Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Giải pháp mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại agribank thanh trì

Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
ở Việt Nam, khái niệm DNVVN đợc đa ra với những điều kiện cụ thể,
đặc điểm riêng biệt về quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần và các
chính sách, quy định phát triển kinh tế của nớc ta, với nội dung:
DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có t cách pháp nhân,
không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động thoả
mãn các quy định của Chính phủ đối với từng ngành nghề tơng ứng với từng
thời kỳ phát triển của nền kinh tế.
Trớc năm 1998, do cha có quy định chính thức của Chính phủ nên nớc ta
chủ yếu sử dụng 2 tiêu thức là lao động và vốn, tuỳ theo quy định của từng cơ
quan nh: NHCT Việt Nam quy định các DNVVN là doanh nghiệp có vốn từ
5-10 tỷ đồng với số lao động từ 500-1000 ngời. Trong khi Hội đồng liên minh
các HTX lại quy định các doanh nghiệp có vốn đầu t từ 100-300 triệu đồng và
số lao động từ 5-10 ngời là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa là doanh
nghiệp có số vốn sản xuất kinh doanh trên 300 triệu và lao động trên 50 ngời.
Thành phố Hồ Chí Minh quy định các doanh nghiệp có vốn trên 1 tỷ đồng, lao
động trên 1000 ngời và doanh thu trên 10 tỷ đồng/năm là doanh nghiệp vừa và
dới các quy định trên là doanh nghiệp nhỏ.
Ngày 20/6/1998 Thủ tớng Chính phủ đã ban hành công văn số 681/CP-
KTN xác định tiêu thức DNVVN tạm thời quy định trong giai đoạn hiện nay là
những doanh nghiệp có vốn điêù lệ dới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình
hàng năm dới 200 ngời.
Nh vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký
kinh doanh nh: các doanh nghiệp nhà nớc đăng ký theo luật doanh nghiệp nhà
nớc; các công ty cổ phần, công ty TNHH và các doanh nghiệp t nhân đăng ký
hoạt động theo luật công ty, luật doanh nghiệp t nhân, luật doanh nghiệp và luật
đầu t nớc ngoài tại Việt Nam; các HTX đăng ký hoạt động theo luật HTX; các
cá nhân và nhóm sản xuất- kinh doanh đăng ký theo nghị định 66-HĐBT, đồng
thời các doanh nghiệp này thoả mãn hai tiêu thức về vốn và lao động theo công
văn 681/CP-KTN đều đợc coi là DNVVN. Với cách phân loại này, ở Việt Nam
số DNVVN chiếm khoảng 93% tổng số doanh nghiệp hiện có.
Tuy nhiên, cùng với tốc độ phát triển nhanh của nền kinh tế khi bớc vào
kỷ nguyên mới, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các DNVVN, các chỉ
tiêu đánh giá DNVVN cũng đợc nâng lên một bậc nhằm khuyến khích các
doanh nghiệp mở rộng sản xuất và giảm tỷ lệ thất nghiệp. Ngày 23/11/2001,
Chính phủ đã ban hành nghị định 90/NĐ-CP/2001 về Trợ giúp phát triển
5
Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
DNVVN. Theo nghị định này thì DNVVN đợc hiểu: DNVVN là cơ sở sản
xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có
vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 ngời. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của ngành, địa
phơng, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chơng trình trợ giúp có thể linh
hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu về vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ
tiêu.
1.1.2 Đặc điểm DNVVN và DNVVN trong nông thôn.
Là một doanh nghiệp nhng với quy mô vừa và nhỏ nên bên cạnh những
đặc điểm cơ bản của một doanh nghiệp thông thờng, DNVVN còn một số đặc
điểm sau:
Đây là loại hình doanh nghiệp có thể đợc tạo lập dễ dàng vì để thành lập
chỉ cần một số vốn đầu t ban đầu tơng đối ít, với một mặt bằng sản xuất hàng
hoá nhỏ, quy mô nhà xởng không lớn nên doanh nghiệp có thể giảm đợc chi phí
cố định, tận dụng đợc lao động thay thế cho vốn với giá công lao động thấp, hơn
nữa khả năng thu hồi vốn của loại hình này khá nhanh, tăng tốc độ vòng quay
vốn, bớc đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế nên việc quan hệ TD với loại hình
doanh nghiệp này sẽ đem lại kết quả tốt cho cả hai bên.
Với quy mô thuận lợi của mình là một DNVVN, bộ máy quản lý gọn
nhẹ, các mối quan hệ dễ điều chỉnh nên tính linh hoạt cao, có khả năng quan hệ
trực tiếp với thị trờng và ngời tiêu thụ nên dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng các nhu
cầu, thị hiếu trong thị trờng chuyên môn hoá. Đồng thời, mô hình quản lý gọn
nhẹ, ít trung gian đầu mối sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí, tận
dụng đợc các cơ hội kinh doanh khi thời cơ đến. Mặt khác, khi gặp những biến
cố của môi trờng kinh doanh, loại hình doanh nghiệp này dễ xoay chuyển bằng
cách chuyển đổi hoặc thu hẹp quy mô sản xuất của mình vì vậy tổn thất giảm đi
rất nhiều.
Không chỉ thuận lợi trong việc tạo lập và dễ thích nghi mà DNVVN còn
có thể phát triển rộng khắp các vùng của đất nớc, tham gia vào nhiều ngành
nghề, lĩnh vực và tồn tại nh một bộ phận không thể thiếu đợc của nền kinh tế,
tạo ra những sản phẩm phù hợp với những nhu cầu ở những vùng mang tính
chất nội bộ, cần số lợng sản phẩm ít, hoặc tạo ra một số mặt hàng thay thế hàng
nhập khẩu để phù hợp với sức mua của dân. Việc mở rộng TD với loại hình
doanh nghiệp này sẽ giúp ngân hàng tham gia vào nhiều ngành nghề trong
nhiều lĩnh vực nhằm phân tán rủi ro cho ngân hàng.
6
Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
Khả năng tài chính của DNVVN rất hạn chế, trớc hết là do nguồn vốn tự
có thấp dẫn đến khả năng vay vốn ngân hàng cũng nh huy động vốn trên thị tr-
ờng bị hạn chế, những khoản tiền dự định vay của DNVVN thờng gặp khó khăn
vì thiếu tài sản thế chấp. Do vậy các DNVVN thờng rơi vào tình trạng thiếu vốn
cộng với khả năng tích luỹ thấp nên nguồn vốn bổ sung cho sản xuất kinh
doanh bị giới hạn, khiến cho khả năng thu lợi nhuận không tối đa ngay cả khi
có cơ hội để kinh doanh.
Cũng do quy mô loại hình doanh nghiệp, năng lực tài chính hạn hẹp, nên
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong mua sắm trang thiết bị, đổi mới công
nghệ, hầu hết là công nghệ, máy móc cũ kỹ, lạc hậu vì vậy việc tiếp cận những
thông tin, áp dụng công nghệ mới còn hạn chế nên nhiều doanh nghiệp phải tìm
đến con đờng liên doanh, liên kết nhằm đổi mới công nghệ, trang thiết bị đáp
ứng nhu cầu của sản xuất kinh doanh. Bên cạnh khó khăn về máy móc, trang
thiết bị doanh nghiệp còn bị bất lợi trong việc tiêu thụ sản phẩm và khả năng
thu hút nhà quản lý và công nhân tốt. Do nguồn tài chính hạn hẹp nên doanh
nghiệp khó có thể thực hiện chiến lợc Marketing giới thiệu sản phẩm của mình.
Một loạt các chính sách trong chiến lợc Marketing nh: chiến lợc sản phẩm,
chiến lợc về giá, chiến lợc phân phối và cả chiến lợc khuyếch trơng đều cần đến
một lợng tài chính đầy đủ. Chính vì vậy, khả năng tiếp cận thị trờng thế giới của
DNVVN bị hạn chế.
Chính những hạn chế về vốn, về trình độ công nghệ, về phơng thức quản
lý mà khả năng cạnh tranh, tiếp cận thị trờng của doanh nghiệp thấp. Đây chính
là những yếu tố tiềm ẩn gây rủi ro cho ngân hàng khi cho vay vì vậy để quan hệ
TD đợc thiết lập, doanh nghiệp cần khắc phục những hạn chế đó và ngân hàng
cần thẩm định kỹ khách hàng trớc khi phát tiền vay.
Đặc điểm của DNVVN trong nông thôn
Một phần trong hệ thống DNVVN ở mỗi quốc gia có sự góp mặt của các
DNVVN trong nông nghiệp, đặc biệt ở một nớc nông nghiệp nh nớc ta, điều đó
càng rõ ràng. ở Việt Nam, những thay đổi về chính sách đất đai sau Đại hội
Đảng lần thứ VI và luật đất đai đợc Quốc hội thông qua đã đánh dấu một bớc
phát triển của các DNVVN khu vực nông thôn, đa khu vực này nhanh chóng
tiến lên trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
Vốn của các DNVVN ở nông thôn
Vốn bình quân ban đầu của các DNVVN ở nông thôn rất thấp cả về số t-
ơng đối và số tuyệt đối so với các DNVVN khác. Với các doanh nghiệp hộ gia
7
Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
đình, vốn bình quân là 921 USD, với các doanh nghiệp t nhân là 2.153 USD.
Theo khảo sát, trên 80% số doanh nghiệp chủ yếu dựa vào vốn tự có và vốn vay
không lãi của bạn bè, họ hàng khi lập doanh nghiệp, với doanh nghiệp hộ gia
đình, con số này là 87% và với doanh nghiệp t nhân, con số này là 75%. Vốn tự
có và vốn vay không phải trả lãi của chung DNVVN khu vực nông thôn chiếm
90% số vốn ban đầu. Nguồn vốn vay ngoài chủ yếu là vay t nhân có trả lãi, TD
nhà nớc hầu nh không có vai trò gì, chỉ khoảng 3% DNVVN đợc vay vốn ngân
hàng hoặc HTX TD hoặc của chính quyền địa phơng. Hiện nay, con số này có
cao hơn do những nỗ lực của hệ thống NHTM nhà nớc theo quan điểm thúc đẩy
sự phát triển khu vực t nhân của Chính phủ, nhng tỷ trọng nguồn vốn vay ngân
hàng trong tổng nguồn vốn của các DNVVN khu vực nông thôn cha cao.
Tình trạng thiếu nguồn vốn TD vay chính thức khiến cho vốn ban đầu
của một DNVVN hoàn toàn dựa vào khả năng, quy mô của các nguồn vốn tự
có, có thể đầu t mà không trông mong gì vào các khoản dự kiến thu hồi hoặc
mục tiêu yêu cầu vốn. Đối với nền kinh tế nói chung, điều đó gây ra những hậu
quả nghiêm trọng, hơn nữa còn làm tăng chứ không giảm sự khác biệt về thu
nhập và phân phối ở trong vùng cũng nh trong từng hộ gia đình và toàn bộ cộng
đồng nông thôn. Điều đó dẫn đến hậu quả là các ngành công nghiệp nông thôn
phát triển chậm hơn.
Cũng nh các DNVVN ở các ngành khác, thiếu vốn làm cho DNVVN khu
vực nông thôn tồn tại ở trình độ công nghệ thấp kém, phơng pháp sản xuất lạc
hậu, năng suất thấp, đồng thời giảm khả năng cạnh tranh. Nó sẽ làm khác biệt
về phát triển kinh tế cũng nh những chênh lệch ngay giữa các DNVVN trong
khu vực nông thôn. Các DNVVN sẽ phát triển ở những nơi nào mà nhân dân có
nguồn đầu t đáng kể chứ không phải là nơi nào có nhu cầu lớn nhất về việc làm
và thu nhập hoặc ở những nơi có điều kiện tốt nhất để phát triển những loại hình
hoạt động phi nông nghiệp. Thực tế là các DNVVN mạnh về mặt kinh tế thờng
phát triển chủ yếu ở những vùng nông nghiệp trù phú, nơi mà lợi nhuận từ nông
nghiệp có thể đầu t vào công nghiệp còn những doanh nghiệp ở vùng nghèo nàn
thì dù đợc đánh giá là nhìn chung có phát triển song cũng chỉ nhỏ bé, năng suất
thấp, dễ đi đến phá sản khi phải đơng đầu với cạnh tranh bên ngoài.
Lao động ở các DNVVN khu vực nông thôn.
Sự phát triển của các DNVVN khu vực nông thôn có tác dụng chính
trong việc tạo thêm cơ hội việc làm cho các hộ gia đình vì các doanh nghiệp này
chủ yếu dựa vào lao động hộ gia đình. Trong số các DNVVN nông thôn thì có
hơn 1/3 số lao động là lao động làm công ăn lơng. Các doanh nghiệp hộ gia
8
Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
đình nông thôn hầu nh phụ thuộc hoàn toàn vào lao động hộ gia đình. Chỉ có
8,1% số doanh nghiệp thuê lao động có trả lơng và trung bình số lao động làm
thuê chỉ chiếm 6,1% tổng lực lợng lao động. Doanh nghiệp t nhân ở khu vực
nông thôn cũng vậy, phụ thuộc phần lớn vào lao động hộ gia đình, chiếm 43,6%
tổng lực lợng lao động. Tỷ lệ lao động làm công ăn lơng lớn nhất trong các
doanh nghiệp sản xuất và chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Trình độ học vấn của lao động ở các DNVVN khu vực nông thôn tơng
đối thấp, 26,5% số lao động trong các doanh nghiệp hộ gia đình có trình độ lớp
6 phổ thông trở nên, con số này là 21% trong các doanh nghiệp t nhân. Chỉ có
16,6% số lao động trong các doanh nghiệp hộ gia đình có trình độ lớp 10 trở
nên, con số này là 39,6% ở các doanh nghiệp t nhân.
Hỗ trợ của Nhà n ớc đối với các DNVVN khu vực nông thôn.
Sự khuyến khích của chính quyền địa phơng hoặc sự hỗ trợ tài chính
cũng có vai trò quan trọng trong việc định hớng cho sự phát triển của các doanh
nghiệp khu vực nông thôn. Qua khảo sát, có 56% số doanh nghiệp nhận đợc sự
giúp đỡ về một số mặt khi mới thành lập trong đó hỗ trợ về TD chiếm 2,9%,
một con số còn quá khiêm tốn, cha thúc đẩy khu vực này phát triển hiệu quả,
cha khai thác hết những khả năng và thế mạnh của nó.
Thị tr ờng và tiêu thụ sản phẩm
Các DNVVN khu vực nông thôn có hai loại thị trờng chính: một loại chủ
yếu bán cho thị trờng địa phơng, một loại để bán trên thị trờng thành phố lớn.
Khoảng 1/3 các doanh nghiệp chỉ bán sản phẩm của mình ở thị trờng địa phơng,
còn lại đợc tiêu thụ tại các thành phố lớn.
Mối quan hệ giữa các DNVVN khu vực nông thôn với khách hàng dờng
nh ít mật thiết hơn so với hệ thống các DNVVN trong nền kinh tế nói chung.
Các doanh nghiệp nông thôn dờng nh có nhiều khách hàng hơn, ít khi sản xuất
theo đơn đặt hàng trớc và hiếm có các hợp đồng phụ. Sự khác nhau giữa
DNVVN nông thôn với khu vực khác ở chỗ DNVVN nông thôn có mối quan hệ
không đợc chặt chẽ với khu vực nhà nớc, các doanh nghiệp nhà nớc chỉ cung
ứng dới 10% đầu vào cho doanh nghiệp nông thôn và mua sản phẩm với tỷ lệ ít
hơn 10%.
Đối với các DNVVN khu vực nông thôn, khó khăn về thị trờng là một
trong những vấn đề đợc đề cập nhiều nhất trong sự phát triển của doanh nghiệp
bên cạnh khó khăn về vốn. Sự khó khăn thể hiện trên hai mặt: Thứ nhất, do cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp dẫn đến tình trạng các DNVVN khu vực nông thôn
9
Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
bị cạnh tranh mạnh mẽ từ phía các doanh nghiệp nhà nớc trong khu vực này. Sự
hạn chế về vốn cũng nh kỹ năng quản lý, kinh nghiệm và trình độ quản lý kinh
doanh đã làm các DNVVN khu vực nông thôn khó có thể cạnh tranh hữu hiệu.
Thứ hai, sự chia cắt nền kinh tế qua nhiều thị trờng tại địa phơng làm hạn chế
việc doanh nghiệp mở rộng ra các thị trờng bên ngoài khu vực của mình, điều
này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu hậu quả khi sản xuất ra
sản phẩm vợt quá nhu cầu của thị trờng địa phơng.
Thông qua những đặc điểm của DNVVN trong nông thôn, chúng ta cũng
thấy đợc những khó khăn mà họ gặp phải trong đó vẫn đặc biệt là thiếu vốn. Vì
vậy mở rộng hoạt động TD đối với các DNVVN trong nông thôn là cần thiết và
tất yếu nhằm hoàn thiện một nền kinh tế nặng về nông nghiệp.
1.1.3 Vai trò của DNVVN trong nền kinh tế thị trờng.
Cùng với tốc độ phát triển nhanh, hiệu quả của nền kinh tế thế giới chúng
ta càng thấy rõ hơn vị trí và vai trò của loại hình DNVVN. Trong bối cảnh cạnh
tranh toàn cầu gay gắt nh hiện nay, DNVVN đã và đang tham gia hoạt động
trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế với nhiều hình thức đa dạng, phong phú nên
ngày càng nhận đợc sự quan tâm, hỗ trợ của các Bộ, Ban ngành liên quan nhằm
huy động tối đa các nguồn lực trợ giúp cho công nghiệp lớn, tăng sức cạnh
tranh của sản phẩm.
Tại các nớc công nghiệp phát triển cao nh Đức, Nhật bản, Mỹ mặc dầu
có nhiều công ty lớn nhng DNVVN vẫn có vai trò rất quan trọng. ở Nhật Bản
ngời ta coi DNVVN là một nguồn lực đảm bảo cho sức sống của nền kinh tế, là
bộ phận hợp thành quan trọng của cơ cấu quy mô nhiều tầng của các doanh
nghiệp và số DNVVN chiếm tới 99% trong tổng số các doanh nghiệp trong nớc.
Đối với các nớc phát triển và chậm phát triển thì ngoài vai trò là một bộ
phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng
trởng kinh tế, DNVVN còn có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, xoá đói giảm nghèo, giải
quyết những vấn đề xã hội.
Đối với các nớc ở Châu á nh Philippines, Hàn Quốc, Thái Lan,
Indonesia, DNVVN còn có vai trò tích cực trong việc chống đỡ các tiêu cực của
cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ, góp phần đáng kể vào sự ổn định kinh tế-
xã hội và từng bớc khôi phục nền kinh tế.
ở Việt Nam, do đặc điểm, tình hình và bối cảnh phát triển kinh tế của n-
ớc ta quy định nên sự có mặt các DNVVN là rất cần thiết để phát triển kinh tế.
10
Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
Nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đã làm cho đất nớc chúng ta lạc hậu,
kém phát triển trong một thời gian dài, nhng những năm gần đây do đờng lối
đúng đắn của Đảng và Chính Phủ về phát triển kinh tế nên nhiều thành phần
kinh tế có cơ hội phát triển trong đó có DNVVN. Là một nớc có trình độ phát
triển kinh tế thấp hơn so với các nớc trong khu vực và trên thế giới cộng với cơ
sở vật chất kỹ thuật yếu kém, trình độ tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý còn
nhiều hạn chế nên việc phát triển loại hình DNVVN là phù hợp nhất, việc tích
tiểu thành đại sẽ giúp chúng ta đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-
ớc.
Sự phát triển của các DNVVN trong nền kinh tế thị trờng góp phần quan
trọng trong việc giải quyết những mục tiêu kinh tế- xã hội ở một số mặt:
Một là, các DNVVN đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân và
tăng trởng kinh tế.
Theo tính toán của các nớc thì DNVVN đóng góp rất lớn vào sự gia tăng
thu nhập quốc dân của các nớc, bình quân chiếm khoảng trên dới 50% GDP ở
mỗi nớc. ở Mỹ các DNVVN đóng góp hơn một nửa GDP năm 1994, Đức: 50%,
Indonesia: 38,9%, Malaysia: 50,5% GDP trong công nghiệp. ở một số nớc và
lãnh thổ, DNVVN tham gia hoạt động xuất khẩu và chiếm tỷ trọng đáng kể
trong kim ngạch xuất khẩu, từ 25- 40%. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu
quản lý TW Việt Nam thì hiện nay khu vực DNVVN của cả nớc chiếm khoảng
24%-25% GDP.
Hai là, DNVVN tham gia cung cấp một khối lợng hàng hoá đáng kể cho
xã hội.
Từ lợi thế về quy mô vừa và nhỏ, DNVVN hoạt động trong hầu hết các
lĩnh vực, các ngành nghề kể cả các loại hàng hoá mang tính chất vùng, địa ph-
ơng. Với nguồn lực sẵn có của địa phơng cùng với đội ngũ nhân công lành nghề
của doanh nghiệp, rất nhiều sản phẩm đợc ra đời đáp ứng nhu cầu của ngời tiêu
dùng trong và ngoài nớc.
Ba là, sự có mặt của các DNVVN đã tham gia giải quyết một số lợng lớn
chỗ làm việc cho dân c, làm tăng thu nhập cho ngời lao động, góp phần xoá đói,
giảm nghèo.
Mặc dù số lợng lao động của từng DNVVN không nhiều, nhng lại chiếm
một tỷ lệ lớn trong tổng số các doanh nghiệp, nên DNVVN thu hút lợng lao
động lớn của toàn xã hội, khoảng 50- 80%. Đặc biệt trong nhiều thời kỳ, khi
các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì sự phát triển của các DNVVN lại
11
Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
thu hút thêm nhiều công nhân đang thất nghiệp. Cũng theo đánh giá của Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế TW thì số lao động của các DNVVN ở Việt Nam
trong các lĩnh vực phi nông nghiệp hiện có khoảng 7,8 triệu ngời, chiếm khoảng
79,2% tổng số lao động phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lợng lao
động của cả nớc.
ổn định đợc việc làm cũng có nghĩa ổn định nguồn thu nhập cho ngời lao
động, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân c, tạo ra
sự phát triển tơng đối đồng đều giữa các vùng của đất nớc và cải thiện mối quan
hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau.
Bốn là, DNVVN có khả năng khai thác, phát huy các nguồn lực và tiềm
năng tại chỗ của các địa phơng, các nguồn tài chính trong dân.
Do tính chất nhỏ lẻ, quy mô vốn ban đầu không cần nhiều nên DNVVN có
thể đợc thành lập ở tất cả các địa phơng, tận dụng đợc những lợi thế ngay tại chỗ,
giảm chi phí sản xuất, tránh gây lãng phí nguồn lực sẵn có.
Khu vực DNVVN thu hút đợc khá nhiều vốn trong dân tham gia vào sản
xuất kinh doanh, góp phần làm tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế. Điều này đặc
biệt quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá ở các nớc đang
phát triển.
Năm là, hình thành, phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động.
Cùng với việc phát triển các DNVVN là sự xuất hiện ngày càng nhiều
hơn các nhà kinh doanh sáng lập. Đây sẽ là nơi đào tạo, rèn luyện các nhà kinh
doanh làm quen với môi trờng kinh doanh. Bắt đầu từ kinh doanh quy mô nhỏ
và thông qua điều hành quản lý quy mô vừa và nhỏ, một số nhà doanh nghiệp sẽ
trởng thành lên thành những nhà doanh nghiệp lớn, tài ba, biết đa doanh nghiệp
mình nhanh chóng phát triển. Đây là lực lợng rất cần thiết để góp phần thúc đẩy
sản xuất kinh doanh ở những nớc đang trong giai đoạn phát triển, trong đó có
Việt Nam.
Sáu là, tạo ra môi trờng cạnh tranh thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát
triển có hiệu quả hơn.
Sự tham gia của rất nhiều các DNVVN vào sản xuất kinh doanh làm cho
số lợng và chủng loại sản phẩm sản xuất tăng lên rất nhanh. Kết quả là làm tăng
tính cạnh tranh trên thị trờng, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp thờng xuyên
đổi mới mặt hàng, giảm chi phí, tăng chất lợng để thích ứng với môi trờng mới,
12
Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
để doanh nghiệp tiếp tục tồn tại và phát triển. Những yếu tố đó có tác động lớn
làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn.
Bẩy là, các DNVVN có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy quá trình công
nghiệp hoá- hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu
vực nông thôn.
Sự phát triển của các DNVVN ở nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời
thúc đẩy các ngành thơng mại, dịch vụ phát triển. Sự phát triển của các
DNVVN ở thành thị cũng góp phần làm tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp,
dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế
quốc dân.
Tám là, các DNVVN góp phần đáng kể vào việc thực hiện đô thị hoá phi
tập trung.
Hệ thống DNVVN ở nông thôn sẽ thu hút những ngời lao động thiếu
hoặc cha có việc làm và có thể thu hút số lợng lớn lao động thời vụ trong các kỳ
nông nhàn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, rút dần lực lợng lao động làm
nông nghiệp chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ, nhng vẫn sống ngay tại
quê hơng, bản quán, không phải đi xa. Đồng thời hình thành các khu cơ sở sản
xuất ngay tại nông thôn, hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng
quê, thực hiện quá trình đô thị hoá phi tập trung.
1.2 Sự cần thiết của TD ngân hàng đối với các DNVVN.
1.2.1 TD ngân hàng.
1.2.1.1 Khái niệm TD ngân hàng
Để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất tiến hành liên tục, mỗi doanh
nghiệp cần có nguồn vốn ổn định. Tuy nhiên không phải lúc nào doanh nghiệp
cũng có sẵn vốn nên họ thờng xuyên có nhu cầu huy động các nguồn vốn có
thể, trong khi đó một số doanh nghiệp, cá nhân khác lại đang d thừa một lợng
tiền tệ, chính vì vậy ngân hàng đã ra đời cùng với các hoạt động của nó, kết quả
là nguồn lực của xã hội đợc sử dụng một cách có hiệu quả.
Thông qua các hoạt động của ngân hàng, vốn đợc chuyển từ tay ngời này
sang tay ngời khác và ngân hàng sẽ đợc trả công cho vai trò ngời dẫn vốn
bằng phần chênh lệch giữa lãi suất của nghiệp vụ huy động và lãi suất của
nghiệp vụ cho vay- hai nghiệp vụ chủ yếu, truyền thống của ngân hàng, trong
đó phần lợi nhuận mà ngân hàng tạo ra nằm hầu hết ở nghiệp vụ cho vay hay
13
Khoá luận tốt nghiệp dơng thị hải yến
còn gọi là nghiệp vụ TD. Có thể nói rằng, TD là nghiệp vụ quan trọng nhất
trong các hoạt động của ngân hàng, chỉ khi ngân hàng thực hiện tốt nghiệp vụ
này thì hoạt động ngân hàng mới tiếp tục tồn tại và góp phần nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
TD ra đời, tồn tại song song và phát triển cùng với nền sản xuất hàng
hoá. TD nói một cách khái quát là quan hệ vay mợn, nói cụ thể hơn là quá trình
mà chủ nợ chuyển nhợng tạm thời một số tài sản trực tiếp dới hình thái vật chất
hoặc hình thái hàng hoá đợc tách thành tiền hoặc trực tiếp dới hình thái tiền tệ
cho con nợ sử dụng trong một thời hạn đã thoả thuận. Hết thời hạn, khoản vay
đó đợc trả lại cho chủ nợ kèm theo một khoản lợi tức.
Một trong những loại TD quan trọng trong nền kinh tế hiện nay là TD
ngân hàng, đó là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay
và bên đi vay trong đó ngân hàng vừa là ngời đi vay vừa là ngời cho vay, theo
đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn
nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn
gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Các chủ thể tham gia vào TD ngân hàng rất phong phú và đa dạng với
một bên là ngân hàng, một bên là các TCKT, cá nhân, HTX .Các quan hệ TD
giữa các chủ thể TD đợc thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có lợi cho
cả hai bên, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Từ bản chất là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả, TD ngân hàng
có các đặc trng:
Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả về thời gian và giá trị, vì vậy quan hệ
TD đợc xây dựng trên cơ sở lòng tin giữa ngời đi vay và ngời cho vay. Đây là
điều rất cơ bản trong quản trị TD, tuy nhiên không phải bất kỳ cán bộ TD nào
cũng nhận thức rõ về điều này mà hiện nay hầu nh khi xét duyệt cho vay các
cán bộ TD không dựa vào tín nhiệm mà lại chú trọng đến các đảm bảo, đó cũng
là nguyên nhân chính tại sao d nợ TD với các DNVVN, đối tợng khách hàng
chủ yếu hiện của các ngân hàng vẫn còn hạn chế.
TD là quan hệ chuyển nhợng giá trị mang tính chất tạm thời. Chỉ sau một
thời hạn nhất định, giá trị chuyển nhợng đó sẽ quay lại với chủ sở hữu của nó
cộng thêm một khoản lợi nhuận đã thoả thuận.
Giá trị hoàn trả thông thờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách
khác là ngời đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét