Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Một số giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tổng công ty Dệt May Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
A+ ý kiến thứ nhất cho rằng : Thực chất của cổ phần hoá là t nhân hoá
+ ý kiến thứ hai cho rằng đó là: Quá trình xã hội hoá DNNN
* Về ý kiến thứ nhất: Phải chăng cổ phần hoá là t nhân hoá
Cổ phần hoá đã đợc nhiều nớc trên thế giới tiến hành, nhng hầu hết quá trình
cổ phần hoá ở những nớc này đều xuất phát từ đờng lối kinh tế xã hội của mỗi n-
ớc, và chủ yếu do các nguyên nhân sau:
- Do thay đổi chế độ chính trị xã hội (nh các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông
âu trớc đây) dẫn đến sự thay đổi chế độ sở hữu về t liệu sản xuất từ công hữu
sang chế độ t hữu, vì thế thực chất của việc cổ phần hoá các DNNN là một bộ
phận của chủ trơng t nhân hoá về nền kinh tế.
- Do doanh nghiệp công (DNNN) vì sở hữu công cộng nên khó quản lý và
hiệu quả kinh tế thấp nên thực hiện chủ trơng t nhân hoá (nh Anh, Pháp )
- Để thu hút thêm vốn đầu t, tranh thủ công nghệ và phơng pháp quản lý
tiên tiến từ các nguồn trong và ngoài nớc, để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển
sản xuất nâng cao chất lợng, tăng sức cạnh tranh và mở rộng thị trờng
Chính vì vậy, các học giả nớc ngoài khi xem xét vấn đề cổ phần hoá DNNN
đều đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn đó là quá trình t nhân hoá.
Có hai cách hiểu về t nhân hoá: T nhân hoá theo nghĩa rộng và t nhân hoá
theo nghĩa hẹp. Liên hiệp quốc có đa ra định nghĩa về t nhân hoá theo nghĩa rộng:
T nhân hoá là sự biến đổi tơng quan giữa Nhà nớc và thị trờng trong đời sống kinh
tế của một nớc theo hớng u tiên thị trờng. Theo cách hiểu này toàn bộ những
chính sách, luật lệ, thể chế nhằm khuyến khích, mở rộng và phát triển, khu vực
kinh tế t nhân hay các thành phần kinh tế quốc doanh, giảm bớt sự can thiệp trực
tiếp của Nhà nớc vào các hoạt động kinh doanh của các cơ sở, đơn vị kinh tế giành
cho thị trờng vai trò điều tiết đáng kể đều có thể coi là các biện pháp t nhân hoá.
Còn t nhân hoá theo nghĩa hẹp thờng để chỉ quá trình giảm bớt quyền sở hữu
Nhà nớc hoặc tự kiểm soát của Chính phủ đối với xí nghiệp. Việc đó có thể thông
qua nhiều biện pháp và phơng hớng khác nhau nhng phổ biến nhất vẫn là biện
pháp cổ phần hoá.
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
ở nớc ta, chủ trơng cổ phần hoá một số DNNN lại xuất phát từ đờng lối kinh
tế và đặc điểm kinh tế xã hội của nớc ta trong giai đoạn hiện nay: Xây dựng nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đang bố trí lại cơ cấu kinh
tế và chuyển đổi cơ chế quản lý cho phù hợp với đờng lối ấy. Đó là sự chuyển h-
ớng chiến lợc kinh tế xã hội của nớc ta, đó cũng là đặc điểm lớn nhất chi phối
quyết định mục đích, nội dung và phơng thức cổ phần hoá DNNN. Vì vậy thực
chất cổ phần hoá ở nớc ta là nhằm cơ cấu lại DNNN cho hợp lý và hiệu quả, còn
việc chuyển đổi sở hữu của Nhà nớc thành sở hữu của các cổ đông trong công ty
cổ phần chỉ là một trong những phơng tiện quan trọng để thực hiện mục đích trên.
Với sự phân tích trên có thể thấy sự khác nhau cơ bản giữa cổ phần hoá ở nớc
ta và qua trình t nhân hoá của các nớc trên thế giới nh sau :
+ Thực chất của t nhân hoá DNNN là bán một phần hay toàn bộ t liệu sản
xuất (tài sản) thuộc sở hữu toàn dân cho t nhân .
Còn cổ phần hoá ở nớc ta là việc Nhà nớc bán một phần hay toàn bộ giá trị t
liệu sản xuất (tài sản) trong một số doanh nghiệp cho các tổ chức t nhân (cổ đông
gồm các thành phần : Quốc doanh + tập thể; quốc doanh + t nhân; tập thể + t nhân;
quốc doanh + tập thể + t nhân) tức là chuyển từ sở hữu toàn dân sang sở hữu nhiều
chủ, thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, gọi là sở hữu hỗn hợp, chứ không
thuần tuý là t nhân hoá
+ Ngoài sự khác nhau căn bản nêu trên chúng ta còn thấy rằng cổ phần hoá
có đặc điểm là việc bán những DNNN nào và bán ở mức độ nào cho t nhân (Tỷ
trọng cổ phiếu phát ra) là do Nhà nớc quyết định nên cũng không sợ rằng chủ tr-
ơng cổ phần hoá rốt cuộc chính là t nhân hoá toàn bộ nền kinh tế Nhà nớc làm mất
định hớng xã hội chủ nghĩa.
+ Hơn nữa mục đích của t nhân hoá là tăng cờng khu vực kinh tế t nhân, còn
cổ phần hoá ở nớc ta nhằm mục tiêu bố trí lại cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi cơ
cấu quản lý cho phù hợp với đờng lối xây dựng nền kinh tế mà Đảng và Nhà nớc ta
đã đề ra
* Về ý kiến thứ hai :
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
Chúng ta vẫn hiểu xã hội hoá t liệu sản xuất thực chất là công hữu hoá t liệu
sản xuất dới hai hình thức: Sở hữu toàn dân và sở hữu tập thẻ. Còn cổ phần hoá
DNNN là việc chuyển tài sản từ một chủ sở hữu sang nhiều chủ sở hữu, nhng
không phải là xã hội hoá t liệu sản xuất bởi vì:
+ Trong công ty cổ phần sẽ hình thành sở hữu hỗn hợp, nghĩa là đồng sở
hữu chứ không xuất hiện khái niệm tập thể sở hữu
+ Đối với DNNN, chỉ có Nhà nớc là chủ sở hữu duy nhất đây là hình thức
xã hội hoá cao nhất. Nhng khi thực hiện cổ phần hoá thì thực chất Nhà nớc nhờng
toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu của mình cho nhiều chủ sở hữu bỏ vốn cùng
sở hữu. Do vậy chúng ta có thể khẳng định cổ phần hoá và xã hội hoá DNNN
không phải là hai phạm trù đồng nhất.
Tóm lại: Cổ phần hoá DNNN ở nớc ta về thực chất là chuyển từ hình thức
kinh doanh một chủ với sở hữu Nhà nớc sang hình thức công ty cổ phần với nhiều
chủ sở hữu (sở hữu của các cổ đông) nhằm cơ cấu lại DNNN cho hợp lý và hiệu
quả, thơng mại hoá mọi hoạt động của doanh nghiệp (chứ không phải theo mệnh
lệnh hành chính, cắt bỏ sự can thiệp trực tiếp của Nhà nớc vào hoạt động của
doanh nghiệp), luật pháp hoá tổ chức quản lý (theo luật công ty) trên cơ sở đó
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
II.Sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN
b 1. Vai trò và trực trạng hoạt động của DNNN hiện nay
DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nớc đầu t vốn thành lập và tổ chức quản lý,
hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh
tế xã hội do Nhà nớc giao, nó đợc coi là tổ chức kinh tế độc lập có t cách pháp
nhân đợc tự chủ, song toàn bộ vốn đầu t ban đầu do Nhà nớc quyết định và chính
phủ là chủ sở hữu.
Khu vực kinh tế Nhà nớc đóng vai trò là lực lợng chiến lợc nắm giữ những
khâu thiết yếu, an toàn cho ổn định xã hội và luôn sẵn có lực lợng bổ sung vào
những ngành những chơng trình dự án mà nhu cầu xã hội đang đòi hỏi nhng số
vốn lớn, vòng quay chậm, hệ số rủi ro cao, tỷ suất lợi nhuận thấp nên các thành
phần kinh tế khác không đủ sức hoặc không muốn đầu t. Tính chủ đạo của
DNNN xuất phát từ vị trí chiến lợc có khả năng chi phối đến môi trờng kinh tế xã
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
7
Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
hội, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác chứ không nhất thiết phải kinh doanh có
lợi nhuận cao hơn, DNNN không chỉ đóng vai trò định hớng mà còn phải chi phối
đợc các chính sách xã hội, tạo ra sự công bằng và tiến bộ, kiềm chế đợc khuynh h-
ớng độc quyền và tự phát của kinh tế thị trờng.
ở nớc ta, khu vực kinh tế Nhà nớc cũng đợc phát triển một cách nhanh
chóng, rộng khắp trong tất cả các lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng tuyệt đối trong nền
kinh tế, bất kể hiệu quả tích cực mà nó mang lại. Và sau chính sách đổi mới (năm
1986), nền kinh tế nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng, các DNNN (khu vực
xơng sống của nền kinh tế) đã biểu hiện nhiều nhợc điểm, kém hiệu quả, thậm chí
có nhiều doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, điều đó biểu hiện ở 3 yếu tố chính
sau:
-Về vốn hoạt động và phát triển: Các doanh nghiệp luôn trong tình trạng
thiếu vốn, dẫn đến phải ngừng sản xuất. Trong khi đó hiệu quả sử dụng đồng vốn
thấp, nguy cơ thất thoát vốn gia tăng, số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ tăng nhanh
trong vòng vài năm trở lại đây. Hiện nay, phần lớn các DNNN ở nớc ta có quy mô
nhỏ và hoạt động kém hiệu quả. Theo số liệu thống kê của Bộ tài chính, tổng số
vốn của Nhà nớc là 70.184 tỷ đồng, bình quân một doanh nghiệp là 11,6 tỷ đồng
tơng đơng với một doanh nghiệp loại nhỏ tại Thái lan, Đến nay vẫn còn 50 %
DNNN có số vốn dới 1 tỷ đồng, trong đó có tới gần một nửa số doanh nghiệp có
vốn dới 500 triệu đồng. Các doanh nghiệp có vốn từ 100 tỷ đồng trở lên chỉ chiếm
1,5 % tổng số doanh nghiệp. Vốn thực tế hoạt động của DNNN chỉ bằng 80% vốn
hiện có do kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi, tài sản mất mát kém phẩm chất
cha đợc xử lý. Riêng vốn lu động có 14.239 tỷ đồng và chỉ có 50% huy động vào
kinh doanh, còn 50% nằm lại ở thua lỗ, công nợ khó đòi. Các DNNN do quy mô
nhỏ, vốn ít không có khả năng đầu t thiết bị hiện đại, mở rộng sản xuất kinh
doanh nên yếu sức cạnh tranh trên thị trờng.
- Công nghệ lạc hậu, hệ thống máy móc thiết bị cũ nát cha đợc thay thế.
Trình độ công nghệ máy móc của các DNNN ở Việt Nam thấp xa so với các nớc
trên thế giới (từ 2 đến 3 thế hệ, cá biệt có công nghệ lạc hậu đến 5-6 thế hệ). Do
đợc hình thành nhờ vào các nguồn viện trợ của nhiều nớc khác nhau nên đại bộ
phận các DNNN áp dụng những loại công nghệ kỹ thuật khác nhau, điều này dẫn
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
đến tính đồng bộ thấp, hiệu suất sử dụng trang thiết bị không cao chỉ đạt khoảng
50 đến 60%.
-Trình độ quản lý của các doanh nghiệp còn thấp không theo kịp sự phát
triển của nền kinh tế đặc biệt là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Và đi cùng
với nó là một đội ngũ lao động đông đảo về số lợng nhng bất cập về chất lợng.
Cơ chế thực hiện sở hữu toàn dân trong các DNNN cha rõ ràng. Ngời đại
diện chủ sở hữu của DNNN cha đợc xác định cụ thể do đó dẫn đến tình trạng vô
chủ hoặc quá nhiều chủ trong các DNNN. Do không có sự phân biệt đầy đủ quyền
sở hữu trong các DNNN và quyền quản lý kinh doanh của giám đốc và tập thể ng-
ời lao động nên tài sản của Doanh nghiệp không đợc sử dụng có hiệu quả. Ngời
lao động cha thực sự gắn bó làm việc hết mình vì doanh nghiệp. Một số nhà quản
lý Nhà nớc cũng nh quản lý doanh nghiệp lợi dụng chức quyền bòn rút tài sản của
Nhà nớc làm giàu cho cá nhân.
Nh vậy, việc cải tổ hệ thống DNNN tại thời điểm hiện nay là hết sức cần
thiết, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cũng là để tạo sự
bình đẳng hơn nữa trong kinh doanh với các thành phần kinh tế khác. Song dù sao
đi chăng nữa thì tính chủ đạo của nền kinh tế vẫn không giảm sút, vì nó vẫn chiếm
giữ các ngành nghề mũi nhọn, then chốt của nền kinh tế, có khả năng chi phối
môi trờng kinh tế và môi trờng xã hội để đảm bảo tính ổn định của nền kinh tế.
2. Sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN
Từ thực trạng hoạt động của DNNN đòi hỏi chúng ta phải có giải pháp để cải
cách, lựa chọn để giải quyết đựơc 3 yếu tố cấu thành một thực thể kinh tế đó là :
vốn - công nghệ- quản lý. Trớc tình hình đó Hội đồng bộ trởng (nay là Thủ tớng
Chính phủ) đã ra quyết định 388/ HĐBT với mục đích sắp xếp lại các DNNN. Tuy
nhiên có thể thấy đó chỉ là giải pháp mang tính tình thế, cha triệt để. Tính tình thế
thể hiện qua giải pháp là giải thể và sát nhập các DNNN thua lỗ kéo dài. Nhng các
DNNN sau khi sát nhập chỉ là phép cộng đơn thuần về vốn lao động, còn trình độ
quản lý, công nghệ hầu nh không có gì thay đổi, đồng thời hình thức sát nhập của
doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ vào các doanh nghiệp khác gây gánh nặng và tình
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
9
Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
trạng ỷ lại Nh vậy cổ phần hoá DNNN là một giải pháp hết sức cần thiết để đạt
đợc 3 yếu tố trên.
* Truớc hết cổ phần hoá góp phần giải quyết những khó khăn về vốn,
nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của khu vực DNNN.
Hiện nay nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp là rất lớn, đảm bảo cho sự tồn
tại của chính bản thân doanh nghiệp và cho sự phát triển của nền kinh tế. Nhng lấy
ở đâu ra? Nhà nớc (ngân sách + ngân hàng) không thể và không nên tiếp tục cấp
vốn cho khu vực làm ăn kém hiệu quả. Dân chúng sẽ không bao giờ cho DNNN
vay vốn nếu DNNN không đợc cải tổ và có phơng án làm ăn tốt, có sức thuyết
phục. Còn nớc ngoài thì không bao giờ cho DNNN vay nếu giữ nguyên trạng.
Trong khi đó tiềm lực vốn trong dân và trong các tổ chức kinh tế xã hội là rất
lớn lại cha đợc tận dụng khai thác và sử dụng có hiệu quả cho sản xuất (theo kết
quả điều tra mức sống gần đây của Bộ Kế hoạch và Đầu t, Tổng cục thống kê thì
44% tiền để dành của dân chúng dùng để mua vàng và ngoại tệ, 20% mua nhà đất
và cải thiện điều kiện sinh hoạt, chỉ có 17% gửi tiết kiệm, phần lớn là tiết kiệm
ngắn hạn. Hơn nữa thị trờng vốn của Việt Nam còn phát triển chậm nên nguồn vốn
duy nhất mà DNNN có thể khai thác đợc hiện nay là nguồn tín dụng. Tuy nhiên
nguồn vốn này còn hạn chế. Việc cổ phần hoá các DNNN tạo điều kiện bán cổ
phần, thu hút đầu t của nhiều thành phần kinh tế, mở cửa cho việc đa đạng hoá sở
hữu. Công ty cổ phần có thể thu hút các nguồn vốn ở các quy mô rất lớn của các
ngân hàng đến các nguồn vốn nhỏ bé của các tầng lớp dân c, đầu t dài hạn gắn
trách nhiệm của ngời sở hữu với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty (trong phạm vi của vốn góp). Và điều quan trọng đó là hoạt động dới hình thức
công ty cổ phần, các doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ hoạt động, kết quả hoạt động
gắn liền với tiền vốn của bản thân những ngời lãnh đạo và ngời lao động trong
doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh thực sự gắn kết với thị trờng, lấy thị trờng là th-
ớc đo đánh giá kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Xuất phát từ yêu cầu đó
doanh nghiệp đều coi trọng vấn đề sử dụng vốn đầu t, luôn cân nhắc tỷ suất lợi
nhuận trên vốn thu đợc để thực hiện hay không thực hiện một hoạt động kinh
doanh. Với việc huy động đợc một lợng vốn, hiệu quả hoạt động kinh doanh không
ngừng nâng cao thì việc đổi mới nhng công nghệ lạc hậu là việc làm đơng nhiên .
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
10
Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
* Cổ phần hoá DNNN tạo điều kiện cho ngời lao động thực hiện quyền
làm chủ thực sự của mình đối với doanh nghiệp.
Trong công ty cổ phần quyền lợi và trách nhiệm của ngời lao động gắn bó
chặt chẽ với nhau, bởi mỗi ngời lao động trong xí nghiệp bằng vốn tự có của mình,
quỹ phúc lợi của doanh nghiệp đợc phân bổ đều có thể tham gia mua cổ phiếu tại
công ty. Họ cống hiến cho doanh nghiệp cũng chính vì lợi ích của họ. Điều này
xoá bỏ đợc t tởng ỷ lại vào Nhà nớc kích thích mọi ngời phát huy hết khả năng,
hăng say lao động.
Hơn nữa với việc góp vốn này, ngời lao động từ công nhân trực tiếp sản xuất
đến Giám đốc doanh nghiệp đều trở thành ngời chủ thực sự đồng vốn của mình và
đợc tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của doanh nghiệp với quyết tâm
và ý chí chung là gặt hái đợc hiệu quả cao nhất, tốt nhất.
* Cổ phần hoá còn có tác động tích cực đến việc cải tiến quản lý hiệu quả
hơn
Cổ phần hoá các DNNN hình thành các công ty cổ phần cũng có nghĩa là xác
định vai trò làm chủ thực sự của doanh nghiệp, cụ thể là Hội đồng quản trị, thay
mặt và chịu trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn, hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh với tất cả các cổ đông góp vốn. Hội đồng quản trị, là ông chủ thực sự
thay mặt cho các cổ đông chứ không phải ai khác, và hoạt động tích cực, không
ngừng sáng tạo cải tiến kỹ thuật, phơng pháp công nghệ và cả thủ thuật, biện pháp
kinh doanh có hiệu quả nhất. Đây cũng là biện pháp hạn chế các chỉ đạo vốn có
của một DNNN. Đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cho việc tách rời chức năng
quản lý sản xuất kinh doanh và chức năng quản lý Nhà nớc đối với các đơn vị kinh
tế, tạo thế chủ động cho ngời bỏ vốn đầu t, củng cố động lực cạnh tranh của nền
kinh tế.
* Bên cạnh đó cổ phần hoá các DNNN còn tạo điều kiện thuận lợi để cơ
cấu lại nền kinh tế.
Với việc cổ phần hoá các DNNN, mở rộng đa dạng hoá sở hữu, sẽ có thêm
điều kiện mới cho việc cơ cấu lại nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Từ đó
cũng có cơ sở kế hoạch hoá lại nền kinh tế dựa trên hai vế hết sức quan trọng là:
Động lực sở hữu của nhiều thành phần kinh tế và việc phân công lao động toàn xã
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
11
Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
hội theo các tác động của thị trờng cạnh tranh, đây cũng là cơ sở để điều chỉnh và
đổi mới quan điểm lãnh đạo, quản lý của Nhà nớc, xác định vai trò chủ đạo của
khu vực kinh tế quốc doanh trên, mũi nhọn chiến lợc, ngành chủ lực để thực hiện
vai trò điều tiết ngăn chặn khủng hoảng kinh tế hơn là bao sân quá rộng rãi nhiều
lĩnh vực ngành nghề, đầu t vốn, đa đến nhiều bấp bênh lỗ lãi. Đây chính là quá
trình cân bằng lại giữa sự can thiệp của Nhà nớc và sự điều tiết của thị trờng nhằm
tận dụng những u điểm của cơ chế thị trờng.
Việc cổ phần hoá các DNNN chính là nhằm chuyển giao các ngành nghề,
các lĩnh vực kinh doanh mà các thành phần kinh tế khác làm hiệu quả hơn nếu giữ
nó trong khu vực Nhà nớc. Cổ phần hoá sẽ cởi bỏ gánh nặng cho ngân sách Nhà n-
ớc, tạo dựng và củng cố nguồn lực của Nhà nớc do việc nâng cao hiệu quả và năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, cho phép nguồn thu của các doanh nghiệp đ-
ợc củng cố và gia tăng. Hơn nữa Nhà nớc còn thu đợc lợi ích từ phần vốn đầu t của
mình vào doanh nghiệp, từ đó cho phép Nhà nớc đầu t và phát triển, nâng cấp các
lĩnh vực xã hội, cũng nh nguồn lực để phát triển kinh tế. Thực hiện cổ phần hoá
DNNN giúp cho việc giảm nhanh số lợng DNNN vốn kém hiệu quả, tăng cờng khu
vực kinh tế t bản Nhà nớc, thúc đẩy công cuộc công nghiệp hoá - hiên đại hoá đất
nớc, để đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời nó cũng là tiền đề và triển vọng cho việc
hình thành các tập đoàn đa quốc gia trong nền kinh tế thế giới hiện nay.
Ngoài ra cổ phần hoá DNNN còn tạo ra môi trờng vừa cạnh tranh vừa tập hợp
theo xu hớng hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh chuyên ngành hay đa ngành có
thế mạnh về thị trờng, về vốn với mục đích ngày càng thu đợc lợi nhuận cao. Đồng
thời nó tạo một thói quen đầu t mới trong nhân dân đó là đầu t tài chính hơn là giữ
tiền hoặc gửi tiết kiệm.
Với việc phát triển của công ty cổ phần, tất cả mọi ngời đều có thể trở thành
các nhà đầu t thông qua việc mua cổ phiếu của các công ty cổ phần. Và ngời đầu t
có thể tự do lựa chọn công ty đầu t làm sao có lợi nhất, khi công ty làm ăn có lãi và
ngày càng phát triển thì cổ tức mà họ nhận đợc có thể cao hơn rất nhiều so với lãi
suất tiết kiệm, hơn nữa họ có quyền chuyển các cổ phiếu thành tiền mà không cần
phải chờ đến thời hạn thanh toán.
III. Các hình thức và quy trình tiến hành cổ phần hoá
DNNN
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
12
Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
1. Các hình thức cổ phần hoá
Việc tiến hành cổ phần hoá ở nớc ta đợc tiến hành theo 4 phơng thức chính
nh sau
+ Giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp, phát hành
cổ phiếu để thu hút thêm vốn, phát triển doanh nghiệp. Đây là phơng án hay đang
đợc khuyến khích áp dụng, nhất là đối với nhng doanh nghiệp kinh doanh tơng đối
hiệu quả
+ Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp. Phơng
thức này áp dụng khá phổ biến ở các DNNN.
+ Tách một công đoạn, bộ phận, dây chuyền sản xuất trong doanh nghiệp để
tiến hành cổ phần hoá trớc, rồi tiến hành cổ phần hoá dần những bộ phận còn lại.
Phơng thức này có u điểm là các doanh nghiệp tập dợt, làm quen với yêu cầu quản
lý của một doanh nghiệp cổ phần hoá trớc khi tiến hành cổ phần hoá toàn bộ doanh
nghiệp.
+ Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nớc tại doanh nghiệp để chuyển
thành công ty cổ phần. Đây là hình thức mới đợc đa ra trong nghị định 44/ CP
2. Quy trình tiến hành cổ phần hoá DNNN
Trong giai đoạn trớc, do cha có quy định cụ thể về quy trình cổ phần hoá
DNNN nên việc tiến hành cổ phần hoá đợc thực hiện bởi rất nhiều cơ quan khác
nhau với nhiều thủ tục phức tạp. Quá trình cổ phần hoá trớc đây mất rất nhiều thời
gian, có trờng hợp kéo dài từ năm này qua năm khác, gây lãng phí tiền của Nhà n-
ớc, mất ổn định trong sản xuất của doanh nghiệp. Đồng thời nó cũng gây tâm lý
của cán bộ công nhân e ngại không muốn cổ phần hoá.
Để khắc phục những thiếu sót trên, ngày 13/ 8/1996, Thủ tớng Chính phủ đã
ký quyết định số 548/TTg về việc thành lập các ban chỉ đạo cổ phần hoá DNNN.
Ban chỉ đạo Trung ơng cổ phần hoá có các nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản
sau: tham gia chỉ đạo cổ phần hóa ở các doanh nghiệp có vốn Nhà nớc trên 1 tỷ
đồng và ở các doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty thành lập theo quyết định
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
13
Luận văn tốt nghiệp Khoa QTKDCN&XDCB
số 91/ TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tớng Chính phủ (gọi tắt là Tổng công ty 91).
Ban chỉ đạo cổ phần hoá Trung ơng cổ phần hoá còn có nhiệm vụ hớng dẫn các
Bộ và địa phơng thực hiện cổ phần hoá ở các doanh nghiệp đã đợc phân cấp; trình
Thủ tớng chính phủ phê duyệt các phơng án cổ phần hoá đối với những doanh
nghiệp có vốn Nhà nớc trên 10 tỷ đồng, hớng dẫn các chủ trơng, chính sách của
Đảng và Chính phủ về cổ phần hoá, ban hành quy trình cổ phần hoá. Ngoài ra ban
chỉ đạo Trung ơng cổ phần hoá còn có quyền đình chỉ các Bộ, địa phơng thực hiện
cổ phần hoá không đúng với chỉ đạo của Chính phủ; kiểm tra công tác cổ phần hoá
ở các Bộ, địa phơng và doanh nghiệp.
Để thực hiện nhệm vụ đợc giao, Chính phủ đã ban hành công văn số 3395/
VPCP-ĐMDN ngày 29/8/1998 hớng dẫn quy trình chuyển đổi DNNN thành công
ty cổ phần. Quy trình này đợc thực hiện qua 4 bớc sau :
Bớc 1 : Chuẩn bị cổ phần hoá
Các DNNN trong danh sách cổ phần, thành lập ban đổi mới quản lý doanh
nghiệp và chuẩn bị các điều kiện để tiến hành cổ phần hoá
Bớc hai : Xây dựng phơng án cổ phần hoá
Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp tổ chức kiểm kê và phân loại tài sản,
vật t, tiền vốn, công nợ của doanh nghiệp, phối hợp với các cơ quan quản lý vốn,
giải quyết những vấn đề vớng mắc về tài chính và dự kiến giá trị thực tế của doanh
nghiệp.
Bớc 3 : Phê duyệt và triển khai công tác thực hiện cổ phần hoá
Thủ tớng Chính phủ các bộ, UBNN tỉnh duyệt phơng án và quyết định
chuyển DNNN thành công ty cổ phần tuỳ theo giá trị của doanh nghiệp. Ban đổi
mới tại doanh nghiệp thực hiện những công việc nh: mở sổ đăng ký mua cổ phiếu
của các cổ đông, đăng ký mua tờ cổ phiếu tại kho bạc Nhà nớc.
Bớc 4 :Ra mắt công ty cổ phần, đăng ký kinh doanh.
Giám đốc, kế toán trởng doanh nghiệp với sự chứng kiến của ban đổi mới
quản lý tại doanh nghiệp và đại diện cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nớc bàn
giao cho Hội đồng quản trị của công ty cổ phần. Danh sách lao động, tiền vốn tài
sản, và toàn bộ hồ sơ tài liệu, sổ sách của doanh nghiệp đăng ký với sở Kế hoạch
và đầu t Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính.
Sinh viên:Phạm Thị Thanh Huyền
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét