pháp cắt giảm chi phí và sản xuất một số lợng sản phẩm đến mức giới hạn mà
tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: là cuộc cạnh tranh trên thị trờng mà phần
lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, cùng một loại sản phẩm có thể
chia làm nhiều loại, mỗi loại sản phẩm, nhãn hiệu sản phẩm đều mang hình ảnh
hay uy tín khác nhau, mặc dù sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể.
Các điều kiện mua, bán hàng rất khác nhau, vì nhiều lý do ngời bán lôi kéo
khách hàng về phía mình bằng nhiều cách: quảng cáo, khuyến mại, cung cấp
dịch vụ, tín dụng, chiết khấu, giảm giá ngời bán có thể ấn định giá linh hoạt tuỳ
theo khu vực bán sản phẩm, tuỳ theo khách hàng cụ thể và mức lợi nhuận mong
muốn.
+ Thị trờng cạnh tranh độc quyền: cạnh tranh độc quyền là cạnh tranh diễn
ra trên thị trờng mà ở đó có một số ngời bán một số sản phẩm thuần nhất.
Họ có thể kiểm soát gần nh toàn bộ số lợng sản phẩm hay hàng hoá bán ra
trên thị trờng. Nhà độc quyền hoàn toàn có quyền định đoạt giá cả và số lợng
bán ra. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là độc quyền có sự tự do hoàn toàn
về giá mà tuỳ theo đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm nhà độc quyền có thể định
giá cao hay thấp để thu lợi nhuận tối đa.Trong kinh doanh ai là ngời độc quyền
sẽ có lợi thế song về mặt xã hội thì nó làm kìm hãm sự phát triển sản xuất, làm
hại ngời tiêu dùng. Vì vậy, ở một số nớc có luật chống độc quyền, khuyến khích
cạnh tranh lành mạnh.
3. Các lực lợng cạnh tranh trên thị trờng.
Mối đe doạ
gia nhập
Sức mạnh Sức mạnh
của ngời của ngời
5
Những ngời gia
nhập tiềm năng
Các đối thủ cạnh
tranh trong
ngành
Sự cạnh tranh
giữa các đối thủ
đang tồn tại
Ngời
cung
ứng
Ngời
mua
cung ứng mua
Mối đe doạ
thay thế
Trớc hết, ta định nghĩa ngành kinh tế là một nhóm những công ty sản xuất
những sản phẩm thay thế gần gũi của nhau. Một công ty trong một ngành sản
xuất không thể đứng độc lập một mình trên thị trờng mà không có mối quan hệ
với bên ngoài mà thực tế chúng hoạt động và phát triển trong những môi trờng
hết sức phức tạp.
Micheal porter trong cuốn "chiến lợc cạnh tranh" đã đa ra 5 lực lợng cạnh
tranh tác động đến mức độ cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp
Năm lực lợng cạnh tranh: nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ mới, cuộc
cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại, mối đe doạ của các sản phẩm thay thế, sức
mạnh của ngời mua và sức mạnh của ngời cung ứng là 5 lực lợng cơ bản của
cạnh tranh trên thị trờng.
Toàn bộ 5 lực lợng cạnh tranh này kết hợp với nhau xác định cờng độ cạnh
tranh và mức lợi nhuận của ngành. Những lực lợng mạnh mẽ nhất sẽ thống trị
và trở thành trọng yếu theo quan điểm xây dựng chiến lợc.
3.1. Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ ngoài ngành
Những đối thủ mới của ngành mang đến những năng lực sản xuất mới,
sự mong muốn chiếm lĩnh một thị trờng nào đó và thờng là những ngời có tiềm
lực to lớn. Giá bán có thể bị kéo xuống hoặc chi phí của các hãng đi trớc có thể
bị tăng lên và kết quả là giảm mức lợi tức. Các công ty đa dạng hoá hoạt động
của mình thông qua việc xâm nhập vào một ngành từ những thị trờng khác th-
ờng sử dụng các nguồn lực của họ để tạo ra một cuộc cải tổ. Sự xâm nhập vào
6
Các sản phẩm
thay thế
một ngành, với dự định xây dựng một vị trí trên thị trờng điều đó có lẽ cần coi
nh một sự nhập cuộc mới mặc dù không có một thực thể mới nào tạo ra.
Nguy cơ nhập cuộc vào một ngành phụ thuộc vào những barie nhập cuộc
thể hiện qua các phản ứng của các đối thủ cạnh tranh hiện thời mà các đối thủ
mới có thể dự đoán đợc. Các barie này là tính kinh tế, sự khác biệt của sản
phẩm, những đòi hỏi về vốn, chi phí, khả năng tiếp cận với các kênh phân phối
và những bất lợi về chi phí không liên quan tới quy mô. Nếu các barie cao hoặc
các đối thủ mới có thể dự đoán đợc sự toan tính trả đũa quyết liệt của các đối
thủ hiện thời đang quyết tâm phòng thủ thì nguy cơ nhập cuộc sẽ thấp.
3.2 Cuộc cạnh tranh của các đối thủ hiện tại
Trong cuộc cạnh tranh này các đối thủ sử dụng các chiến thuật nh cạnh
tranh về giá, các cuộc chiến về quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tăng cờng
phục vụ khách hàng hoặc các dịch vụ sau khi bán. Cuộc cạnh tranh, tranh đua
xảy ra vì một nhiều đối thủ thấy bị chèn ép hoặc thấy cơ hội để cải thiện vị trí.
Trong đa số các ngành, những bớc đi của một công ty có những hiệu ứng rõ
ràng với các đối thủ cuả nó và nh thế có thể kích thích sự trả đũa hoặc những cố
gắng chống trả lại.
Một số hình thức cạnh tranh, rõ ràng nhất là cạnh tranh về giá, rất không
ổn định và có khả năng làm giảm lợi nhuận toàn ngành. Các đối thủ cạnh tranh
rất nhanh chóng và dễ dàng bắt chớc các hành động giảm giá và một khi làm
nh vậy sẽ hạ thấp doanh thu của tất cả các hãng trừ khi độ co dãn của cầu là khá
lớn. Ngợc lại, cuộc cạnh tranh về quảng cáo có thể làm tăng nhu cầu và làm
giảm mức độ dị biệt của sản phẩm trong ngành và dẫn tới có lợi ích cho toàn
ngành.
Cạnh tranh khốc liệt ở một số ngành là kết quả của một loạt các yếu tố cấu
trúc tác động lẫn nhau nh các đối thủ cạnh tranh đông đảo hoặc đều bằng vai
phải lứa hay sự thiếu vắng về sự khác biệt của sản phẩm và về các chi phí
chuyển đổi, cũng có thể là do các đối thủ cạnh tranh đa dạng về chiến lợc, về
nguồn gốc con ngời
7
3.2 áp lực từ các sản phẩm thay thế
Xét theo nghĩa rộng thì các công ty trong ngành phải cạnh tranh với các
ngành sản xuất các sản phẩm thay thế. Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi
nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách đặt một ngỡng tối đa cho mức giá
mà các hãng trong ngành có thể kinh doanh có lãi. Khả năng về lựa chọn giá cả
của các sản phẩm thay thế càng hấp dẫn thì ngỡng chặn trên đối với lợi nhuận
càng chắc chắn hơn.
Xác định những sản phẩm thay thế chính là tìm kiếm những sản phẩm có
cùng công năng nh sản phẩm của một ngành. Nhiều khi công việc này rất tinh
vi đẩy ngời phân tích vào những ngành kinh doanh dờng nh xa lạ với ngành. Vì
thế để đối mặt với các sản phẩm thay thế thì đó là vẫn đề chung của toàn ngành,
ví dụ việc quảng cáo của một hãng không đủ thắng nổi sản phẩm thay thế thì
việc quảng cáo liên tục mạnh mẽ của hãng trong ngành chắc chắn sẽ cải thiện
đáng kể vị trí chung của toàn ngành.
3.4 Sức mạnh của ngời mua
Ngời mua cạnh tranh với ngành bằng cách bắt ép mặc cả để có chất lợng
tốt hơn, phục vụ nhiều hơn và làm cho các doanh nghiệp cùng ngành chống lại
nhau. Tất cả đều làm hao tổn lợi nhuận của ngành.
Sức mạnh của mỗi nhóm khách hàng phụ thuộc vào một loạt các đặc điểm
của tình hình thị trờng, vào tầm quan trọng hàng hoá của ngành xét trong mối t-
ơng quan với toàn bộ hoạt động kinh doanh của nhóm. Sức mạnh của ngời mua
tăng hoặc giảm thay đổi theo thời gian của các yếu tố nh sự nhạy cảm với giá,
sự đầy đủ thông tin hoặc do kết quả của quyết định chiến lợc của công ty.
Chính vì vậy, việc lựa chọn các nhóm khách hàng chính yếu, thị trờng
chính yếu phải đợc xem xét nh một chiến lợc tối quan trọng.
3.5 Sức mạnh của ngời cung ứng
Những ngời cung ứng có thể khẳng định sức mạnh của mình đối với các
thành viên bằng cách đe doạ tăng hoặc giảm chất lợng hàng hoá dịch vụ, bằng
8
cách đó chèn ép lợi nhuận tiêu thụ của một ngành khi ngành đó không còn khả
năng bù đắp lại chi phí tăng lên trong mức giá của ngành.
Ngoài các hãng cung ứng còn phải coi lực lợng lao động nh một lực lợng
cung ứng, và lực lợng cung ứng có rất nhiều sức mạnh trong nhiều ngành. Thực
tế đã chỉ ra rất rõ ràng những nhân viên có tay nghề và kinh nghiệm thì việc họ
làm hay không làm cho doanh nghiệp sẽ làm ảnh hởng không nhỏ đến năng
suất, chất lợng sản phẩm của công ty.
II. Cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng trong cơ
chế thị trờng.
1. Quan niệm về cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng.
1.1 Khái niệm doanh nghiệp xây dựng
Theo nghị định của Chính phủ số 52/ 1999/ NĐ- CP ngày 08/ 07/ 1999 về
việc ban hành quy chế quản lý đầu t và xây dựng định nghĩa: "doanh nghiệp xây
dựng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đợc thành lập theo quy định
của pháp luật, có đăng ký kinh doanh về xây dựng"
Nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp xây dựng là chuyên môn nhận thầu
thi công xây lắp kèm theo các tổ chức sản xuất phụ nh vật liệu xây dựng, cấu
kiện xây dựng (nếu có) và các tổ chức quản lý, dịch vụ khác thuộc ngành xây
dựng nh vận tải xây dựng, bảo trì, bảo dỡng công trình.
1.2 Khái niệm về cạnh tranh trong xây dựng
+ Theo kinh tế học cạnh tranh đợc định nghĩa là sự giành giật thị trờng để
tiêu thụ hàng hoá giữa các doanh nghiệp.
Nội dung trong định nghĩa này nhấn mạnh đến cạnh tranh trong khâu tiêu
thụ sản phẩm, hàng hoá. Nó chú trọng nhiều đối với các ngành mà sản phẩm
hoàn thành trớc khi xác định đợc khách hàng là ai. Còn đối với ngành xây dựng
do sản phẩm xây dựng (các công trình xây dựng) có tính đặc thù, khác biệt hẳn
so với các doanh nghiệp trong ngành khác - đó là sản phẩm xây dựng thờng
mang tính đơn chiếc và sản phẩm theo đơn đặt hàng (yêu cầu) của chủ đầu t.
9
Nh vậy, là các doanh nghiệp xây dựng xác định đợc khách hàng trớc khi sản
phẩm xây dựng đợc hoàn thành. Xuất phát từ đặc thù này mà cạnh tranh trong
ngành xây dựng cũng có tính đặc thù riêng so với các ngành khác. Cụ thể, đối
với các doanh nghiệp thuộc các ngành khác thì thị trờng tổ chức sự cạnh tranh
và cũng chính thị trờng đánh giá khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp
tham gia thị trờng. Còn đối với các doanh nghiệp xây dựng, sự cạnh tranh do
các chủ đầu t (bên mời thầu) và do đó cũng chính chủ đầu t quyết định ai sẽ là
ngời thắng cuộc trong cạnh tranh. Theo nghĩa đó, cạnh tranh trong xây dựng có
thể định nghĩa nh sau:
+ Theo nghĩa hẹp: cạnh tranh trong xây dựng là việc các doanh nghiệp xây
dựng đa ra các biện pháp kỹ thuật, chất lợng, tổ chức, giá cả, biện pháp thi công
tốt nhất, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của chủ đầu t nhằm dành đợc mục tiêu thắng
thầu xây dựng công trình đó.
Theo quan niệm này, mới chỉ xem xét sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
xây dựng tham gia đấu thầu xây dựng một công trình nhất định mà cha chỉ ra đ-
ợc sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong suốt quá trình sản xuất
kinh doanh, tham gia nhiều công trình đấu thầu khác nhau và các đối thủ cạnh
tranh cũng khác nhau. Vì thế mà nếu theo quan điểm này thì sẽ gặp rất nhiều
khó khăn trong việc xây dựng chiến lợc cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp.
+ Theo nghĩa rộng: cạnh tranh là quá trình đấu tranh gay gắt giữa các
doanh nghiệp xây dựng nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi và thế mạnh cho
mình so với các đối thủ cạnh tranh.
Theo quan điểm này, sự cạnh tranh đợc xem xét rộng hơn cả về không
gian và thời gian. Sự cạnh tranh không chỉ bó hẹp trong một số nhà thầu và thời
gian diễn ra một cuộc đấu thầu mà là cả quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp xây dựng muốn tồn tại đợc
trong thị trờng cạnh tranh thì phải có một cách nhìn toàn diện hơn và phải xây
dựng cho mình một chiến lợc cạnh tranh hợp lý ở mọi thời điểm, đảm bảo cho
10
doanh nghiệp luôn chủ động trong thị trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt và
đầy biện động.
1.3 Tính tất yếu phải nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
xây dựng.
Cũng nh các doanh nghiệp trong các ngành khác, các doanh nghiệp xây
dựng tồn tại trong thị trờng cạnh tranh phải xác định cho mình một vị trí nhất
định, chiếm lĩnh một phần thị trờng nhất định. Sự tồn tại của các doanh nghiệp
xây dựng luôn bị các đối thủ khác bao vây. Vì vậy, để tồn tại doanh nghiệp xây
dựng phải luôn luôn vận động, phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh nếu
không doanh nghiệp sẽ bị cạnh tranh đào thải. Mặt khác, nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp còn xuất phát từ các yếu tố sau:
+ Yêu cầu ngày càng cao của chủ đầu t không chỉ về chất lợng, tiến độ thi
công, giá cả thấp, mà cả về mặt đảm bảo duy t bảo dỡng công trình ngày càng
cao. Các công trình trong tơng lai ngày càng hiện đại hơn, phức tạp hơn. Vì thế
đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có những cải tiến đổi mới nhất định để nâng cao
năng lực của mình mới có khả năng đáp ứng đợc những đòi hỏi này.
+ Do sự phát triển của khoa học công nghệ, kỹ thuật trong xây dựng đòi
hỏi các doanh nghiệp xây dựng đẩy nhanh quá trình áp dụng công nghệ mới vào
sản xuất, tăng cờng tự động hoá để giảm chi phí đầy nhanh tốc độ thi công,
nâng cao chất lợng công trình, có khả năng xây dựng các công trình phức tạp về
mặt kỹ thuật và lớn về mặt quy mô.
+ Do đặc điểm của sản xuất xây dựng là liên quan đến nhiều ngành có giá
trị văn hoá, xã hội, quốc phòng cao. Hơn nữa, giá trị một công trình xây dựng
thờng là rất cao. Do đó, trong xây dựng không cho phép có phế phẩm. Vì thế,
đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải nâng cao năng lực mới có thể tạo ra đ-
ợc những công trình có chất lợng cao.
Nh vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng
trong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu tất yếu khách quan vừa là để giành
thắng lợi trong cạnh tranh, vừa là để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế.
11
1.4 Vai trò của cạnh tranh trong xây dựng
Cạnh tranh trong xây dựng một mặt tạo nên động lực phát triển ngành xây
dựng nói riêng àầ kinh tế nói chung. Một mặt nó là cách hữu hiệu nhất để tối
đa hoá lợi nhuận và lợi ích của cả ngời cung cấp (doanh nghiệp xây dựng) lẫn
chủ đầu t. Điều này đợc thể hiện qua các vai trò sau:
* Đối với các chủ đầu t
+ Thực hiện có hiệu quả yêu cầu về xây dựng công trình, tiết kiệm vốn đầu
t xây dựng cơ bản, thực hiện đúng tiến độ thi công.
+ Tăng cờng quản lý vốn đầu t, tránh lãng phí vốn.
+ Đảm bảo quyền chủ động, tránh đợc tình trạng phụ thuộc vào nhà xây dựng
công trình.
+ Thúc đẩy nâng cao trình độ và năng lực đội ngũ cán bộ kinh tế và kỹ thuật
của chính các chủ đầu t.
* Đối với các doanh nghiệp xây dựng
+ Phát huy đến mức tối đa tính chủ động trong việc tìm kiếm thị trờng .
+ Đầu t có trọng điểm nhằm nâng cao năng lực kỹ thuật và công nghệ.
+ Hoàn thiện các mặt quản lý, nâng cao năng lực của cán bộ quản lý tay
nghề của công nhân.
+ Thúc đẩy hiệu quả kinh tế, giảm chi phí, tăng lợi nhuận.
Bên cạnh những u điểm thì cạnh tranh cũng nảy sinh nhiều nhợc điểm nh
cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm pháp luật, ô nhiễm môi trờng.
2. Các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh ttranh của doanh nghiệp xây
dựng.
2.1 Nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
2.1.1 Chính sách của Đảng và Nhà nớc
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đã tham gia vào nền kinh tế dù có t cách
pháp nhân hay không đều phải hoạt động trong tầm kiểm soát của Nhà nớc bị
chi phối bởi các điều luật và quy định do Nhà nớc đặt ra. Hiện nay, thị trờng
xây dựng hoạt động dựa trên các nghị định, văn bản hớng dẫn và thông t hớng
12
dẫn của chính phủ với hai điều luật cơ bản nhất đó là Quy chế quản lý đầu t và
xây dựng ban hành kèm theo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999, Quy
chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và
các nghị định bổ sung nh 12,14/NĐ-CP ban hành ngày 5/5/2000. Ngoài ra, còn
có các quy định về mức giá, khung giá và các chế tài yêu cầu doanh nghiệp phải
tuân thủ. Chính những bó buộc này có ảnh hởng quan trọng đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp, nó quyết định doanh nghiệp có đợc phép hay không khi
tham gia vào các thị trờng, và điều kiện để tham dự vào các thị trờng đó cũng
nh những nguyên tắc phải tuân thủ trong các quá trình hoạt động.
Ngoài các quy định có liên quan tực tiếp đến lĩnh vực hoạt động của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp còn phải tuân theo các quy định về thuê mớn, an toàn lao
động, vật giá, quảng cáo, vệ sinh môi trờng. Mức độ ổn định của hành lang
pháp lý nói chung sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp yên tâm phát triển sản
xuất kinh doanh và ngợc lại, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi phải đối
diện với những thay đổi liên tục của Nhà nớc về các chính sách, làm suy yếu
sức cạnh tranh trong quá trình tham gia vào thị trờng.
Nh vậy, hoạt động của mỗi doanh nghiệp không chỉ chịu sự chi phối của các
quy luật thị trờng mà còn chiụ sự quản lý và sự can thiệp của Chính phủ thông
qua các chính sách và hệ thống pháp luật, Nó đóng một vai trò quan trọng đến
hoạt động của các doanh nghiệp nói chung cũng nh các doanh nghiệp xây dựng
nói riêng.
2.1.2. Đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với một
doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh quy định tính chất và mức độ tranh đua
hoặc thủ thuật dành thắng lợi trên thơng trờng. Mức độ cạnh tranh phụ thuộc
vào các yếu tố nh: số lợng các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng
trởng ngành, cơ cấu chi phí cố định, các nguyên tắc chiến lợc và những cản trở
khi rút lui. Sự hiện hữu của những yếu tố này có xu hớng làm tăng nhu cầu hoặc
13
nguyện vọng của doanh nghiệp muốn đạt đợc và bảo vệ thị trờng của mình và
làm cho sự cạnh tranh thêm gay gắt.
Cờng độ cạnh tranh tăng lên khi một doanh nghiệp xây dựng thấy có cơ hội để
củng cố vị trí trên thị trờng hoặc nhận thấy áp lực cạnh tranh từ phía các doanh
nghiệp khác. Cờng độ cạnh tranh đợc biểu hiện dới dạng các chính sách hạ thấp
giá bỏ thầu, các chiến dịch quảng cáo, việc áp dụng những giải pháp thi công
mới, máy móc công nghệ hiện đại, tăng cờng các dịch vụ khách hàng và bảo
hành sản phẩm. Với những đòi hỏi ngày một cao của thị trờng và sự vận động
theo xu hớng đi lên của các đối thủ cạnh tranh là một sức ép mạnh mẽ với
doanh nghiệp trong việc đổi mới các hoạt động của mình.
2.1.3 Thị trờng
Trong giới hạn của luận văn chúng ta sẽ chỉ xem xét thị trờng trên hai góc
độ là thị trờng các yếu tố đầu vào và thị trờng các yếu tố đầu ra của các doanh
nghiệp.
Thị trờng các yếu tố đầu vào
Các yếu tố đầu vào của một doanh nghiệp bao gồm nguyên vật liệu, máy
móc thiết bị, lao động, vốn kết hợp với nhau tạo ra sản phẩm là các công trình
xây dựng. Đảm bảo đúng số lợng, chất lợng, thời gian cung cấp các yêú tố đầu
vào là một yêu cầu rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp
cần phải thiết lập đợc mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức cung ứng.
Các tổ chức cung ứng vật t thiết bị có u thế có thể tìm kiếm lợi nhuận bằng cách
tăng giá, giảm chất lợng sản phẩm hoặc giảm mức độ dịch vụ đi kèm. Trong
những trờng hợp số lợng ngờ cung cấp ít, không có sản phẩm thay thế hay nhà
cung cấp không có thiện chí thì doanh nghiệp sẽ phải chịu một sức ép lớn về
đầu vào. Ngợc lai, nếu các nhà cung cấp có uy tín trên thị trờng quan tâm và đặt
quan hệ hữu hảo thì doanh nghiệp có thể nâng thế mạnh của mình trớc các chủ
đầu t bằng cách phấn đấu nâng cao chất lợng công trình, hạ thấp chi phí xây
dựng.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét