Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo tại Yên Bái

đồng đối với khu vực thành thị, để làm gianh giới xác định giữa ngời giàu và ngời
nghèo.
Theo cách tình này thì mức thu nhập bình quân đầu ngời ở các hộ khu vực
nông thôn nớc ta đợc quy ra tiền để xác định gianh giới giữa những hộ giàu và hộ
nghèo nh sau:
- Loại hộ nghèo: có mức thu nhập bình quân dới 50000/ngời/tháng. Hộ đói
dới 30000/ngời/tháng.
-Loại hộ dới trung bình: có thu nhập bình quân từ 50000-70000/ngời/tháng.
-Loại hộ trung bình: có mức thu nhập bình quân đầu ngời từ
70000-12500/ngời/tháng.
-Loại hộ trên trung bình: có mức thu nhập bình quân từ 125000-250000/ng-
ời/tháng.
- Loại hộ giàu:có thu nhập từ 250000/ngời/tháng trở lên.
Sau 1 thời gian căn cứ vào trình độ phát triển của nền kinh tế thì tại thông
báo số1751/LĐ-TB&XH của bộ LĐ-TB&XH ngày20.5.1997 thì chuẩn mực về
đói nghèo đợc quy định lại nh sau:
+ Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân theo đầu ngời dới 13 kg
gạo/tháng tơng đơng 45000/tháng đối với tất cả các vùng.
+ Hộ nghèo: là hộ có mức thu nhập bình quân đầu ngời 15kg gạo/ng-
ời/tháng tơng đơng 55000 ở khu vực nông thôn, miền núi.
-20kg gạo/ngời/tháng dối với khu vực nông thôn đồng bằng và trung
du.
- 25kg gạo/ngời/tháng đối với khu vực thành thị.
Tại quyết định số 1143/2000 QĐLĐTBXH ngày 1.11.2000 của bộ trởng bộ
LĐ-TBXH đã phê duyệt chuẩn mức đói nghèo mới giai đoạn 2001-2005 theo mức
thu nhập bình quân đâu ngời cho từng vùng cụ thể nh sau:
- Vùng nông thôn miền núi hải đảo: 80000 đồng/ngời/tháng tơng đ-
ơng 960000 đồng/năm.
- Vùng nông thôn đồng bằng: 100000 đồng/ngời/tháng tơng đơng
1200000 đồng/năm.
- Vùng thành thị: 150000 đồng/ngời/tháng tơng đơng 1800000/năm.
Theo tiêu chuẩn này thì tính đến năm 2000, cả nớc có khoảng 4 triệu hộ
nghèo, chiếm tỷ lệ từ 24-25% tổng số hộ trong cả nớc. Trong đó 4 vùng có tỷ lệ
đói nghèo trên 30%. Ước tính tỷ lệ hộ đói nghèo ở các vùng nh sau:
Vùng Số hộ nghèo
(1000hộ)
Tỷ lệ hộ
nghèo (%)
Miền núi phía Bắc 923,3 34.1
Đồng bằng sông hồng 482.1 14
Bắc trung bộ 833.8 38.6
5
Duyên hải miền trung 555.7 31.9
Tây Nguyên 257.5 36.1
Đông nam bộ 261.4 12.8
Đồng bằng sông cửu Long 686.2 20.3
Đặc biệt, tỷ lệ hộ đói nghèo ở các xã miền núi, vùng sâu và vùng xa tỷ lệ này còn
cao hơn mức trung bình của cả nớc: Bắc trung Bộ 38,6%; Tây nguyên 36,1%;
Miền núi phía bắc34,1%; Duyên hải miền trung 31,9% .
Chuẩn mực đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào phơng pháp
tiếp cận điều kiện kinh tế và thời gian quy định.
3.Nguyên nhân đói nghèo của Việt nam và thế giới.
3.1 Trên thế giới:
Có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh việc xác định nguyên nhân của đói
nghèo. Trên thực tế không có một nguyên nhân biệt lập, riêng rẽ dẫn tới đói nghèo
nhất là đói nghèo trên diện rộng, có tính chất xã hội. Nó cũng không phải là
nguyên nhân thuần tuý về mặt kinh tế hoặc do thiên tai địch hoạ. ở đây nguyên
nhân của tình trạng đói nghèo là có sự đan xen, thâm nhập vào nhau của cái tất
yếu lẫn cái ngẫu nhiên, cái cơ bản và cái tức thời, cả nguyên nhân sâu xa lẫn
nguyên nhân trực tiếp, tự nhiên lẫn kinh tế -xã hội .
Tóm lại nguyên nhân đói nghèo trên thế giới bao gồm những nguyên nhân
chủ yếu sau:
- Sự khác nhau về của cải (những chênh lệch lớn nhất trong thu nhập là do
những sự khác nhau về sở hữu tài sản).
- Sự khác nhau về khả năng cá nhân
- Sự khác nhau về giáo dục đào tạo.
Và 1 số nguyên nhân khác nh: Chiến tranh, thiên tai địch hoạ, rủi ro
3.2Nguyên nhân của đói nghèo ở Việt Nam .
ở Việt nam nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm:
-Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão
lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã
và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực.
- Nhóm nguyên nhân chủ quan của ngời nghèo: thiếu kiến thức làm ăn,
thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lời
lao động, ốm đau, rủi ro
- Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không
đồng bộ về chính sách đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn,
chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hớng dẫn cách làm ăn, khuyến
nông,lâm, ng,chính sách trong giáo dục đào tạo, ytế, giải quyết đất đai, định canh
định c, kinh tế mới và nguồn lực đầu t còn hạn chế.
Kết quả điều tra về xã hội học cho thấy:
6
- Thiếu vốn: 70-90% tổng số hộ đợc điều tra.
- Đông con: 50-60% tổng số hộ đợc điều tra.
- Rủi ro, ốm đau: 10-15% tổng số hộ đợc điều tra.
- Thiếu kinh nghiệm làm ăn: 40-50% tổng số hộ đợc điều tra.
- Neo đơn, thiếu lao động: 6-15% tổng số hộ đợc điều tra.
- Lời lao động, ăn chơi hoang phí: 5-6% tổng số hộ đợc điều tra.
- Mắc tệ nạn xã hội: 2-3% tổng số hộ đợc điều tra.
4. Sự cần thiết của công tác xoá đói giảm nghèo .
Xét tình hình thực tế, khi nớc ta bớc vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hoà
giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo và giải quyết
tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt đợc mục tiêu xây dựng một cuộc sống
ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy đợc truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, vừa tiếp thu đợc yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại.
Do đó trong chính sách phát triển kinh tế -xã hội thời kỳ 1996-2000 nhà n-
ớc đã xây dựng đợc các chơng trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chơng trình
xoá đói giảm nghèo quốc gia. Xoá đói giảm nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn
thuần, mà nó còn là vấn đề kinh tế -xã hội quan trọng, do đó phải có sự chỉ đạo
thống nhất giữa chính sách kinh tế với chính sách xã hội.
Xuất phát từ điều kiện thực tế nớc ta hiện nay, xoá đói giảm nghèo về kinh
tế là điều kiện tiên quyết để xoá đói giảm nghèo về văn hoá, xã hội .Vì vậy, phải
tiến hànhthực hiện xoá đói giảm nghèo cho các hộ nông dân sinh sống ở vùng cao,
vùng sâu, hải đảo và những vùng căn cứ kháng chiến cách mạng cũ, nhằm phá vỡ
thế sản xuất tự cung, tự cấp, độc canh, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế sản
xuất nông nghiệp trên toàn quốc theo hớng sản xuất hàng hoá, phát triển công
nghiệp nông thôn, mở rộng thị trờng nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, thu hút lao
đông ở nông thôn vào sản xuát tiểu thủ công nghiệp, thơng nghiệp và dịch vụ là
con đờng cơ bản để xoá đói giảm nghèo ở nông thôn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ở nông thôn phải đợc xem nh là 1 giải pháp hữu hiệu, tạo bớc ngoạt cho phát triển
ở nông thôn, nhằm xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nớc ta hiện nay.
Tiếp tục đổi mới nền kinh tế theo hớng sản xuất hàng hoá trên cơ sở nền
kinh tế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc. Đó là con đờng để cho mọi ngời vợt
qua đói nghèo, để nhà nớc có thêm tiềm lực về kinh tế để chủ động xoá đói giảm
nghèo. Đây là sự thể hiện t tởng kinh tế của Hồ Chủ Tịch:" Giúp đỡ ngời vơn lên
khá, ai khá vơn lên giàu, ai giàu thì vơn lên giàu thêm".Thực hiện thành công ch-
ơng trình xoá đói giảm nghèo không chỉ đem lại ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo
thêm thu nhập chính đáng cho ngời nông dân ổn định cuộc sống lâu dài, mà xoá
đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông thôn còn là nền tảng, là cơ sở để cho sự
tăng trởng và phát triển 1 nền kinh tế bền vững, góp phần vào sự nghiệp đổi mới
đất nớc. Hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị xã hội. Xoá đói
7
giảm nghèo nhằm nâng cao trình độ dân trí, chăn sóc tốt sức khoẻ nhân dân, giúp
họ có thể tự mình vơn lên trong cuộc sống, sớm hoà nhập vào cuộc sống cộng
đồng, xây dựng đợc các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm đợc khoảng trống
ngăn cách giữa ngời giàu với ngời nghèo, ổn định tinh thần, có niềm tin vào bản
thân, từ đó có lòng tin vào đờng lối và chủ trơng của đảng và Nhà nớc. Đồng thời
hạn chế và xoá bỏ đợc các tệ nạn xã hội khác, bảo vệ môi trờng sinh thái.
Ngoài ra còn có thể nói rằng không giải quyết thành công các nhiệm vụ và
yêu cầu xoá đói giảm nghèo thì sẽ không chủ động giải quyết đợc xu hớng gia
tăng phân hoá giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hoá giai cấp với hậu quả là sự
bần cùng hoá và do vậy sẽ đe doạ tình hình ổn định chính trị và xã hội làm chệch
hớng XHCN của sự phát triển kinh tế -xã hội. Không giải quyết thành công các
chơng ttrình xoá đói giảm nghèo sẽ không thể thực hiện đợc công bằng xã hội và
sự lành mạnh xã hội nói chung. Nh thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững
sẽ không thể thực hiện đợc. Không tập trung nỗ lực, khả năng và điều kiện để xoá
đói giảm nghèo sẽ không thể tạo đợc tiền đề để khai thác và phát triển nguồn lực
con ngời phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc nhằm đa nớc ta đạt tới ttrình
độ phát triển tơng đơng với quốc tế và khu vực, tháo khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt
hậu.
5. Những kết quả xoá đói giảm nghèo trên thế giới và bài học kinh nghiệm.
Một thực tế cho thấy rằng hầu hết những ngời nghèo đều tập trung ở khu
vực nông thôn, bởi vì đây là khu vực hết sức khó khăn về mọi mặt nh: điện, nớc
sinh hoạt, đờng, trạm ytế ở các nớc đang phát triển với nền kinh tế sản xuất là
chủ yếu thì sự thành công của chơng trình xoá đói giảm nghèo phụ thuộc vào
chính sách của Nhà nớc đối với chơng trình phát triển nông nghiệp và nông thôn
của các quốc gia. Thực tế cho thấy rằng các con rồng châu á nh: Hàn quốc,
Singapo, Đài loan; các nớc ASEAN và Trung quốc đều rất chú ý đến phát triển
nông nghiệp và nông thôn. Xem nó không những là nhiệm vụ xây dựng nền móng
cho quá trình CNH-HĐH, mà còn là sự đảm bảo cho phát triển bền vững của nền
kinh tế quốc dân. Tuy nhiên không phải nớc nao cũng ngay từ đầu và trong suốt
quá trình vật lộn để trở thành các con rồng đều thực hiện sự phát triển cân đối ,
hợp lý ở từng giai đoạn, từng thời kỳ giữa công nghiệp với nông nghiệp. Dới đây là
kết quả và bài học kinh nghiệm của 1 số nớc trên thế giới.
5.1 Hàn quốc.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến
việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô
thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế nhng 60%
dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số
là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống
trong cảnh nghèo đói tột cùng. Từ đó gây ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn
vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình
8
trạng mất ổn định chính trị -xã hội. Để ổn định tình hình chính trị -xã hội, chính
phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế -xã hội của mình, cuối
cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế -xã hội
ở khu vực nông thôn và một chơng trình phát triển nông nghiệp nông thôn đợc ra
đời gồm 4 nội dung cơ bản:
- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông
dân vay.
- Nhà nớc thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao.
- Thay giống lúa mới có năng suất cao.
- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập
các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đờng xá, cầu cống và nâng
cấp nhà ở.
Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dâncó
việc làm, ổn định cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dẩna các thành phố lớn dể
kiếm việc làm. chính sách này đã đợc thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến
cơ cấu nông thôn nhằm cải tiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng đa dạng hoá
sản xuất nông nghiệp, từng bớc đa nền kinh tế phát triển nhằm xoá đói giảm
nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn.
Tóm lại: Hàn Quốc đã trở thành 1 nớc công nghiệp phát triển nhng chính
phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nông
nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn,
có nh vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho
nền kinh tế .
5.2 Đài Loan.
Đài Loan là một trong những nớc công nghiệp mới (NIE
S
), nhng là 1 nớc
thành công nhất về mô hình kết hợp chặt trẽ giữa phát triển công nghiệp với phát
triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ( mặc dù Đài Loan không có các điều kiện
thuận lợi nh một số nớc trong khu vực) đó là chính phủ Đài Loan đã áp dụng thành
công một số chính sách về phát triển kinh tế -xã hội nh:
- Đa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại gia
đình với quy mô nhỏ, chủ yếu đi vào sản xuất nông phẩm theo hớng sản xuất hàng
hoá.
- Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá nông nghiệp nông
thôn, mở mang thêm những nghành sản xuát kinh doanh ngoài nông nghiẹp cũng
đợc phát triển nhanh chóng, số trang trại vừa sản xuất nông nghiệp, vừa kinh
doanh ngoài nông nghiệp chiếm 91% số trang trại sản xuất thuần nông chiếm
90%. Việc tăng sản lợng và tăng năng suất lao động ttrong nông nghiệp đến lợt nó
lại tạo điều kiện cho các nghành công nghiệp phát triển .
9
- Đầu t cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nông
thôn. Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lới giao thông nông thôn cả về đờng
bộ, đờng sắt và đờng thuỷ.
Trong nhiều thập kỷ qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giao thông
nông thôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, công cuộc điện khí hoá nông
thôn góp phàn cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt ở nông thôn. Chính
quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp ngay ở vùng nông
thôn để thu hút những lao đông nhàn rỗi của khu vực nông nghiệp, tăng thu nhập
cho những ngời nông dân nghèo, góp phần cho họ ổn định cuộc sống. Đài Loan áp
dụng chế độ giáo dục bắt buộc đối với những ngời trong độ tuổi, do đó trình độ
học vấn của nhân dân nông thôn đợc nâng lên đáng kể, cùng với trình độ dân trí đ-
ợc nâng lên và điều kiện sống đợc cải thiện,Tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ
3,2%/năm(1950) xuống còn 1,5%/năm(1985). Hệ thống ytế , chăm sóc sức khoẻ
ban đầu cho nhân dân cũng đợc quan tâm đầu t thích đáng.
Ngoài Hàn Quốc, Đài Loan còn 1 số nớc ASEAN cũng có những chơng
trình phát triển kinh tế -xã hội bằng con đờng kết hợp giữa những ngành công
nghiệp mũi nhọn với việc phát triển kinh tế nông thôn với mục đích xoá đói giảm
nghèo trong dân chúng nông thôn. Điều đặc trung quan trọng của các nớc ASEAN
là ở chỗ những nớc này đều có nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, bớc vào công
nghiệp hoá có nghĩa là vào lúc khởi đầu của quá trình công nghiệp hoá.Tất cả các
nớc ASEAN (trừ Singapo) đều phải dựa vào sản xuất nông nghiệp, lấy phát triển
nông nghiệp là một trong những nguồn vốn cho phát triển công nghiệp, điền hình
là những nớc nh Thái Lan, InĐôNêXiA, Philipin và Malaxia. Tất cả những nớc
này phần lớn dân c sống ở khu vực nông thôn, đời sống kinh tế nghèo nàn lạc hậu,
thu nhạp chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy mà chính phủ các nớc này
trong quá trình hoạch định các chính sach kinh tế -xã hội họ đều rất chú trọng đến
các chính sách nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn , giành cho nông
nghiệp nông thôn những u tiên cần thiết về vốn đầu t đẻ tiến hành cuộc cách mạng
xanh trong nông nghiẹp.Tuy nhiên khi bớc vào giai đoạn 2 của quá trình công
nghiệp hoá, tất cả các nớc ASEAN đều nhận thấy rằng không thể đi lên chỉ bằng
con đờng nông nghiệp mà phải đâù t cho các ngành công nghiệp, dịch vụ. Chính vì
lẽ đó mà các chính sách về phát triển nông nghiệp nông thôn cũng nh các chơng
trình phát triển khác nh chơng trình xoá đói giảm nghèo không đợc chú trọng nh ở
giai đoạn đàu của quá trình công nghiệp hoá. Do vậy khoảng cách về thu nhập của
những ngời giàu với những ngời nghèo là rất lớn. Sự phân tầng xã hội là rõ rệt gây
mất ổn định về tình hình chính trị xã hội , từ đó làm mất ổn định trong phát triển
kinh tế .
Sự phồn vinh của băng cốc ,Manila đợc xây dựng trên nghèo khổ của các
vùng nông thôn nh ở vùng đông bắc Thái Lan, ở miền trung đảo Ludon. Cho đến
nay sự bất bình đẳng veg thu nhập ở Thái Lan vẫn tiép tục gia tăng, các thành phố
10
lớn, các khu cônh nghiệp vẫn có tỷ lệ tăng trởng cao,năm 1981 Bangkoc đóng góp
42% GDP , đến năm 1989 lên tới 48% cho GDP trong khi đó phần đóng góp cho
GDP ở các vùng khác lại giảm xuống nh ở miền bắc và miền nam Thái lan phần
đóng góp đã giảm xuống từ 14,7% năm 1981 xuống còn 10% năm 1989.
ở Malaixia chính phủ đã thực hiện chính sách phân phối lại trong nền kinh
tế quốc dân, nhng việc phân phối lại thì lợi ích vẫn chủ yếu tập trung cho tần lớp
giàu có, những ngời nghèo khổ đặc biệtlà nông dân hầu nh không đợc chia sẻ lợi
ích đó, khái niệm công bằng ở đây là sự công bằng giữa tầng lớp giàu có.
Vào năm 1985 ở Malayxia có tới 82.000 hộ gia đình ở khu vực nông thôn
thuộc diện nghèo đói.
Tình trạng nghèo khổ ở Philipin còn tồi tệ hơn, năm 1988 tỷ lệ nghèo đói ở
Philippin lên tới 49,5% dân số trong 3,1 triệu hộ gia đình đói nghèo thì tới 2,2
triệu gia đình (72,8%) sống ở khu vực nông thôn, đời sống chủ yếu dựa vào nghề
nông , còn 843.000 hộ (27,2%) sống ở khu vực phi nông nghiệp. Điều này cho
thấy đa số những ngời nghèo Philippin sống tập trung ở khu vực nông thôn.
Tình trạng nghèo khổ ở các nớc ASEAN vẫn tiếp tục gia tăng, cùng với quá
trình tăng trởng kinh tế của các quốc gia này, điều này cho thấy do sự tăng trởng
kinh tế không theo kịp sự tăng trởng dân số, mặt khác là do quá trình chuyển dịch
cơ cấu sang những ngành sản xuất công nghệ cao của một số nớc ASEAN hiện
nay làm cho nạn thất nghiệp ngày càng trầm trọng hơn.Để giải quyết tình trạng
đói nghèo, chính phủ các nớc ASEAN có rất nhều cố gắng.
Chính phủ Inđônêxia trong kế hoạch 5 năm lần năm đã tăng chỉ tiêu cho các
hoạt động tạo ra những việc làm mới cho những ngời cha có việc làm, nhằm tạo
thu nhập ổn định cho ngời lao động, góp phần tích cực cho công cuộc xoá đói
giảm nghèo cho nhân dân.
ở Thái Lan, một trong những biện pháp chống nghèo khổ mà nớc này đã áp
dụng là phân bố cơ sở sản xuất công nghiệp xây dựng mới về khu vực nông thôn,
nơi có sẵn tài nguyên thiên nhiên nhằm thu hút số lao động dôi d ở khu vực nông
nghiệp( để khắc phục tình trạng dân lao động di c vào thành phố kiếm việc làm)
làm tăng thu nhập cho ngời dân và gia đình họ. Biện pháp này còn nhằm mục đích
đô thị hoá nông thôn, đa những vùng nông thôn hẻo lánh xa xôi vào dòng phát
triển chung của đất nớc.
Những nỗ lực trong các giải pháp chống nghèo khổ của các nớc ASEAN đã
đem lại những kết quả đáng kể, song để khắc phục tình trạng đói nghèo có tính lâu
dài bền vững thì chính phủ các nớc này phải duy trì và đẩy mạnh nhịp độ tăng tr-
ởng kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển tạo nên cơ sở vật chất dể phân phối lại thu
nhập qua sự điều tiết của chính phủ và khi nền kinh tế phát triển thì tích luỹ từ nội
bộ nền kinh tế đợc nâng cao, từ đó chính phủ đầu t cho việc xây dựng các công
trình cơ sở hạ tầng và giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là chơng trình xoá đói
giảm nghèo một cách hiệu quả nhất.
11
5.3 Trung Quốc.
Ngay từ khi Đại Hội Đảng XII của Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1984,
chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, nhung cái chính
là cải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn.Mục đích của nó là làm thay đổi các
quan hệ chính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánh nặng về tài chính đã đè quá
nặng lên những ngời nghèo khổ ở nông thôn trong nhiều năm qua, phục hồi ngành
sản xuất nông nghiệp.
Năm 1985 Đặng Tiểu Bình đã nói:" Sự nghiệp của chúng ta sẽ không có ý
nghĩa gì nhiều nếu không có sự ổn định ở nông thôn ". Sau khi áp dụng một loạt
các chính sách cải cách kinh tế ở khu vực nông thôn, Trung Quốc đã thu đợc
những thành tựu đáng kể, đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong thể chế chính
trị , thay đổi về căn bản về cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển đổi phơng thức quản
lý, thay đổi căn bản phơng thức phân phối, phân phối theo lao động đóng vai trò
chính, và Trung Quốc đã thực hiện thành công việc chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trờng có sự điều tiết cuả Nhà nớc , thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hỡng sang nền kinh tế thị
trờng thì sự phân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội .Do chính sách mở
cửa nền kinh tế , các thành phố lớn thì tập trung các nhà máysản xuất công
nghiệp , tuy có phát triển một số nhà máy công nghiệp ở một số vùng nông thôn,
song vùng giàu có thì ngày càng giàu có, vùng nghèo đói thì vẫn nghèo đói nhất là
vùng sâu,vùng xa. Để khắc phục tình trạng nghèo khổ cho khu vực nông thôn
chính phủ đã đa ra một loạt các giải pháp cơ bản nhằm xoá đói giảm nghèo cho
nhân dân, trong đó có các giải pháp về tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp
nông thôn, xây dựng các vùng định canh, định c, khu dân c mới, chính sách này đã
đem lại những thành công đáng kể cho nền kinh tế -xã hội Trung Quốc trong
những năm qua.
II Tổng quan về chơng trình xoá đói giảm nghèo .
1. Chơng trình quốc gia.
1.1 Khái niệm về chơng trình mục tiêu quốc gia:
1.1.1 Chơng trình mục tiêu:
+ Đợc xây dựng nhằm xác định các mục tiêu, các chính sách, các bớc phải
tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng để thực hiện một ý đồ, một mục đích nhất
định nào đó của Nhà nớc. Chơng trình thờng gắn với một ngân sách cụ thể.
+ Chơng trình quốc gia: là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và các giải
pháp đồng bộ về kinh tế, xã hội , khoa học công nghệ, môi trờng, cơ chế chính
sách, tổ chức thực hiện 1 hoặc 1 số mục tiêu đã đợc xác định trong chiến lợc phát
triển kinh tế xã hội chung của đất nớc trong thời gian đã định.
12
Chơng trình quốc gia bao gồm nhiều dự án khác nhau để thực hiện các mục
tiêu của chơng trình . Đối tợng quản lý và kế hoạch hoá đợc xác định theo chơng
trình , đầu t đợc thực hiện theo dự án.
+ Dự án của một quốc gia: Là tập hợp các hoạt động để tiến hành một
công việc nhất định nhằm đạt một hay nhiều mục tiêu cụ thể đã đợc định rõ trong
chơng trình với một khoản ngân sách và một thời gian thực hiện đợc xác định rõ.
+ Chơng trình xoá đói giảm nghèo là một hệ thống các giải pháp xác định
rõ vai trò của Nhà nớc, của các tổ chức trong xã hội, trong việc phân phối hợp lý
các hành động của mình để nâng cao mức sống cho ngời nghèo, tạo cho hộ những
cơ hội phát triển trong đời sống cộng đồng bằng chính lao động của bản thân.
1.2 Tiêu chuẩn để lựa chọn chơng trình quóc gia:
- Các vấn đề đợc lựa chọn để giải bằng chơng trình quốc gia phải là những
vấn đề cấp bách, liên ngành, liên vùng và có tầm quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nớc, cần phải tập trung chỉ đạo giải quyết.
- Mục tiêu của chơng trình quốc gia phải rõ ràng, lợng hoá đợc và nằm
trong mục tiêu chung của quốc gia.
- Thời gia thực hiện chơng trình phải đợc quy định giới hạn, thờng là 5 năm
hoặc phân kì thực hiện trong 5 năm.
1.3 Nội dung của chơng trình quốc gia:
- Đánh giá thực trạng tình hình của lĩnh vực mà chơng trình sẽ sử dụng,
luận chứng những vấn đề cấp bách phải giải quyết bằng chơng trình quốc gia.
- Xác định phạm vi, quy mô và mục tiêu cua chơng trình , các chỉ tiêu cơ
bản phải đạt đợc trong từng thời gian cụ thể .
- Xác định tổng mức vốn của chơng trình trong đó mức vốn chia từng năm,
phong thức huy động các nguồn vốn.
- Xác định hiệu quả kinh tế -xã hội chung của chơng trình và của các dự án
đấu t.
- Đề xuất khả năng lồng ghép với các chơng trình khác.
- Kế hoạch, tiến độ thực hiện dự án.
- Sự hợp tác quốc tế (nếu có)
2. Mục tiêu, phơng hớng, thời gian, phạm vi và đối tợng của chơng
trình xoá đói giảm nghèo quốc gia.
2.1 Mục tiêu:
+ Mục tiêu đến năm 2000:
- Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo trong tổng số hộ trong cả nớc xuống còn 10% vào
năm 2000 (theo tiêu chuẩn cũ) bình quân giảm 300000 hộ/ năm. Trong những năm
đầu thực hiện chơng trình tập trung xoá bỏ cơ bản hộ đói kinh niên, đặc biệt u tiên
hộ thuộc diện chính sách.
13
- Hỗ trợ phát triển kinh tế -xã hội cho các xã nghèo đặc biệt khó khăn , tạo
điều kiện đầu t cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất và tiếp cận các dịch vụ xã
hội cơ bản khác.
+ Mục tiêu đến cuối năm 2000: Phấn đấu đến cuối năm 2000 thực hiện đợc
4 chỉ tiêu sau:
- Cơ bản không còn hộ đói kinh niên.
- Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo xuống còn 15%( theo tiêu chuẩn mới), mỗi năm
giảm từ 1,5-2%.
- Cơ bản các xã nghèo có đủ các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu(thuỷ lợi
nhỏ, trờng học, trạm xá, đờng dân sinh, điện sinh hoạt, nớc sinh hoạt, chợ ).
- 75% hộ nghèo tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản ( đủ ăn, đủ ấm, nhà
ở không dột nát, ốm đau đợc chữa bệnh, trẻ em đợc chữa bệnh , đi học ).
2.2. Phơng hớng:
- Xoá đói giảm nghèo gắn với tăng trởng kinh tế.
-Phát huy nguồn lực tại chỗ (nội lực) để ngời nghèo, xã nghèo vơn lên tự
xoá đói giảm nghèo.
- Xoá đói giảm nghèo gắn với công bằng xã hội, u tiên giải quyết cho xã
nghèo, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc ít ngời, vùng căn cứ cách mạng.
- Thực hiện xã hội hoá công tác xoá đói giảm nghèo.
2.3 Phạm vi :
Chơng trình đợc thực hiện trong phạm vi cả nớc, trong những năm đầu tập
trung u tiên các xã nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, vùng cao, vùng sâu, hải đảo,
vùng xa. Thời gian thực hiện là 8 năm từ 1998-2005.
2.4 Đối tợng của chơng trình xoá đói giảm nghèo quốc gia:
Bao gồm ngời nghèo, xã ngèo, những hộ thuộc diện chính sách, hộ thuộc
diện định canh định c, đồng bào dân tộc ít ngời, dân tộc chăm , khơ me và các xã
thuộc khu vực 3.
2.5 Nhiệm vụ:
- Làm chuyển biến trong toàn đảng, toàn dân về chủ trơng xoá đói giảm
nghèo.
- Phát triển tổng hợp nguồn nhân lực.
- Thực hiện những u tiên về xã hội cần thiết cho việc xoá đói giảm nghèo ở
những vùng đặc biệt khó khăn , với các đối tợng đặc biệt.
- Đi đôi với việc hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, Nhà nớc cần tiếp tục xây
dựng và hoàn thiện chính sách, cơ chế khuyến khích mọi ngời làm giàu hợp pháp,
coi 1 bộ phận dân c giàu lên là cần thiết cho sự phát triển chung.
- Thực hiện lồng ghép chơng trình xoá đói giảm nghèo với các chơng trình
kinh tế xã hội khác.
3. Các nhân tố ảnh hởng đến chơng trình xoá đói giảm nghèo
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét