biết giá
cả và các điều kiện để mua hàng. Nội dung của một hỏi giá gồm: tên hàng, quy cách,
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
9
Luận văn tốt nghiệp
phẩm chất, số lượng, thời gian giao hàng, giá cả, loại tiền, thể thức thanh toán, điều
kiện cơ sở giao hàng
- Chào hàng: Là đề nghị của một bên về các điều kiện của hợp đồng. Có 2
loại chào hàng: chào hàng cố định (là việc chào bán một lô hàng nhất định cho một
người mua, có nêu rõ thời gian mà người chào hàng bị ràng buộc trách nhiệm vào lời
đề nghị của mình); chào hàng cố định (là loại chào hàng không ràng buộc trách nhiệm
người phát ra nó).
- Đặt hàng: Là lời đề nghị ký kết hợp đồng xuất phát từ phía người mua
được đưa ra dưới hình thức đặt hàng.
- Hoàn giá: Là mặc cả về giá cả hoặc về các điều kiện giao dịch.
- Chấp nhận: Là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện của chào hàng
(hoặc đặt hàng) mà phía bên kia đưa ra. Khi đó hợp đồng được giao kết.
- Xác nhận: Hai bên mua và bán, sau khi đã thống nhất thoả thuận với nhau
về điều kiện giao dịch, xác nhận lại các điều kiện giao dịch gửi cho bên đối tác.
a2. Giao dịch qua trung gian
Giao dịch qua trung gian là việc người mua hoặc người bán quy định những
điều kiện trong giao dịch mua bán về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch, phương
thức thanh toán…phải qua một người thứ ba để đàm phán và đi đến ký kết hợp đồng -
người trung gian buôn bán.
Người trung gian buôn bán phổ biến trên thị trường là đại lý và môi giới.
b. Buôn bán đối lưu:
Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất
khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng
giao đi có giá trị tương xứng với lượng hàng nhận về.
Có 7 hình thức buôn bán đối lưu cơ bản:
- Hàng đổi hàng: Là hình thức mua bán đối lưu mà các bên trao đổi hàng
hoá với nhau, hàng hoá giao đi và hàng hoá nhận về có số lượng và giá trị tương
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
10
Luận văn tốt nghiệp
đương, hoạt động trao đổi diễn ra đồng thời và không sử dụng tiền tệ làm phương tiện
thanh toán.
- Mua bán bù trừ: Là phương thức mua bán đối lưu mà các bên trao đổi hàng
hoá với nhau, một bên giao hàng với giá trị hàng hoá và nhận về tương đương với
lượng hàng giao xong, có sử dụng tiền tệ làm phương tiện thanh toán bù trừ.
- Mua đối lưu: Là phương thức mua bán đối lưu mà một bên giao hàng đi
với cam kết sẽ mua lại một mặt hàng nào đó đã xác định trong tương lai.
- Mua bồi hoàn: Là phương thức mua bán đối lưu mà một bên giao hàng đi
với cam kết mua một loại hàng nào đó không xác định trong tương lai nhằm bồi hoàn
toàn bộ giá trị ngoại tệ cho bên kia.
- Chuyển nợ: Là hình thức mua bán đối lưu mà một bên chuyển cho bên thứ
ba cam kết thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm của mình đối với bên kia trong quan hệ
trao đổi hàng với hàng.
- Mua bán bình hành: Là một phương thức mua bán đối lưu mà người tham
gia lựa chọn một trung gian đại diện cho mình theo dõi và quyết toán sau những kỳ
kinh doanh nhất định để thanh toán theo hình thức bình hành.
- Hình thức mua bán: Là hình thức mua bán đối lưu mà một bên giao cho
bên kia dây chuyền máy móc thiết bị nhằm nhận về thành phẩm được sản xuất ra từ
chính dây chuyền, thiết bị đó bù trừ cho giá trị dây chuyền sản xuất thiết bị.
c.Đấu giá quốc tế
Đấu giá quốc tế là một phương thức giao dịch kinh doanh được tổ chức ở
một nơi công khai nhất định mà những người mua được tự do xem hàng trước, cạnh
tranh trả giá và hàng hoá được trao cho người trả giá cao nhất.
Đấu giá quốc tế có thể chia thành hai loại chính:
- Loại hình trả giá lên: Là hình thức bán đấu giá theo đó người trả giá cao
nhất so với giá khởi điểm là người có quyền mua hàng.
- Loại hình đặt giá xuống: Là hình thức đấu giá theo đó người đầu tiên chấp
nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp.
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
11
Luận văn tốt nghiệp
d. Đấu thầu hàng hoá quốc tế
Đây là một phương thức hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng
hoá thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các thương
nhân tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu
do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiên hợp đồng.
Đấu thầu hàng hoá gồm hai loại chính:
- Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu không hạn chế
số lượng các bên dự thầu.
- Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mưòi một số
nhà thầu nhất định tham dự thầu.
e. Giao dịch tại hội chợ, triển lãm
Giao dịch tại hội chợ là một phương thức giao dịch kinh doanh tại những
nơi, địa điểm và thời gian nhất định được tổ chức định kỳ nhằm mục đích mua bán
hàng hoá.
Giao dịch tại triển lãm cũng là một phương thức giao dịch kinh doanh diễn
ra tại những nơi, địa điểm và thời gian nhất định với mục đích giới thiệu về thành tựu
của một nền kinh tế hay các lĩnh vực.
Ngoài ra còn có giao dịch tại sở giao dịch, thương mại điện tử. Tuỳ thuộc
vào tình hình, điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp quyết định lựa chọn phương thức
giao dịch mua bán cho thích hợp.
1.1.3.3 Đàm phán, ký kết hợp đồng
Đàm phán trong kinh doanh xuất nhập khẩu là việc hai bên mua và bán tiến
hành trao đổi, thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch (điều kiện mua bán,
điều kiện hợp tác kinh doanh…) mà mỗi bên có thể chấp nhận được. Đàm phán có vai
trò quan trọng trong kinh doanh xuất nhập khẩu, nó là cơ sở để ký kết hợp đồng và nó
ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham gia.
a. Các hình thức đàm phán
- Đàm phán qua thư tín: Hai bên tiến hành giao dịch qua thư từ, điện tín.
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
12
Luận văn tốt nghiệp
- Đàm phán qua điện thoại: Là phương thức đàm phán nhanh nhất giúp hai
bên nhanh chóng nắm bắt thời cơ cần thiết nhưng phí tổn điện thoại giữa các nước rất
cao, bị hạn chế về mặt thời gian và trao đổi qua điện thoại là trao đổi bằng miệng
không có gì là bằng chứng cho cuộc thoả thuận.
- Đàm phán gặp mặt trực tiếp: Là hình thức đàm phán tối ưu giúp đẩy nhanh
quá trình giải quyết mọi quan hệ trong giao dịch. Hai bên tiến hành gặp gỡ trực tiếp,
trao đổi, bàn bạc, thống nhất và ký kết hợp đồng.
b. Trình tự đàm phán
Trình tự đàm phán bao gồm các bước: hỏi giá, phát giá, đặt hàng, hoàn giá,
chấp nhận, xác nhận.
c. Ký kết hợp đồng
Hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu
giao dịch giữa hai bên có quốc tịch khác nhau, theo đó một bên được gọi là người bán
(người xuất khẩu) có nghĩa vụ phải chuyển vào quyền sở hữu của bên kia (người nhập
khẩu) một lượng tài sản nhất định được gọi là hàng hoá. Còn bên kia được gọi là
người mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán tiền hàng đầy đủ cho bên bán.
Nội dung của hợp đồng nhập khẩu:
- Số hợp đồng, ký hiệu (nếu có)
- Ngày, tháng, năm, nơi ký hợp đồng
- Những căn cứ để ký kết
- Những thông tin liên quan đến các bên: tên, địa chỉ, số điện thoại, số tài khoản,
người đại diện (nếu có) của các bên
- Những điều khoản của hợp đồng: điều kiện tên hàng, phẩm chất, điều khoản
về số lượng hay trọng lượng, điều khoản về giá cả, điều khoản giao hàng, điều khoản
thanh toán.
Ngoài ra còn có các điều khoản khác như: điều kiện vận tải, bảo hiểm, bất
khả kháng, khiếu nại, trọng tài.
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
13
Luận văn tốt nghiệp
- Phần kết thúc nêu rõ số bản hợp đồng, ngôn ngữ sử dụng để ký kết hợp đồng,
giá trị pháp lý của bản hợp đồng, thời hạn có hiệu lực của hợp đồng.
- Chữ ký và dấu của các bên tham gia hợp đồng.
d. Tổ chức thực hiện hợp đồng
Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu đơn vị kinh doanh phải thực hiện các
công việc sau:
- Xin giấy phép nhập khẩu.
- Thực hiện những công việc bước đầu của khâu thanh toán.
+ Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng L/C thì cần thực hiện các công
việc sau: làm đơn xin mở L/C, thực thi ký quỹ và mở L/C.
+ Nếu thanh toán bằng CAD thì nhà nhập khẩu cần tới Ngân hàng yêu cầu
mở tài khoản ký thác để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu.
+ Nếu thanh toán bằng TT trả trước thì nhà nhập khẩu cần làm thủ tục
chuyển tiền theo đúng quy định của hợp đồng.
+ Nếu thanh toán bằng nhờ thu hoặc chuyển tiền trả sau thì nhà nhập khẩu
chờ người bán giao hàng rồi mới tiến hành công việc của khâu thanh toán.
- Thuê phương tiện vận tải: Nếu trong hợp đồng mua bán quy định hàng
được giao ở nước người xuất khẩu, phương tiện vận tải do người mua lo (điều kiện
giao hàng EXW, FAS, FCA, CFR, FOB) thì người mua sẽ thuê phương tiện vận tải.
- Mua bảo hiểm: Khi mua hàng theo các điều kiện EXW, FCA,FAS, CFR,
CPT nhà nhập khẩu cần phải mua bảo hiểm cho hàng hoá. Nhà nhập khẩu cần
làm những công việc sau:
+ Chọn điều kiện thích hợp để mua bảo hiểm: Nhà nhập khẩu cần căn cứ
vào đặc tính của hàng hoá, cách đóng gói, phương tiện vận chuyển…để chọn điều
kiện bảo hiểm thích hợp, đảm bảo an toàn cho hàng hoá và đạt hiệu quả kinh tế cao.
+ Làm giấy yêu cầu bảo hiểm.
+ Đóng phí bảo hiểm và lấy chứng thư bảo hiểm.
- Làm thủ tục hải quan.
Trần Thị Hương Giang Kinh tế Quốc tế 45B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét